แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Văn hóa - nghệ thuật แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Văn hóa - nghệ thuật แสดงบทความทั้งหมด

วันอังคารที่ 11 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No417: Long mạch: lo nhà, bỏ quốc gia

Nhân đọc bài báo của KTS Trần Thanh Vân, trong đó đề cập tới long mạch quốc gia, và vài tình tiết thú vị quanh vấn đề nầy, như vụ “cột nước bất ngờ phụt lên làm lật úp ba chiếc thuyền”, Ba Sàm thấy ngứa miệng muốn bàn góp vài ngu ý và đôi ba chuyện nghe lóm được.


1- Cách nay chừng mươi năm, một bữa tình cờ hầu chuyện một vị cán bộ phụ trách văn hóa Tây Hồ. BS thiệt bất ngờ là ổng rất hiểu biết và say mê lịch sử địa phương, kể đủ chuyện sự tích Sông Kim Ngưu, Hồ Tây v.v.. làm BS chỉ còn biết ngoạc miệng ra mà nghe như nuốt từng lời. Trong những câu chuyện đầy tinh thần tự hào dân tộc, chống ngoại xâm đó, có một chuyện liên quan tới điều mà KTS T.T.Vân đề cập, làm BS nghe muốn sởn gai ốc.

Theo ổng, kẻ thù phương Bắc bao nhiêu lần xâm lăng nước ta đều thất bại, nên đã kiếm cách trấn yểm vô long mạch quốc gia, được xác định là chạy qua ngay vị trí Tây Hồ, ngõ hầu làm cho dân tộc ta suy vi, tất dễ bề cai trị.

Rồi có một năm, từ phương Bắc, một phái đoàn văn công tới nước ta biểu diễn. Theo yêu cầu của họ, ta cho cả đoàn lên một chiếc thuyền lớn ra du ngoạn Hồ Tây. Nhưng, … thiệt khủng khiếp! Một chuyện mà các cụ sống bao năm ở đây biểu là chưa từng xảy ra, đó là một trận cuồng phong bất ngờ nổi lên giữa mặt hồ yên lặng, nhấn chìm cả chiếc thuyền lớn cùng đoàn văn công. Không một ai sống sót.

Có điều câu chuyện không dừng lại ở đây. Các cụ rỉ tai nhau, rằng phải chăng có kẻ tà tâm, muốn lợi dụng màn giao hảo mà tính kế yểm bùa vô trúng ngay huyệt đạo quốc gia. Nhưng nơi đó linh thiêng lắm, đâu dễ …

Chuyện sanh tử mười mấy mạng người, lại thuộc vô hàng quốc gia đại sự, quan hệ quốc tế quốc ta, BS nghe biết vậy, đâu dám nghĩ gì hơn.

Ông cán bộ văn hóa như muốn chứng minh thêm sự linh thiêng nơi đây, liền lấy ví dụ về vụ án đình đám mới đó, vụ “Thủy cung Thăng Long”. Ổng biểu: “Anh thấy chưa, bọn nó định làm trò ma mãnh ở đây, động vào long mạch, là bị Trời phạt ngay“.

Bán tín bán nghi, rồi một ngày, BS cùng người bạn lên viếng mộ người thân trên Bất Bạt. Vừa bước vô cửa nghĩa trang, chợt thấy một khu mộ ngay ngắn, khác thường. Tò mò tới coi, thì ra đó là khu mộ của cả đoàn văn công bỏ mình giữa Tây Hồ năm nào. Giật mình nhớ lại chuyện nghe được mấy năm trước, … nhưng BS lại tự đặt dấu hỏi: “Tại sao họ không bốc hết mộ về quê hương bên đó, mà lại để ở đây ta?“

Cho tới giờ, những nghi vấn vẫn còn nguyên. Không ai viết ra, nhưng, … bổ sung thêm vô câu chuyện huyền bí, thấm đẫm một tinh thần yêu nước, cảnh giác trước nạn ngoại xâm đó còn có câu chuyện Thánh vật ở Sông Tô Lịch cách đây mấy năm, nổi tiếng tới độ đã được đưa lên Từ điển Bách khoa Trực tuyến-Wikipedia.

