วันจันทร์ที่ 24 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No449:Những động thái khác lạ liên quan tới Giáo hội Việt Nam!

Những ngày qua, sự kiện Tam Toà như lắng lại. Người am hiểu tình hình thì liền đưa ra nhận định rằng đây chỉ là một sự lắng dịu giả tạo. Trong thực tế, những động thái gần đây của nhà cầm quyền Hà Nội, được các cơ quan truyền thông một chiều toa rập, đang gây ra những quan ngại cho những người đã từng can đảm đấu tranh cho công lý và hoà bình.

1. Trước hết là sự kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thị sát Tân Rai, Bảo Lộc, Lâm Đồng. Sau đó, ông đến thăm Đức cha Chủ tịch HĐGMVN – Phêrô Nguyễn Văn Nhơn. Đây là lần thứ hai ông thủ tướng “hạ cố” tới thăm Đức Giám mục giáo phận Đà Lạt. Lần trước, ông bất thần tới thăm Đức cha Chủ tịch khi vụ Toà Khâm sứ – giáo xứ Thái Hà đang căng thẳng và lần này khi vụ Tam Toà đang sôi động.

Vấn đề là chương trình truyền hình thời sự VTV1, ngay tối 18/8/2008, đã cho phát rộng rãi bản tin này kèm theo hình ảnh vị Chủ tịch HĐGMVN cùng với một số cháu thiếu nhi người K’hor tươi cười bên cạnh thủ tướng.

Sự kiện thủ tướng Dũng tới thăm Tân Rai theo các nhà quan sát tình hình thì đó là một động thái chính trị nhắm cho toàn dân thấy sự đồng thuận cao trong Quốc Hội về vấn đề khai thác bauxite Tây Nguyên. Do đó, việc ông đến thăm Đức cha Chủ tịch và sự có mặt của các cháu thiếu nhi dân tộc K’hor cũng không ngoài dụng ý cho thấy có một sự đồng thuận cao ngay cả bên trong Giáo Hội nữa.

Ai cũng biết vụ bauxite Tây Nguyên đã và đang tiếp tục bị dư luận, trong đó có cả những vị chức sắc tôn giáo như Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, một số linh mục, các tu sĩ và giáo dân, bày tỏ sự phản đối bằng nhiều hình thức khác nhau. Do đó, việc thủ tướng hạ cố tới thăm Đức cha Chủ tịch thì chẳng phải là một sự quan tâm hay ưu ái gì. Thực ra, ông chỉ muốn lợi dụng và mượn hình ảnh của Đức cha Chủ tịch HĐGMVN và cũng là Giám mục giáo phận Đà Lạt nơi có mỏ bauxite Tân Rai, để nói với công luận rằng Giáo hội Việt nam cũng đồng thuận trong vụ khai thác bauxite Tây Nguyên. Bên cạnh đó, ông cũng muốn cho thấy giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam và chính quyền Việt Nam không có sự xung đột nào mà chỉ có những ai vi phạm pháp luật thì mới bị xử lý.

Đây quả thực là một ngón đòn nguy hiểm và hết sức thâm độc nhằm chia rẽ Giáo Hội và cố tình ngầm cho công luận thấy rằng Giáo hội Việt Nam ủng hộ việc bán đất, bán tài nguyên cho Trung Quốc, cũng như tiếp tục đi bên lề dân tộc.

Không biết vị Chủ tịch HĐGMVN có biết dụng ý thâm hiểm này của cộng sản hay không hay ngài cũng đang muốn mượn hình ảnh của thủ tướng để toan tính một điều gì khác mà ngài tưởng rằng có lợi cho Giáo Hội???

Sự thật thế nào, lịch sử sẽ trả lời.

Nhưng, cũng cần biết rằng, hình ảnh ông thủ tướng tươi cười đi bên Đức Tổng Giám mục Hà Nội khi vụ Toà Khâm sứ nổ ra và những lời hứa hẹn của ông với Đức Tổng đã được thực hiện thế nào sau đó thì ai cũng đã rõ. Hơn nữa, ai cũng biết bản chất của chính quyền cộng sản thì luôn là dối trá. Họ không bao giờ muốn Giáo Hội tồn tại. Do đó, thật ảo tưởng mà nghĩ rằng chính quyền Hà Nội quan tâm tới Giáo Hội và muốn Giáo Hội phát triển. Vì thế, cần phải hiểu rằng những người được chính quyền ưu ái thì không phải là chính quyền cộng sản yêu thương Giáo hội hay cá nhân vị đó mà thực ra vì họ nghĩ rằng họ lợi dụng được những con người đó cho mục tiêu đen tối của họ mà thôi.

2. Ngay sau khi lợi dụng hình ảnh của Đức cha Chủ tịch HĐGMVN tươi cười bên các cháu thiếu nhi dân tộc K’hor, để nói về sự đồng thuận giữa Giáo hội và xã hội trong vụ bauxite cũng như trong vấn đề tôn giáo, ngày 24/8/2008, hàng loạt các tờ báo lề phải như VietnamNet, Hanoimoi… đồng loạt lên tiếng đả kích mạnh mẽ các linh mục, tu sĩ – những người vốn kiên cường trong cộng đấu tranh cho công lý và sự thật.

Điều đáng nói là những vị linh mục bị các cơ quan truyền thông một chiều, dưới sự chỉ đạo của chính quyền Hà Nội, toa rập công kích cách vô lương tâm, thì lại là những vị linh mục đã được Đức cha Chủ tịch HĐGMVN bảo đảm trong công văn gửi ông Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội – Nguyễn Thế Thảo, rằng: “những linh mục này không làm gì vi phạm Giáo luật và pháp luật”.

Việc một số tờ báo lề phải bất thần mạnh mẽ kết án các linh mục đang đấu tranh cho công lý và sự thật, nhất là các linh mục tại Thái Hà, khiến những người có lương tri e ngại về một cuộc đấu tố mới, độc ác hơn, thâm hiểm hơn. Lần này, họ không dùng quần chúng tự phát, con nghiện, các tổ chức xã hội như thói quen vẫn làm, mà dùng chính hình ảnh của Đức cha Chủ tịch để đấu tố các linh mục công Giáo ngay trong Năm thánh linh mục.