Trở lại chuyện Tây Hồ. Vậy liệu có phải thực sự những người trên con thuyền năm nào đã chết do trận cuồng phong, hay ngược lại, họ đã phải chết để nhằm một mục đích gì tương tự như trò trấn yểm mà một bài viết công phu về vụ Sông Tô Lịch đã phân tích? Nếu lưu tâm tới những trò ma thuật từ Mã Viện cho dựng trụ đồng mà lâu nay có rất nhiều nghi vấn, tranh luận, cho tới Cao Biền trấn yểm, thì ta không thể dễ dàng bỏ qua hiện tượng nầy được.

Lạ thay (mà lại rất quen) những câu chuyện đó không những không được các “cơ quan chức năng” quan tâm, tổ chức nghiên cứu nghiêm túc, mà thậm chí có báo còn bị ăn phạt, cái “tội” truyền bá “mê tín dị đoan”.

Thế nhưng, … chớ vội lầm, đằng sau vẻ khô cứng, đạo mạo, bao giờ cũng ẩn dấu những điều thú vị. Mời bà con ráng coi tiếp câu chuyện thứ hai.


2- Mấy năm trước, tự nhiên trên một tờ nhựt báo với số ấn bản thuộc hàng khủng có một bài viết, của một nhà báo cũng thuộc loại tiếng tăm, thắc mắc rằng ở cơ quan Bộ nọ, sao người ta lại lập bàn thờ chi chi đó trên tuốt tầng thượng, hương khói tối ngày. Chắc độc giả có đọc cũng không hiểu trời trăng chi.

Nhưng rồi, mấy bữa sau, ngay trên trang nhứt tờ báo của Bộ đó, có một bài thanh minh cho vụ “lập bàn thờ” nầy. Bài báo thưa rằng nguyên do trước đó, có một phái đoàn của một cơ quan hữu quan tới thăm, có kính tặng “bức tượng Bác Hồ”. Suy đi tính lại, lãnh đạo quyết định lập bàn thờ tại một căn phòng riêng trên tầng cao nhứt và để bức tượng tại đó.

Tới đây, chắc ai cũng phải thắc mắc, cách làm nầy tuy không lạ lắm ở xứ ta, nhưng cũng lại là khác thường. Vì tượng lãnh tụ thường được trưng ngay Hội trường cơ quan, chớ sao lại lập am lập miếu chi kỳ vậy? Mà chắc mấy cha nhà báo bắt trúng phóc chuyện chi đây không bình thường thì mới tố phé lên vậy chớ? Sức mấy dám “vuốt râu cọp”?

Và đây là những gì người ta dễ dàng ráp nối với cái vụ “bàn thờ” kia, mặc dù “ai cũng không hiểu, chỉ vài người mới hiểu“ (nhái bài hát Phượng Hồng).

Trong nhiều năm, các cấp lãnh đạo cơ quan Bộ nầy, từ cấp vụ cho tới Thứ trưởng, nhiều người bị bịnh hiểm nghèo một cách khác thường, có người đã ra đi “gặp các cụ Các-mác, Lê-nin” nữa. Rồi một ngày, ai đó bỗng nêu lên một giả thiết giải thích cho lý do đó. “Phải chăng ta đụng tới ‘cõi âm’?” Thế là nghe đâu thầy địa lý được mời tới. Thầy phán rằng do xây dựng tòa nhà mới, chặt đi một cái cây cổ thụ rất thiêng, bít dòng chảy một mạch nước ngầm … cũng rất thiêng. Và nghiêm trọng nhứt, là đụng tới long mạch. Giờ phải làm lễ thôi, nếu không là còn …chết nữa.


Không biết thầy phán trúng trật, cũng không biết ba câu chuyện nầy có liên quan tới nhau hay không, nhưng thiệt tình thì nó luôn có thể trở thành đề tài của bất cứ ông quan chức đạo mạo nào, nhưng là ở … quán bia, bên người … chí thân, chí cốt, chớ hổng phải bên đồng chí, tại cơ quan, nha. Và, thường là liên quan tới vận mạng, quyền lợi bản thân, bà con họ hàng họ thôi, chớ chuyện vận mệnh quốc gia, thì … khỏi lo, đã có “trên”. HẾT.

วันพฤหัสบดีที่ 6 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No410: Chó và ngựa - Những góc nhìn

http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/nhandam/2009/8/53096.cand?Page=2


Người phương Tây coi cầm thú như bầu bạn, người phương Đông coi súc vật như hiện thân số phận của mình. Chó và ngựa là hai đại biểu của loài cầm thú tham gia nhiều nhất vào chiến trận như những đồng đội thủy chung trong những chặng đường lịch sử gian nan.

Nhưng loài chó thiệt thòi hơn loài ngựa. Loài chó ở đâu cũng trung thành, tận tụy, nặng tình với chủ, nhưng phận chó ở mỗi phương trời xem ra nhiều khi khác nhau một trời một vực, phụ thuộc vào văn hoá của chủ nhân…

Bầu bạn và thực phẩm

Thú vật thường được người phương Tây coi như bạn, họ đối xử với chúng nâng niu âu yếm như với con người vậy. Các bà các cô người phương Tây hôn hít chó mèo như hôn người yêu. Một con mèo, một con chó, một con chim bị chết, cả gia đình có thể khóc và bỏ ăn cả mấy ngày liền. Ở Mỹ, khi chó, mèo hay chim cảnh bị thương, người ta gọi điện cho cảnh sát hay các hội bảo vệ súc vật, chỉ mấy phút sau xe cứu thương đã hú còi vang phố lao nhanh đến đưa con thú vào bệnh viện. Khi chó, mèo, chim cảnh bị chết, mọi người đều coi đó là cái tang của gia đình. Cái tình quyến luyến với thú vật của người phương Tây thật là cảm động. Trên báo ta từng đăng tải một bài kể chuyện con thiên nga trong vườn thú lạc chuồng đi lang thang ngoài phố làm bao nhiêu cảnh sát vất vả, bao nhiêu ôtô ùn tắc chỉ để bảo vệ con thiên nga đó được nguyên vẹn, đưa nó về chuồng.

Một sinh viên ngoại quốc đang gặp khó khăn trên đất Italia, bỗng một đêm lạnh giá, anh ta bắt gặp một con chó lạc lang thang ngoài đường có nguy cơ chết rét. Với tình yêu súc vật, anh ta đã mang về nhà chăm sóc. Không ngờ, chủ nhân của con chó lại là một nhân vật có vai vế lớn bậc nhất trong xã hội. Cảm động vì tình thương của anh sinh viên dành cho con chó yêu quý của mình, ông đã nhận anh ta làm con nuôi. Và anh ta đổi đời từ đó, trở thành một thương gia thành đạt ở xứ người.

Minh hoạ của Hữu Khoa.

Người phương Đông chúng ta từ ngàn năm sống trong cái triết lý hoà đồng, coi thiên nhiên như ngôi nhà lớn, như thân thể bên ngoài của con người, vậy mà nhìn chung muông thú bị đối xử như thứ nô lệ hạng bét. Người ta săn thú rừng nấu cao, nuôi súc vật trong nhà làm thức ăn và làm lính gác. Hoa lá, chim muông, cầm thú chỉ được tôn vinh thăng hoa trong họa, trong thơ thôi. Nhưng, các nhà thơ dù viết những dòng ngợi ca muông thú hay đến đâu, khi có khách đến nhà cũng sẵn sàng giết gà, thịt chó một cách hồn nhiên:

"Ao sâu nước cả khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà"

Cái vườn, cái ao thơ mộng là thế trong thơ ca các thi sĩ nhà ta, ấy thế mà trong đời thực, đó chỉ là cái chạn đựng thức ăn đãi khách. Chao ôi, là cái phận cầm thú ở phương Đông, đã lên cái ngôi vua trong thi ca như con hạc trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường, nhưng vẫn là cái thân phận thực phẩm trong đời thực mà người ta dùng để dâng vua, đãi khách.

Người Việt chúng ta hay lấy con vật làm mô hình, làm một thứ xướng ngôn viên của con người. Bao nhiêu câu thành ngữ, tục ngữ ca dao nói về những trớ trêu, bất hạnh, tai ương của kiếp người đều lôi cầm thú ra mà trình diễn: "Cốc mò cò xơi", "Chó treo mèo đậy", "Cóc kiện củ khoai", "Con giun xéo lắm phải quằn", "Cò kêu dưới bụi tre ngâm, cóc kêu mặc cóc tre dầm mặc tre", "Con gà cục tác lá chanh...". Nếu ở trong thơ ca bác học, cầm thú được lên ngôi trong bao nhiêu bài thơ tài hoa thi vị, thì ở trong văn học dân gian cầm thú lại nhọc nhằn, oan uổng và thấp kém trong bao nhiêu tục ngữ ca dao.

Đạo diễn người Pháp Rosif coi thú vật là những bầu bạn mộng mơ của con người. Còn người dân Việt Nam lại gửi gắm tâm sự về lẽ sống, thói đời vào thú vật, coi chúng như bầu bạn về số phận.