Đây là một đòn thâm hiểm, nhưng lại là cái hay để HĐGMVN, nhất là cá nhân Đức cha Chủ tịch phải chính thức lên tiếng nêu lập trường của Giáo hội về các vấn đề đã xảy ra và đang xảy ra: tại Thái Hà trước đây, tại Tam Toà hiện nay và vấn đề bauxite Tây Nguyên. Chắc chắn, ngài sẽ không im lặng nữa và càng không thể im lặng để chính quyền sử dụng hình ảnh của mình vào những mục đích không minh bạch và nhất là dùng hình ảnh của mình để đấu tố các linh mục là con cái của ngài.

Chưa biết sự thể thế nào?

Trong khi chờ đợi những động thái tiếp theo của nhà cầm quyền Hà Nội, thì cũng cần nhắc nhau điều này: “Con cái thế gian thì khôn ngoan hơn con cái sự sáng”. Nhưng không có sự thật nào là không bị phơi bày. Chỉ só sự thật mới giải thoát và đem lại hạnh phúc lâu bền cho xã hội, Giáo hội và cho con người.

24/8/2009
An Dân

No448:Câu chuyện thời sự: Ai tự thú vậy? Ai cần xin ân xá?

Gần đây công an và tuyên giáo Hà Nội bày ra trò các nhà dân chủ bị bắt vào tù lần lượt xuất hiện trên vô tuyến truyền hình và trên báo của nhà nước, với những lời thú tội theo như ý muốn của họ là: đã hoạt động chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chế độ hiện hành, vi phạm pháp luật, do non nớt, dại dột, bị lôi kéo, nay hối cải, xin được khoan hồng và ân xá để trở thành công dân tốt(!), người lương thiện(!). Họ đều đọc như máy, nói như vẹt !

Đây là trò hề rất cũ, đã được thi thố quá nhiều, bị thất bại nặng nề, nhưng trong bế tắc họ vẫn cứ đưa ra dùng, vì nhân dân ta vẫn còn có người lầm lẫn.

Họ học ở đâu? Công an cộng sản, tuyên giáo cộng sản học từ nguồn phát xít Hitle, với những mưu thâm của Gơben, tuyên truyền lắp đi lắp lại mãi gây vết hằn sâu trong não, điều giả dối nhất rồi cũng thành y như thật.

Họ học chủ yếu là ở đâu những thủ thuật ma giáo ấy? Ngay từ năm 1950, từng đoàn cán bộ công an và tuyên giáo nô nức sang Nga sang Tàu, theo dõi các trại cải tạo, các lớp chỉnh huấn, các cuộc đấu tố "phản cách mạng", thụ huấn trong các trường, lớp cao cấp, trung cấp, tiếp thu tận gốc những lý luận của các tổ sư Béria và Khang Sinh trong cái nghề đàn áp và khủng bố nhân dân, với những kho kinh nghiệm được tổng kết chuyên sâu và còn cho thực hành thử nghiệm.

Cái nghề an ninh và tuyên giáo cộng sản chính hiệu có thể tổng kết trong các thủ thuật - đánh vào cuộc sống. Từ đơn giản. Không cho uống nước, không cho ăn, không cho nằm (đứng suốt ngày), không cho đi lại (phòng quá chật), không cho ánh sáng, hoặc quá nhiều ánh sáng (đèn pha cực mạnh chiếu vào gáy) ...

- Tùy từng tính cách cá nhân đối tượng mà lập phương án tấn công: Yêu vợ con mong tin vợ con (phao tin nhảm, vợ ngoại tình, con hư hỏng, bố mẹ ốm nặng ...) để gây lo nghĩ, hoang mang; tuỳ sở thích cá nhân, ưa thuốc lá gì (Cotab hay Philip Morris hay thuốc lào) ; rượu gì (Cognac hay bia, hay rượu đế) để mua chuộc, "khuyến khích" khi cần;

- Tuỳ tính tình mà đánh vào chỗ yếu - như ưa xu nịnh, ưa danh vọng, ưa hưởng lạc, tiền bạc, so sánh người này với người khác, khơi dậy những suy tính, kèn cựa nhỏ nhen ...

- Giăng bẫy, như trong chỉnh huấn cán bộ cao cấp, họ đưa ra vài anh được bồi dưỡng kỹ rồi đưa lên báo cáo điển hình ( kể lể lu bù : con địa chủ, ăn chơi trác táng từ nhỏ, tàn ác với người ở, lừa thày phản bạn, dâm ô hủ hóa, kèn cựa địa vị, cầu an bảo mạng, mỗi tội đều có tình tiết giật gân như trong tiểu thuyết, trong phim ảnh, hay như bản nhận tội với cha cố; cuối cùng bao giờ cũng khóc, khóc nấc lên, cả hội trường cùng sụt sùi; và kết luận : tôi là đồ rác rưởi trong xã hội, đồ sâu bọ, đồ bỏ đi, đồ ăn hại, đồ phản động, đáng tội chết, may nhờ có đảng giang tay ra cứu, tôi đội ơn suốt đời và tự nguyện lập công chuộc tội ....)

- Cho đi tàu bay giấy : để tác động đến mọi người, ban chỉ đạo chỉnh huấn, cải tạo liền ca ngợi, biểu dương, tâng bốc những điển hình trên là : cải tạo rất tốt, gương mẫu trong phản tỉnh, thành khẩn để tự chiến thắng, thắng lợi quyết định trong cả cuộc đời, rồi ca ngợi là "Chân Anh hùng" - anh hùng chân chính, không phải ngụy-anh hùng (!), "Chân Quân tử", thế mới là đảng viên CS chân chính, tin ở đảng vĩ đại (!), tin ở các lãnh tụ Mác, Lênin, Staline, Mao, Hồ ...Thế rồi họ được tặng "ảnh Bác", được "Bác" gửi lời ban khen, được quàng vòng hoa, được mời lên ngồi ghế danh dự!

Thế là cả lớp học lên đồng tập thể, tự "vỗ ngực đôm đốp", cố lập công về "phản tỉnh", cố đạt kỷ lục về "thành khẩn". Không có cũng cố nghĩ ra, tưởng tượng ra, sáng tạo ra tội giật gân nhất, thường là tội về "hủ hoá": tán tỉnh cô này, sờ vú cô nọ, rủ gái nông thôn ra bãi dâu, bên đụn rạ; có khi còn ly kỳ hóa phịa ra ý định đầu hàng địch, bỏ ngũ để vào địch hậu, nói xấu lãnh đạo và lãnh tụ...

Tôi còn nhớ hồi 1953-1954, trong quân khu V giải ra quân khu IV ở Vinh viên tư lệnh phó quân khu cấp tướng; ông ta là trí thức, trong chỉnh huấn, trót tự đấm ngực để cố tỏ ra thành khẩn, tự khai có "ý tưởng"(!) đem một số quân vào vùng địch đầu hàng. Chỉnh huấn xong, ông ta bị an ninh và bảo vệ đảng tra hỏi, tra tấn cực hình, không khai nổi vì chuyện thật ra không hề có, thế là cứ thế mà ngồi tù không án, chết rụi trong một xó xỉnh nào không ai hay! Chuyện có thật 100%.

Cái trò hề tự thú và xin ân xá mới đây vẫn là chung một nguồn trăm nghìn trò hề đã diễn ra, từ an ninh và tuyên giáo cộng sản, chỉ khác là khi đảng CS đã suy tàn, hết linh thiêng, từ gốc gác, cội nguồn, từ "thuỷ tổ" đến các "thần linh" và lãnh tụ thảm hại tuốt luốt của họ. Lẽ ra phải xếp những trò hề ấy vào chỗ kín.

Thời buổi văn minh hiện tại, khi minh bạch công khai trở thành nếp sống của mọi công dân lương thiện và chính quyền lương thiện, cuộc tự thú và xin khoan hồng chỉ có giá trị khi các đương sự được hoàn toàn tự do và tự chủ - không có bất cứ một sức ép nào - tuyên bố công khai trước đại biểu chính quyền, trước đại biểu gia đình, bạn bè, trước các nhà báo (báo nói, báo viết, báo ảnh ...) trong và ngoài nước. Chỉ khi ấy mỗi lời tự thú và xin khoan hồng nếu có mới có giá trị hoàn toàn.

Việc xử án cũng vậy. Nhất thiết phải công khai, minh bạch, có đại biểu nhân dân, gia đình, các nhà báo trong và ngoài nước, có luật sư biện hộ, cho các đương sự phát biểu hết ý kiến, như ở mọi phiên toà bình thường ở mọi nước dân chủ. Hãy chờ xem. Họ chúa sợ ánh sáng của công khai, sự thật.

Các cuộc tự thú và xin ân xá tiền chế rất dơ dáng và lạc lõng vừa qua xin trả lại để cho vào kho tàng tội ác của chủ nghĩa CS hiện thực đang bị cả loài người văn minh lên án.

Nó chỉ có ý nghĩa duy nhất là sự tự thú trên thực tế của một chính quyền cộng sản toàn trị lạc lõng đã "quá đát ", đã thuộc về dĩ vãng của loài người , nhưng vẫn còn cố tồn tại như một thách thức láo xược với lương tri và lẽ phải.

Lẽ ra chính quyền toàn trị tệ hại phải tỏ lời ăn năn hối cải rồi xin ân xá với nhân dân, với lịch sử, với tiền nhân, với các nhà dân chủ ... về vô vàn đau khổ, mất mát, bất công họ đã gây ra! Chỉ có vậy mới là công bằng, là đúng đắn, là tối ư cần thiết và cấp bách!

Paris, 24-8-2009

วันอาทิตย์ที่ 23 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No447: Bức Tường Berlin

http://www.blogosin.org/?p=993

August 23 2009



Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.



Huy Đức

No446:Nên để việc đó cho chiếc cân !

Cách đây chưa đến 20 năm những người đi chợ thường khổ sở về chuyện cân đo hàng hóa khi mua bán. Hàng hóa khan hiếm làm tăng thói « buôn gian bán lận », « cửa quyền », « hống hách » của người bán hàng. Những gian thương thường sử dụng những chiếc cân sai lệch (không đúng tiêu chuẩn đo lường và dĩ nhiên phải có lợi cho người bán) hoặc dùng những thủ thuật làm lệch cân khi cân hàng hóa để kiếm lợi bất chính. Gian thương có những cách cân như thế cũng thường là những người giỏi nài gọi, chèo kéo khách và luôn kèm thói dọa nạt, cưỡng ép những khách đã chót sa chân. Gian thương không bao giờ để cho khách kiểm tra cân hay tự cân lấy. Nhiều khách hàng biết là bị lừa nhưng trước sự bặm trợn, ầm ĩ, phiền phức giữa chợ, cũng đành chậc lưỡi mua « cho xong chuyện » với ý nghĩ sẽ « cạch đến già ». Nhưng cũng có những khách hàng không chấp nhận bị lừa và quyết « chống trả ». Gặp phải những người « đáo để » như thế, những gian thương thường cũng biết « tìm đường rút lui », để giành công sức cho những « con gà » khác dễ « xơi » hơn. Nhưng cũng có trường hợp dẫn đến xô xát và nghe nói có cả án mạng chỉ vì chuyện không « thuận mua, vừa bán ». Tuy nhiên, trong bối cảnh « gạo châu củi quế » như thế, vẫn có những người (tất nhiên không thể nhiều) buôn bán lương thiện, quyết lấy chữ tín làm lãi. Những người thiện thương luôn dùng những chiếc cân đúng tiêu chuẩn (quốc gia hoặc quốc tế), sẵn lòng chiều khách trong việc cân đo hàng hóa và luôn vui vẻ để khách tùy ý quyết định. Những cửa hàng như thế thường lặng lẽ nhưng tấp nập, lời mời chào (nếu có) luôn nhã nhặn, ôn tồn và tuyệt không có lời chèo kéo hay to tiếng.