Chữ tình trong loài chó

Trong cuốn "Đắc nhân tâm" của Dale Carnegie, tác giả đã lấy con chó làm một thứ "mẫu mực" của sự thiện chí, vô tư. Con chó thấy ta vẫy đuôi mừng, nó tỏ tình cảm với ta một cách hồn nhiên không vụ lợi nên nó đã được nhận lại sự trìu mến của ta như một sự đền đáp tự nhiên không tính toán. Nếu trong cuộc sống ta cũng yêu mến người khác một cách hồn nhiên như vậy thì người khác cũng tự nhiên yêu mến quý trọng ta. Tác giả cho rằng bí quyết "Đắc nhân tâm" thực chất chỉ giản dị là đáp ứng sự khát khao được yêu mến và tôn trọng của những người mà ta tiếp xúc hay chung sống.

Ý tưởng ấy kể cũng đã là sâu sắc. Nhưng có học giả lại tỏ ý chê bai con chó là xun xoe nịnh bợ, không có tính độc lập như mèo. Con mèo không vồn vã như con chó, nó giữ khoảng cách với con người có vẻ lịch sự hơn, kiêu hãnh hơn. Nhiều khi nó nằm lặng lẽ trong bóng tối, trầm tư và bí ẩn, nhưng mắt nó sáng long lanh trong đêm và khi phát hiện thấy kẻ thù, nó lao nhanh như chớp, chiến đấu thầm lặng và quyết liệt để làm tròn bổn phận do Thượng đế và chủ nhân giao phó mà không kêu ầm lên đánh thức con người như loài chó. Con mèo có vẻ lý trí hơn, đơn độc hơn con chó, nhưng nó cũng tình cảm và thơ mộng lắm. Cái cách mèo nằm khoanh tròn trên sân phơi nắng và lân la trên giường tìm hơi ấm có vẻ nhiều chất thơ hơn chú chó nằm khoanh ngủ dưới gậm giường.

Không biết có phải do khác nhau về đẳng cấp, văn hoá và cá tính nên chó với mèo hay hục hặc với nhau không? Nghệ thuật dân gian của người Việt nhắc tới con mèo nhiều hơn nhưng luôn coi mèo như nhân vật phản diện, đại diện cho kẻ quyền thế. Mèo ta lúc thì ngồi chễm chệ trong tranh Đám cưới chuột để nhận hối lộ, lúc thì leo lên tận ngọn cau để "hỏi thăm chú chuột đi đâu".

Con chó vừa được yêu hơn vừa bị khinh rẻ hơn vì nó mang "chữ tình" một cách lộ liễu công khai, nó là hình ảnh thu nhỏ của thân phận tôi tớ, nghèo hèn, trung thành tuyệt đối với chủ nhân. Chó còn có tình với đồng loại: chó không ăn thịt chó và không cắn người nuôi chó, yêu mến chó. Một sinh viên kể rằng ở cổng trường đại học của cô có một bầy chó dữ, gặp ai cũng sủa dữ rất đáng sợ, nhưng gặp cô chúng luôn vẫy đuôi mừng. Thì ra, ở nhà cô luôn ôm ấp vuốt ve một chú chó Nhật nên bầy chó nhận ra mùi đồng loại...

Mỗi loài mỗi phận

Trong các gia súc thì chó và ngựa là loại có tình hơn cả. người xưa nói "Khuyển mã chi tình". Cái tình của chó, ngựa không chỉ là cái tình gia đình nơi xó bếp, mâm cơm như những loài mèo, gà, bò, lợn, mà còn là tình chiến hữu xông pha chia lửa nơi trận mạc. Loài ngựa có thâm niên gắn bó với lịch sử nhân loại hơn chó. Ngựa Đông ngựa Tây đều tham gia chiến trận, nhưng chỉ có chó Tây tham gia các hoạt động quân sự, an ninh. Có nhiều loài ngựa chiến được phong các danh hiệu cao quý nhưng chỉ có chó Tây biết đánh hơi và canh gác mới được phong tước phong hàm. Chó ta cũng biết đánh hơi và canh cửa nhưng hình như chưa con nào được phong hàm...