Việc cân đo hàng hóa (những vật có thể sờ mó được) còn tế nhị và nan giải đến thế thì việc cân đo công lý - phán xét đúng-sai, thật-giả, chắc chắn càng không đơn giản hơn. Chưa chắc chiếc cân công lý đã được đảm bảo đúng tiêu chuẩn. Chưa chắc những người cầm cán cân công lý đã là người tôn trọng sự thật. Nhất là trong hiện trạng công lý đã khan hiếm đến độ có cả dịch vụ « chạy án » thì việc tìm được công lý sẽ phải khó khăn gấp bội. Những nài gọi, chèo kéo, tán tụng, bặm trợn cho thứ « công lý » rởm luôn huyên náo, ồn ào trong xã hội cũng là điều chẳng lạ. Nhưng Công lý đâu cần nhiều đến ngôn từ. Biểu tượng nhân cách hóa của Công lý (theo triết lý phương Tây) là một nữ thần bị bịt mắt, nét mặt bình thản, miệng khép, với một bàn tay giơ lên chiếc cân có hai đĩa ngang bằng và bàn tay kia nắm đốc kiếm. Trong các định chế tư pháp ở Việt Nam như tòa án, bộ tư pháp hay hội luật gia cũng thấy thấp thoáng hình chiếc cân hai đĩa ngang bằng. Nhưng tịnh không thấy bất kỳ dấu hiệu hay biểu tượng nào cho âm thanh phán xét, sự hả hê hay hằn học của Công lý. Khi chiếc cân là chuẩn và người cầm cân là công tâm (bịt mắt) và nghiêm cẩn (tay nắm đốc kiếm) thì chỉ cần giơ chiếc cân cho « bách gia trăm họ » « mục sở thị » là đủ biết bên nào nặng bên nào nhẹ, bên nào đúng bên nào sai, đâu là sự thật đâu là giả dối. Còn khi cân đã không chuẩn và người cầm cân chỉ là đệ tử của phường danh lợi thì mọi lời tán dương kẻ cầm cân hay bài bác nạn nhân, có dụng công đến mấy, cũng chỉ làm cho sự gian trá thêm phần lố bịch. Huống hồ khi chưa ai được quyền phán quyết mà các màn phụ họa tán dương và bài bác đã ầm ĩ thì thật khôi hài.

Một nhà nước biết tôn trọng pháp luật không bao giờ hằn học khi bất lực với nghi can và càng không bao giờ tỏ vẻ hả hê khi có được lời thú tội. Nếu không chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là đã có một công dân chắc chắn biết tuân thủ pháp luật. Còn nếu chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là hệ thống pháp luật đã bị coi thường. Vậy tại sao phải hằn học khi pháp luật được tuân thủ và hả hê khi pháp luật bị coi thường? Và ngay lời thú tội của nghi can (nếu là sự thật) cũng không có giá trị quyết định cho việc kết tội[1]. Một nhà nước biết yêu quí công lý chỉ nên chú tâm để đảm bảo có một cán cân công lý hợp chuẩn quốc tế (hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp với các công ước, thông lệ có tính phổ quát toàn cầu) và đảm bảo có những người cầm cán cân công lý thật công tâm (không bị ảnh hưởng, chi phối bởi quan điểm chính trị, phe nhóm lợi ích, tôn giáo hay sắc tộc) và nghiêm cẩn (nguyện bảo vệ hiến pháp và pháp luật đến cùng). Một nhà nước quang minh, chính đáng không cần những màn phô diễn, chèo kéo ầm ĩ chỉ để chứng tỏ công lý thuộc về mình. Và cả khi muốn cứu lại sự chính đáng đã mất cũng không nên làm như thế. Nên để việc đó cho chiếc cân công lý. Nhưng xin nhớ Công lý không bao giờ liên quan tới đổi chác hay mua bán.

Phạm Hồng Sơn

23/08/2009

วันเสาร์ที่ 22 สิงหาคม พ.ศ. 2552

Np445: Bài phát biểu của một du sinh trong lễ hiệp thông cầu nguyện cho giáo xứ Tam Tòa tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ

Là một người sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, được nuôi dạy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, trong suốt mười chín năm đó, tôi không hề biết đến những bất công, đàn áp ở Việt Nam mà trong lòng luôn tin rằng mình sống trong một đất nước tôn trọng tự do nhân quyền như những điều luật trong hiến pháp Việt Nam. Đó cũng chính là những điều tôi được dạy dỗ trong suốt mười hai năm cắp sách đến trường.

Khi đặt chân đến đất Mỹ và lần đầu tiên được nghe nói đến những bất công, bạo quyền ở Việt Nam, việc Việt Nam đã và đang đàn áp tôn giáo và tước đoạt tự do nhân quyền, tôi đã chuyển từ bất ngờ, kinh ngạc sang căm phẫn và chợt sực tỉnh nhận ra rằng cái chế độ tôi luôn tưởng rằng hòa bình, êm ấm bấy lâu nay chỉ là cái vỏ bọc không hơn không kém của sự dối trá mà nhà nước đã tạo ra. Những sự thật khủng khiếp luôn luôn được che đậy và bóp méo một cách tài tình để phần phải luôn luôn thuộc về những kẻ làm luật và thi hành luật còn phần lỗi luôn thuộc về những người dân vô tội, những con người thấp cổ bé họng mang trong mình khát vọng tìm lại tự do và công lý.