Bảo vệ chủ, nịnh chủ trung thành với chủ là bản chất của loài chó. Ấy vậy mà có những ông chủ lại đòi chó có tư thế ngang tàng, độc lập. Anh bạn tôi có con chó yêu, một lần có việc phải đi vắng lâu ngày, khi trở về nhà đã kinh ngạc thấy con chó của mình chắp tay vái lia lịa. Thì ra một người bạn ở cùng nhà đã huấn luyện chú chó kia thành chó biết làm xiếc. Người bạn tưởng rằng như thế là nâng cấp tri thức cho chú chó, không ngờ lại làm chủ nó thất vọng với hành vi lạy lục của nó, cho rằng như thế là nó đã bị mất đi cái... tư cách ngày xưa. Dĩ nhiên là anh ta phải làm thịt chó


Đỗ Minh Tuấn

วันอาทิตย์ที่ 8 มีนาคม พ.ศ. 2552

No352: Những con gà nuốt dây thun

Tại sao con gà lại nuốt dây thun?

Vì cọng thun trông giống một con giun đất. Những con gà bị nhốt trong chuồng, suốt đời chỉ ăn thực phẩm công nghiệp, chợt nhìn thấy con giun đất thì mừng lắm, bèn đớp lấy. Cọng thun vô nằm trong dạ dày, không tiêu hóa được, lừ đừ, ngắc ngoải, ủ rũ như kẻ mất hồn.

Tôi cũng đã từng nuốt một cọng thun như vậy. Thoạt tiên đôi mắt sáng lên, mừng rỡ. Đớp một phát, sướng điên người. Nuốt vô cổ họng, con giun đất bằng cao su chạy tới đâu hạnh phúc chạy theo tới đó. Hạnh phúc ấy ngân nga, lan tỏa trong từng cảm xúc. Cho đến khi nó phát ách trong dạ dày.

Cũng may bây giờ tôi đã khạc cọng thun ra được. Thấy mình dễ thở. Thấy mình sống.

Nhưng mình vẫn là một con gà trong chuồng.

*
Tôi chỉ là một con gà nuốt dây thun. Suy cho cùng thì trí thức Việt Nam không thiếu những con gà nuốt (hoặc bị bắt nuốt) dây thun. Các anh ở miền Bắc thì cọng thun của các anh là chủ nghĩa Marx–Lenin, chúng tôi ở miền Nam, cọng thun của chúng tôi là “giải phóng dân tộc”. Tôi biết có một số ít người Việt ở hải ngoại, cho đến giờ, lòng vẫn còn trĩu nặng hận thù, và đó chính là “cọng thun” mà họ đã nuốt phải.

Cọng thun có thể có màu đỏ, màu vàng hay màu xanh nhưng chúng đều là cọng thun làm bằng cao su, chứ không phải là con giun đất. Chúng đều là con giun giả. Nhìn thấy nó thì sáng mắt lên, nuốt vô thì sướng cái miệng, nhưng nó không phải là thức ăn, không tiêu hóa được, nó sẽ làm ta ngạt thở, lù đù, ủ rũ, ngắc ngoải…

Chúng ta đều có nhiệt tâm, thiện ý với đất nước, với dân tộc, nhưng đừng bao giờ quên rằng cả thế giới này, cả nhân loại này tuy đông đảo là vậy, trẻ trung là vậy, tài ba là vậy… nhưng chỉ là những thứ mà giới cầm quyền và bọn tài phiệt cá cược với nhau trong canh bạc khổng lồ mà chúng đang chơi trên máu của dân nghèo và trên tinh dịch của chúng.

Những người gọi là trí thức như chúng ta cũng chỉ là những lá bài vô danh trong tay bọn chúng mà thôi. Chúng vừa đánh bạc vừa thảy ra ngoài rìa những cọng thun và chúng ta tưởng đó là những con giun đất, chúng ta đớp lấy.

*
Vừa rồi tôi có đọc bài trả lời phỏng vấn của Dương Tường và bài viết của Vương Trí Nhàn về Nguyễn Khải.

Đọc xong tôi thấy quá bất nhẫn.

Tôi biết rất ít về Nguyễn Khải. Tôi cũng đọc Nguyễn Khải không nhiều. Tôi lại càng lù mù về Chế Lan Viên, Dương Tường và Vương Trí Nhàn, nhưng có điều tôi biết chắc chắn, rằng các vị ấy cũng chỉ là những con gà được nuôi chung trong một cái chuồng mà thôi. Và tất cả đều có ít nhất vài cọng thun trong cổ họng! Vậy thì hãy giúp nhau khạc cái cọng thun ấy ra cho nó dễ thở, việc gì đến chết rồi mà vẫn còn chì chiết lẫn nhau?