Một điều đáng buồn là ở Việt Nam, chỉ có những người trực tiếp bị đàn áp mới hiểu được những áp bức, bất công; còn những người dân khác thì làm sao có thể biết được sự thật một trăm phần trăm khi mà những thông tin được tung lên các phương tiện thông tin đại chúng đã bị bóp méo đề phục vụ cho lợi ích của nhà nước Việt Nam và cũng là để tránh kích động lòng dân. Đơn cử là việc vừa xảy ra tại giáo xứ Tam Tòa. Mọi thông tin được đưa ra về giáo xứ Tam Tòa đã bị bóp méo một cách trắng trợn. Những cha, những sơ, những con người đang ra sức bảo vệ giáo xứ, bảo vệ những giáo dân và phần hồn linh thiêng của mình lại trở thành những kẻ phản nghịch trên mặt báo Việt Nam.

Khi theo dõi tin tức của giáo xứ Tam Tòa, nếu việc các cha và những người giáo dân lương thiện bị đàn áp khiến tôi phẫn nộ thì có một sự việc khiến tôi đau xót vô cùng. Đó là việc một cô bé mười mấy tuổi mặc áo trắng đi học về bị một lũ công an đội lốt côn đồ không chỉ đánh đập em bầm tím mà còn trấn lột điện thọai của em vì nhầm tưởng rằng em là một trong những người đi lễ. Đã từ lúc nào việc một người dân đi lễ lại trở thành một cái tội? Đã từ lúc nào một người dân tỏ lòng thành kính tín ngưỡng của mình lại trở thành một kẻ tội phạm để đến nỗi bị đánh đập dã man? Đó không phải những gì được nêu ra trong hiến pháp Việt Nam vì Việt Nam luôn tự nhận rằng mình là một đất nước tôn trọng dân chủ và nhân quyền. Những sự thật kinh khủng đó khó có thể đến được hết với tất cả những người dân đang sinh sống ở Việt Nam.

Trong sự áp bức đó, những người dân ở Tam Toà đang cùng nhau hợp sức đấu tranh. Và chúng ta, những con người đang sống trong một đất nước tự do, không bị bó buộc bởi những đạo luật phi lý như ở Việt Nam phải cùng nhau làm một cái gì đó để cất tiếng nói, giành lại công bằng và chân lý cho đồng bào mình ở Việt Nam đang bị tước đoạt quyền sống của một con người theo đúng nghĩa. Tôi hy vọng rằng những ngọn nến chúng ta thắp lên hôm nay sẽ thắp sáng cho con đường đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền cho những người dân ở Tam Toà nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung.

Ngoc Lan

I was born and raised under a communist regime in Vietnam for 19 years before I came here. What was related to me about the communist system which I was taught in school was completely different from what really happened in my hometown. In my mind, I never thought that the Vietnamese government restricted freedom of expression, association and religious practice because these are stated in the Vietnamese law. 4 years ago, when I heard about human right, freedom in speech, religion, I did not know those problems were happening inside of Vietnam. What I have learned does not paint a clear picture about what happened to my beautiful land until I came to America, where I had a chance to have the appropriate view about the Vietnamese society. It was the first time I had known the battlefield between the Vietnamese government and the people who were fighting for their freedom of religion. I was really disappointed knowing that freedom of religion and human right, the right for people to live as human beings does not exist in Vietnam. And I was really disappointed finding out that the Vietnamese government has been distorting the facts in the newspapers and TV channels so that millions of people in Vietnam do not know what really happen in their country.

The battlefield in Tam Toa was again the land dispute between Tam Toa parish versus the local government. And yes, this happens again after what happened in Thai Ha, Ha Noi last year. The Catholics in Tam Toa were accused and charged for having erected a tent to use as a chapel in front of the ruins of Tam Toa church. Despite the violent attacks of the government, thousands of Catholics in Tam Toa have assembled to pray and urge for their rights making this protest one of the largest ones that the Vietnamese Communist government has had to confront. However, the government has not listened to them. On the other hand, they repeatedly harassed silence protestors by using great mass of police, security forces, and even street gang members. As a result, many of our students, religious demonstrators in Vietnam are imprisoned. My heart was broken hearing the fact that a Vietnamese high school girl in Tam Toa, on the way home after school, was harassed and beaten by the Vietnamese police because they thought she was going to a Catholic mass. Why does going to a Catholic mass become a criminal offense? How come a person who has a religious belief is punished by the government? How can Vietnam while trying by all means to be recognized by the world as a civilized, democratic country, be at the same time denying our basic Human Rights to practice our religion and to own our home and our land?

I hope that together tonight we can light up the candles for Human Right and Religious Freedom for Vietnam as freedom of expression, association and religious practice continued to be restricted by the authorities. We would like to extend our greatest support to thousands of people in Vietnam who are fighting for Human Right and Religious Freedom. Our hope is to enhance your understanding about the current situation in Vietnam so that you can carry on the torch of freedom of speech and the right to own our homes and property in Vietnam where no one is allowed to report any governmental abuse of power and of its people. . The candles that together we are lighting up tonight are also lighting up our hope that will never die about the better future of Vietnam so that our people will not have to live in fear and be able to stand up to fight against injustice in the Communist regime.

No444:Lời Chức Mừng Của Một Thường Dân

Báo Dân Trí, số ra ngày 20 tháng 8 năm 2009, đi tin:

“Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Phương Nga làm người phát ngôn mới của cơ quan này, thay thế cho ông Lê Dũng, được luân chuyển công tác khác. Bà Nguyễn Phương Nga, sinh năm 1963, đã từng theo học ngành báo chí quốc tế tại Nga từ năm 1982-1987. Bà về công tác tại Bộ Ngoại giao từ đầu năm 1989 và hiện giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao.”

“Tại cuộc họp báo với tư cách là người phát ngôn của bộ Ngoại giao Việt Nam vào chiều ngày hôm nay 20/8, bà Nguyễn Phương Nga hi vọng nhận được sự ủng hộ, hợp tác của các cơ quan báo chí Việt Nam, các hãng thông tấn nước ngoài tại Việt Nam và các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam như đối với người tiền nhiệm của bà.”

Tôi thực vô cùng lấy làm tiếc là sẽ không có cơ hội để “ủng hộ” hay “hợp tác” với người phát ngôn mới của bộ Ngoại giao Việt Nam, như bà Nguyễn Phương Nga hy vọng. Lý do (giản dị) chỉ vì tôi không phải là một thành viên của các cơ quan báo hay các hãng thông tấn trong và ngoài Việt Nam. Tôi cũng không làm việc cho bất cứ cơ quan đại diện ngoại giao nào ráo.

Với tư cách là một công dân lão hạng, một người lớn tuổi hơn bà Nga và đã chứng kiến cung cách làm việc của những vị phát ngôn viên tiền nhiệm, tôi cũng xin được gửi lời chúc mừng bà Nga ở chức vụ mới. Và nhân dịp này cũng xin mạn phép được chia sẻ với bà vài câu chuyện (nhỏ) có liên quan đến công tác mà bà sắp đảm đương, vào những ngày tháng tới.

Tôi nghe kể lại là bà Phan Thúy Thanh, khi còn tại chức, nuôi một con két tuyệt đẹp và nói rất sõi. Có hôm, chả may, nó xổ lồng bay mất. Bà ấy nhờ báo đăng tin để tìm lại con vật qúi. Báo chưa in xong, đã thấy có người đến gõ cửa.

Hỏi: Sao anh biết là con vẹt này của tôi.

Đáp: Nó chối leo lẻo suốt ngày nên nhà cháu biết ngay là của bà chứ còn ai vào đây nữa.

Sau đó bà Phan Thúy Thanh rao bán con két để lấy tiền tiêu, bù vào số lương hưu hơi (bị) thấp. Có người mua được, thích lắm, hí hửng mang về giao ngay cho vợ rồi tiếp tục đi làm. Chiều về, đương sự hấp tấp hỏi ngay:

- Con két mua ban sáng đâu rồi.

- Ở trong lò chứ đâu.

- Ối Giời, con két mua cả ngàn đô la mà đem nướng à.

- Vẹt gì mà giá cả ngàn đô?

- Nó nói sõi lắm, và nói được mấy thứ tiếng cơ đấy.

- Thế mà ban nẫy gạn hỏi mãi nó vẫn cứ chối đây đẩy nên ai mà biết!

Dù con con két đã lìa đời và bà Thanh đã hết thời nhưng truyền thống nói dối và chối thì vẫn được kế tục bởi người kế nhiệm. Ngay sau khi nhận chức, khi bị chất vấn con số thương vong của người Thượng tại Tây Nguyên – sau cuộc nổi dậy, vào hôm Lễ Phục Sinh 10 tháng 4 năm 2004 – ông Lê Dũng, Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCNVN đã nói rằng:

“Hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”

Theo truyền thống ở ta, cứ “cực lực bác bỏ” – nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt – như thế là kể như … xong chuyện, và hết chuyện. Khỏi phải nói nhiều.

Riêng chuyện đổ máu ở Tây Nguyên (hồi đó) ngó bộ khó xong. Bởi vậy, mấy bữa sau, ông Phạm Thế Duyệt – Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc – trong một cuộc phỏng vấn dành cho vietnamnet.vn (vào ngày 17 tháng 4 năm 2004) đành phải nhận rằng:

“Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau” thôi. Ít xịt hà!

Ý Yàng ơi, coi kìa: Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, lũ lượt kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang, rồi “ném đá vào nhau” và ” ẩu đả lẫn nhau” cho … tới chết luôn – vậy cà? Nói (đại) như vậy mà nói được sao? Thằng chả, rõ ràng, nói láo!

Con két của bà Thanh đã lìa đời. Bà ấy thì cũng đã hết thời. Ông Phạm Thế Duyệt cũng như ông Lê Dũng cũng không còn tại vị. Kẻ phải đứng mũi chịu sào bây giờ chỉ có mỗi bà Nguyễn Phương Nga thôi. Trước cảnh “hoa lạc giữa rừng gươm,” tôi càng nghĩ lại càng ái ngại. Một lần nữa, ước mong bà Tân Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao gặp ít sự cố hơn, và nhiều may mắn hơn, trong những ngày tháng tới.

Thường Dân Tưởng Năng Tiến

วันพฤหัสบดีที่ 20 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No443: Thư ngỏ của người mẹ gửi một người mẹ

Kính gửi bà Trần Thị Lệ - mẹ luật sư Lê Thị Công Nhân

Khi đọc bài báo về chuyến thăm con gái của bà vào ngày 20 tháng 7/ 2009 trên báo Người Việt, tôi xúc động vô cùng. Ở vị trí một người mẹ, tôi không thể cầm lòng khi hình dung đứa con gái thân yêu, thiên thần của mình lại đang trong cảnh lao tù, sống cùng với những tội phạm hình sự: Sáu mươi người chung trong một phòng giam nhỏ, diện tích nằm nghỉ là 2 m X 0,8 m/người; bệnh tật mà lại phải tắm trần ngoài trời bằng nước giếng, bất kể tiết trời nóng nực hay giá lạnh…

Trong cuộc đời, gian khổ đã từng, con cái đã trưởng thành nhưng tôi không thể tưởng tượng nổi về cảnh ngộ “con bé” (1) của bà - một nữ luật sư còn trẻ tuổi, đầy năng động trong hoạt động chuyên môn, xã hội với một trái tim trong sáng, nhiệt huyết lại lâm vào hoàn cảnh như vậy. Trước mặt cô là cả một triển vọng sáng lạn về cuộc đời và sự nghiệp, thế mà chỉ vì đấu tranh cho dân chủ, tự do mà bị thế lực bảo thủ lỗi thời đang thống trị xã hội cản đường, hành hạ và đưa cô vào chốn lao tù…

Tôi viết thư này để thỏa được phần nào nỗi bức xúc của chính mình về sự việc ấy và cũng mong làm vơi đi đôi chút cho bà và tất cả những người mẹ đã có được những người con đáng tự hào mà rơi vào hoàn cảnh chớ trêu, như của sứ mệnh thời đại giao cho. Không thể chối từ, dẫu rằng thật lắm gian truân.