Tất nhiên, tôi hiểu, trong cái chuồng gà khổng lồ ấy cũng có những con gà nòi thuộc loại “chân xanh mắt ếch chém chết không chừa”. Những con này được chủ nuôi kỹ hơn, tiêu chuẩn cao hơn, để có sức mà “đá” đồng loại. Nhưng số phận những con gà đá đó như thế nào?

Trước khi đá, người chủ cho ăn thịt bò, nhái bén, cào cào châu chấu. Tiếp đến người chủ lấy những cái cựa bằng sắt nhọn hoắc, bén như dao cạo, cột nối thêm vào cái cựa gà. Hai con gà được đặt đối diện nhau, khiêu khích nhau bằng những cú đá nhử. Những chú gà phùng mang trợn mắt. Và chúng được thả ra. Đá nhau cho đến chết. Nếu không chết thì cũng bị những cái cựa sắt đâm cho mù mắt, gãy cổ, ôm đầu máu chạy thẳng vào… nồi nước sôi.

Rốt cuộc chỉ có thằng chủ gà là hưởng lợi. Thắng thì được tiền, thua thì được bữa nhậu rai rai…


*
Ôi những con gà!

Làm cái kiếp gà khổ như vậy, huống chi lại là gà nuốt dây thun.

Thưa các anh – kể cả số ít các anh đang ở hải ngoại mà trong cổ họng vẫn còn mắc kẹt một cọng thun thù hận – chúng ta hãy giúp nhau khạc cái cọng thun ấy ra. Chúng ta không còn trẻ nữa nhưng chúng ta có ngòi bút, có tấm lòng. Chỉ cần thêm một chút cảm thông.

Hãy tìm cách khạc cọng thun ra đã, rồi mới nói tới chuyện chống độc tài, chống tham nhũng, rồi mới nói tới tự do, nhân quyền, hoà hợp dân tộc.

Khạc được cọng thun ra rồi chúng ta mới dám viết, dám nói, dám bày tỏ chính kiến của mình.

Khạc được cọng thun ra rồi chúng ta mới bớt hằn học, bớt cằn nhằn (vì đang bị nghẹt thở) mỗi khi có ai nhắc đến quá khứ.

Hãy coi nhau như anh em và đấu tranh vì một nước Việt Nam có một quốc hội thực sự đại diện cho nhân dân để kìm chế tham nhũng, độc tài, để có tự do chính trị, tự do sáng tác, tự do công bố tác phẩm, tự do tư tưởng.

*
Một anh bạn cũ, ở nước ngoài về thăm quê, rủ tôi đi uống cà phê. Anh nói:

“Tôi đọc của ông rồi. Ông thấy chưa? Theo đế quốc cũng dở mà theo kháng chiến càng dở hơn. Cứ như tôi không theo ai cả. Lại hay.”

Nghe vậy, tôi bèn kể một câu chuyện ngụ ngôn:

“A và B cùng đứng trên bờ sông, cùng nhìn thấy một người sắp chết đuối đang kêu cứu. A bảo: mày cứu người ta đi. B nói: tao nhát lắm. Thế là A nhảy xuống sông. Nhưng vì luồng nước mạnh quá, khi A tiếp cận được nạn nhân thì người đó đã chết, A phải vất vả lắm mới kéo được cái xác lên bờ. Mình mẩy A bầm dập vì bị sóng xô vào đá. B thấy vậy, cả cười mà rằng:

“Cứu cũng chết, mà không cứu cũng chết. Thà đứng trên bờ mà nhìn như tao thì có phải khôn ngoan hơn không?”


*
Đó là sự ngụy biện của những người vô cảm.

Còn thế hệ trẻ hiện nay thì sao?

Họ đang bị “chủ nghĩa điện thoại di động” mê hoặc và xâm lược. Không ai có thể xóa bỏ lý tưởng của thanh niên hiệu quả và nhanh chóng bằng cuộc xâm lăng của điện thoại di động.

Thế chiến thứ 3 thực sự đang bắt đầu bằng “những con dế dễ thương” ấy. Chúng ta không thể trách cứ, không thể lên án cuộc chiến tranh ấy. Vì nó là khoa học kỹ thuật, vì nó là văn minh hiện đại. Vì nó là tiện ích.