Tôi không làm nghề báo, nghề văn nên việc viết ra được những cảm xúc không phải là điều dễ dàng, nhưng có gì từ nơi sâu thẳm của tấm lòng người mẹ thúc giục tôi phải viết ra những dòng này. Chắc bà cũng hiểu rằng, cũng như tôi, phụ nữ chúng ta ở thời đại này đâu phải là vô cảm, thờ ơ với thời cuộc, nhưng họ đều có những hạn chế riêng tư. Và họ thường thể hiện tấm lòng của mình ở đâu đó, qua nhiều hình thức cũng không kém phần kết quả.

Với chức năng người mẹ, chúng ta đã gắn cả cuộc đời mình với những đứa con tự thuở lọt lòng, những tháng năm khi còn tấm bé. Ta xót xa cả khi chúng vấp phải những điều không hay nho nhỏ. Ta lo sợ đến hoảng hốt khi chúng ốm đau, bệnh tật. Và ta thật hạnh phúc khi mỗi khi ngắm nhìn chúng trong giấc ngủ yên lành với nụ cười trên môi. Lúc ấy, ta cảm thấy mãn nguyện với cuộc sống hiện tại mà quên đi biết bao nhiêu gian truân, bao điều nhiễu nhương đang lởn vởn quanh mình giữa cuộc đời vốn đầy bất trắc này.

Trong cái thời buổi không mấy an bình này, mọi giá trị văn hóa bị đảo lộn, lý tưởng chỉ còn là một ảo ảnh giả dối, mong manh; nhân cách bị xem thường; quyền lực và lợi ích cá nhân được coi là tối thượng; đạo đức xã hội xuống cấp một cách thảm hại thì việc nuôi dạy một đứa trẻ nên người là điều thật không dễ dàng.

Trong cuộc đời, đôi lúc người ta tin vào định mệnh - vào sự sắp đặt từ trước của đấng tối thượng, nhưng dù sao thì quy luật của xã hội, của cuộc sống muôn đời vẫn đúng: Gieo nhân nào, có quả ấy. Vượt qua khốn khó ắt có ngày vinh quang… Ơn trời, con cái chúng ta đã qua được cái thuở còn non nớt, ngơ ngác trước cuộc đời. Rồi ngoảnh đi ngoảnh lại, mới ngày nào, nay chúng đã trưởng thành, đã có chính kiến rõ ràng về cuộc sống. Quý giá hơn cả là chúng có được nhân cách, có lòng nhân ái, biết nhận ra lẽ phải và căm ghét cái tham, điều độc ác.

Là người mẹ bình thường, ai chẳng mong con cái mình gặp nhiều thuận lợi trong bước trưởng thành. Mong chúng có nghề nghiệp, rồi lập gia đình, làm ăn lương thiện, có tiền đồ sáng sủa để mình được yên vui lúc tuổi già. Nhưng ông trời vốn hay thử thách con người, đã dành cho chúng ta mỗi người một cảnh ngộ, có cả niềm hạnh phúc xen lẫn với nỗi khổ đau.
Có ai dám mơ tưởng là sẽ được thỏa mãn hoàn toàn với con cái, mong muốn chúng gập toàn “vận may” trên con đường mưu cầu hạnh phúc ? Ngay cả khi cái hạnh phúc ấy chỉ nhằm toan tính cho riêng mình!

Đó là chuyện của đời thường.

May mắn thay, trong suốt chiều dài lịch sử nước nhà, mỗi khi đất nước lâm vào cảnh khốn cùng, thường thấy xuất hiện những người con xuất sắc từ dân chúng mà ra – những vị anh hùng. Mỗi người trong họ, ít nhiều đã góp phần làm chuyển biến tình hình, cứu nguy cho đất nước trong những lúc hiểm nghèo và thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử. Vì thế chúng ta mới có được một đất nước tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Điều khác nhau giữa xưa và nay là ở chỗ trong quá khứ thường lưu truyền lại về những nhân vật lịch sử đáng kính mà kẻ thù là bọn ngoại xâm; nhưng ngày nay, những người anh hùng trong giai đoạn lịch sử ngắn ngủi này của chúng ta lại phải đối mặt với bọn nội xâm.

Với những kẻ tự nhận là đại diện của dân, vì dân, nhưng trong mọi ý tưởng và hành động của họ đều đi ngược lại với truyền thống của dân tộc và xu thế thời đại. Thậm chí họ càng ngày càng lộ rất rõ sự hèn kém trong việc dẫn dắt, điều hành đất nước, đã đưa dân tộc ta từ thế chủ động sang thế bị động, phụ thuộc; làm mất dần ý chí tự cường để dẫn tới nguy cơ rơi vào vòng kiềm tỏa của ngoại bang.

Những người dân VN có chút lương tri không khỏi đau lòng khi nghe tin những thanh niên, sinh viên biểu tình ôn hòa tại Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn phản đối TQ xâm lược Hoàng – Trường Sa đã bị đàn áp thẳng tay bằng dùi cui và bắt bớ (2). Những người dân đấu tranh cho công lý, cho dân chủ, nhân quyền, thì bị bỏ tù vì bị gán tội chống phá nước cái Nhà nước cộng hòa đầy bất công và tham nhũng này.

Một đất nước không nhỏ với dân số trên 80 chục triệu con người thông minh, cần cù lao động, điều kiện về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện nông nghiệp, vị trí địa lý thuận lợi, mà sau hơn 30 năm có hòa bình, vẫn ở vào mức phát triển kém của thế giới.