Đó là một cuộc chiến tranh không đổ máu, không có thương vong, nhưng thực sự nó đã tàn sát không thương tiếc ý thức công dân, mọi mầm mống phản kháng, mọi nhen nhóm đấu tranh cho một lý tưởng, cho một lẽ phải nào đó.

Cùng với sự kìm kẹp xã hội, chính trị và tư tưởng thì “chủ nghĩa điện thoại di động” là một “vũ khí hủy diệt hàng loạt” mà các chế độ độc tài được “thời đại kỹ thuật số” biếu không để vô hiệu hóa giới trẻ một cách ngoạn mục nhất.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn hy vọng ở họ. Vì thực tế ở Việt Nam đã xuất hiện những gương mặt trí thức trẻ dũng cảm. Và đẹp. Nét đẹp ấy sẽ làm chúng ta quên hết những tị hiềm, những vụn vặt của đời sống để hướng tới những giá trị cao cả hơn.

Đào Hiếu
Ngày 7.7.2008
Nguồn: Blog Lề bên trái.

No350: Ý kiến nhà báo Bùi Tín về cuốn "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo"

Cuốn sách hoang tưởng gây nhiễu loạn

Một nhà "nghiên cứu lịch sử" tên là Hồ Tuấn Hùng người TQ sống ở Đài Loan, tháng 11-2008, cho ra cuốn "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo"...(Nghiên cứu cuộc đời Hồ Chí Minh), dày 342 trang, chữ Hán, đưa ra nhận định giật gân, độc đáo là: ông Hồ Chí Minh từ Trung quốc về nước năm 1941 lập Việt Minh, rồi lãnh đạo Cách mạng tháng 8-1945, trở thành chủ tịch nước VNDCCH, chết năm 1969, không phải là ông Nguyễn Tất Thành ở Việt nam hồi nhỏ, rời VN năm 1911, không phải là ông Nguyễn Ái Quốc ở Moscow năm 1924-1925, sau đó về Hoa Nam hoạt động ở Quảng Châu - Hong Kong.

Ông này đã chết vì bệnh ho lao từ năm 1932.

Tác giả chứng minh rằng ông Hồ Chí Minh sau đó là một người khác, gốc Trung quốc 100%, người dân tộc Miêu Lật ở đảo Đài Loan, tên là Hồ Tập Chương, đã đóng giả Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc rất khôn khéo, trọn vẹn, đội danh Hồ Chí Minh cho đến khi chết ngày 2 tháng 9 năm 1969 ở Hà Nội.

Theo tôi đây là một chuyện dựng đứng, bịa đặt, hoang tưởng, không có gì là nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh cả.

Tôi đưa ra vài dẫn chứng: sau khi ông Hồ về ở Hà Nội tháng 8-1945, bà Thanh chị ruột ông Hồ ra gặp ông, 2 người lập tức nhận ra nhau, và ông Hồ trở lại nói hoàn toàn giọng Nghệ An, với âm sắc riêng của vùng Thanh Chương - Nam Đàn, hỏi thăm rất nhiều người trong họ đã chết và còn sống.

Bà Thanh còn nhìn 2 tai ông , mũi và cằm ông, nói: "đúng là 2 tai, mũi và cằm của thằng Công thời trẻ".

Rồi năm 1957, khi ông Hồ về thăm quê cũ ở Kim Liên, ông đi ngay vào ngõ bên trái nhà ông khi xưa, không đi vào cổng mới làm sau này, sau đó tự ông sang lò rèn phía trái để hỏi thăm các cụ ở lò rèn xa xưa, nơi ông thường qua lại khi còn bé.

Làm sao một người Tàu quê ở đảo Đài Loan lại có thể nói tiếng Nghệ An, lại theo thổ âm Nam Đàn, và nhập vai trọn vẹn là em ruột bà Thanh, và về quê Kim Liên xa lạ, lại am hiểu địa hình và nhân vật làng quê cũ xa xưa thuần thục đến như vậy!

Xin giáo sư Hồ Tuấn Hùng lý giải cho tôi được thông suốt.

Để cố tô vẽ một điều hoang tưởng thành sự thật, nhà xuất bản Đài loan khoe rằng tác giả là nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm chỉnh(!), có 30 năm là giáo sư ở Khoa sử Đại học Quốc gia Đài loan, người cùng dân tộc Miêu Lật với ông Hồ Tập Chương ( là ông Hồ giả), đã nghiên cứu kỹ các hồ sơ của Anh, Nhật, Trung hoa, Việt nam trong nhiều năm trời...