Những người cầm quyền đã rất lúng túng trong việc mạo nhận theo đuổi học thuyết Mác-Lê Nin lỗi thời. Mà chính nó đã làm băng hoại cả một nền đạo đức truyền thống của dân tộc có từ hàng ngàn năm nay; đã làm phung phí một lượng vô giá về sức người, sức của và trí tuệ của nhiều thế hệ trong các cuộc cải cách nội bộ phi nhân tính (cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa tư tưởng, cải tạo công thương nghiệp…) để có được quyền lực tuyệt đối. Cho đến ngày hôm nay, họ vẫn còn đang mò mẫm đi tìm “con đường phát triển xã hội” ở vị trí thua kém các nước trong khu vực tới vài thập kỷ phát triển.

Chúng ta như không thể chịu nổi, thấy đau xót và nhục nhã mỗi khi nghe tin những người lao động Việt Nam bị chủ nước ngoài đánh đập tàn nhẫn ngay trên quê hương mình; hàng đoàn thiếu nữ VN bị chào bán, lựa chọn như một thứ hàng hóa thời nô lệ - để hòng lấy được một tấm chồng già, có chốn dung thân ở nước ngoài, rồi có chút tiền chu cấp cho gia đình đang trong cơn khốn khó; hàng trăm ngư dân phải vật lộn ngoài biển sâu sóng dữ vì miếng cơm manh áo của gia đình đã phải sống trong khổ nhục, tù tội ở trại giam nước ngoài hàng tháng, hàng năm trời chỉ vì sự vô trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo hộ công dân và quản lý lãnh hải của mình…

Trong khi đó, những người cầm quyền đã dùng cả một lực lượng hùng hậu “chuyên chính vô sản” để “chăm sóc” những công dân muốn nói lên sự thật, đòi công bằng xã hội. Họ đã vận hết công lực của cả một bộ máy chính quyền để đàn áp nhân dân, bảo vệ bằng được cái quyền độc đoán của mình nhằm tiếp tục khai thác món lời ngon lành trước mắt.

Quy luật vận động xã hội cho thấy khi bộ máy thống trị thể hiện đầy đủ bản chất vô luân của nó, thì cũng là lúc thời kỳ mạt vận đang đến. Nhân tố tích cực nổi lên. Phong trào quần chúng và những nhân vật lịch sử dần xuất hiện để cáo chung cho thời kỳ đen tối và lật sang một trang mới cho lịch sử đất nước.

Chúng ta không thể nào quên được biết bao tấm gương sáng ngời trong lịch sử: Một Bà Triệu “muốn đạp bằng muôn sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, để cứu muôn dân ra khỏi cảnh lầm than”; Một Trần bình Trọng “thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”; Một Nguyễn Trãi khóc vĩnh biệt cha nơi biên ải để rồi nằm gai nếm mật, giúp minh Chúa dành lại được non sông; Một Nguyễn Thái Học hy sinh cả tuổi trẻ và tình yêu tuyệt vời của mình khi mới 29 tuổi đời vì lý tưởng cao cả của đảng Quốc Dân.…

Ngày nay trong sự nghiệp chống nội xâm, đòi tiến bộ xã hội - chúng ta có quyền liên tưởng đến những người con của thời đại này đã dám hy sinh tự do cá nhân của mình, chịu cảnh tù đầy chỉ vì mưu cầu tự do, nhân quyền cho dân tộc. Chúng ta đã có một Nguyễn văn Lý vào tù ra tội, đã từng đạp đổ vành móng ngựa của tòa án cường quyền; có một Nguyễn Tiến Trung còn rất trẻ, đã bằng trí tuệ, sự dũng cảm tuyệt vời của mình đã làm được những điều mà các bậc lão thành trong và ngoài nước cảm phục; một Cù Huy Hà Vũ đã dám ngang nhiên đâm đơn kiện một Thủ tướng Chính phủ đầy quyền lực vì đã ký quyết định cho một dự án nhiều khả năng gây hậu quả tai hại khôn lường cho đất nước – điều chưa từng có trong thế giới cộng sản độc tài. Ta lại cũng có một Lê Thị Công Nhân kiên định, đã dám hy sinh những ngày tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân cho lý tưởng tự do dân chủ, chấp nhận cảnh lao tù khắc nghiệt mà không thèm ngỏ một lời xin ân xá (3).

Anh hùng không làm nên lịch sử, nhưng lịch sử phải có những anh hùng. Anh hùng cũng chỉ là những đứa con của người mẹ. Mà bà mẹ gian truân và bao dung nhất chính là Tổ quốc của chúng ta.

Thực tế cho thấy, khi cần thiết, không thiếu những người con trung hiếu sẵn sàng hy sinh tất cả vì sự trường tồn của MẸ.

Chuyến thăm con, vào sinh nhật của cháu, bà đã tặng chiếc bánh ‘gâteau’ chocolat và bó hoa có 30 bông hồng vàng – “mà cháu rất thích”. Món quà đó thật ý nghĩa. Nhưng với một người con bất khuất - “không chịu đầu hàng”(4), lại không hề nghĩ đến bản thân mình mà chỉ lo cho những người cùng bị bắt - thì món quà mà những người mẹ chúng tôi muốn gửi cho cháu qua lá thư này là lòng mến phục sâu sắc nhất của mình.

Nó là vô giá và sẽ tồn tại mãi mãi trong tâm niệm của chúng tôi và trong suốt cả cuộc đời đáng tự hào của Nhân.

Xin chúc bà và gia đình được luôn mạnh khỏe và bình yên.

Hà Nội 19 tháng 8 năm 2009

Người mẹ - giáo viên
email: tranthikimlien09@gmail.com

Ghi chú:
(1) – Bà Lệ thường gọi con gái yêu (Lê Thị Công Nhân) là “con bé”.
(2) – Sự việc sảy ra nhiều lần vào năm 2008.
(3) – Công an đã nhiều lần gợi ý, đề nghị luật sư Nhân (hoặc gia đình) làm đơn “nhận tội và xin khoan hồng”, nhưng cô và gia đình đều từ chối.
(4) – Trước khi bị bắt Nhân đã tuyên bố là “Sẽ không chịu đầu hàng”.