Họ làm như thế để làm gì? Để bán sách? Một giả thuyết nữa, hay là những người có tư tưởng bành trướng Đại Hán bên Tàu muốn chuẩn bị tư tưởng cho dân Việt để - trong một tương lai gần hay xa, Việt nam sẽ "tình nguyện" một cách cưỡng bức thành một tỉnh của Trung quốc, với một lãnh tụ vốn dĩ là một người Trung quốc đặc sệt 100 % chánh hiệu (!).

Trên đời vẫn thường có kẻ nửa khùng nửa điên, kỳ quặc như thế.

Đây là sự xúc phạm rất ngang nhiên và tuỳ tiện ông Hồ, coi người lãnh đạo đảng CS Việt nam không ra gì, nhưng nhóm lãnh đạo ở Hà Nội cắn răng chịu đựng, không thấy me-sừ Lê Dũng mở mồm. Chỉ khôn nhà dại chợ!

Còn chuyện Hồ Chí Minh là người dân chủ-cộng hoà (Domocrat+Republican) chứ không phải người cộng sản?

Cũng chỉ là đảo ngược sự thật!

Trong cuộc hội thảo tại Hà Nội từ 5 đến 7 tháng 12-2008 mang tên "Việt nam - Hội nhập và phát triển", một "học giả" Nhật bản làm một cuộc khảo cứu để đi đến kết luận rằng Hồ Chí Minh về cơ bản là người yêu nước chứ về cơ bản không phải là người Cộng sản (!), rằng ông Hồ là người theo chủ nghĩa cộng hòa hơn là theo chủ nghĩa cộng sản.

Không có gì sai lầm hơn! Không có gì trái với sự thật hơn!

Đó là sự lầm lẫn bản chất với hiện tượng, lấy mặt nạ làm mặt thật, lấy mặt thật làm mặt nạ.

Trước khi từ Anh sang Pháp vào khoảng 1918, Nguyễn Tất Thành còn có thể là người theo chủ nghĩa dân tộc. Sau khi gia nhập đảng Xã hội năm 1920, rồi đảng Công sản Pháp, ông là người cộng sản. Từ khi sang Nga - 1924 - ông được huấn luyện, đào tạo có hệ thống thành một cán bộ cộng sản nòng cốt, từ đó ăn lương của Đệ Tam Quốc tế cộng sản.

Ông sùng bái Staline, sùng bái Mao Trạch Đông sâu đậm, cho cả đến khi tệ sùng bái Staline bị Đại hội đảng CS Liên Xô lần thứ 20 lên án năm 1956, xác Staline bị đưa ra khỏi lăng ở quảng trường Đỏ, cả sau khi Mao dựng lên cuộc cách mạng văn hóa vô sản điên loạn hồi 1964-1967...

Người ta dễ nhầm lẫn vì bản chất ông Hồ rất khôn ngoan đến mức có thể gọi là "xảo trá", khi chủ trương "lạt mềm buộc chặt", chiến thuật rất mềm dẻo, nhưng lập trường cộng sản rất kiên định - mù quáng, dễ đánh lừa thiên hạ.

Nhà triết học và nghiên cứu chính trị Pháp Jean François Revel Từng viết bài "Hồ Chí Minh - cuộc tước đoạt lòng yêu nước" (HCM - le Détournement du Patriotisme) chứng minh rằng HCM đã lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt làm công cụ phục vụ cho mục tiêu cộng sản của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản.

Điều này rất rõ, trước khi chết, trong di chúc ông đắn đo kỹ, và mong sẽ được về theo cụ Mác cụ Lénine của ông ta, chứ không về theo cụ Lê Lợi hay Trần Hưng Đạo, hay là Nguyễn Trãi.

Xin mời các bạn nghe lời giải thích về lời trứ danh nhất của ông Hồ "Không có gì quý hơn đôc lập tự do" của Học viện Nguyễn Ái quốc - nay là Học viện Chính trị Quốc gia HCM - rằng: "ý Hồ Chí Minh khi nói tự do là Tự do cho dân tộc, chứ không phải tự do cá nhân tư sản đồi truỵ". Cho nên ông Hồ không chút quan tâm đến Tự do của người công dân cá thể, cho nên dân quyền và nhân quyền bị chà đạp là quốc sách của đảng cộng sản; tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do kinh doanh tệ hơn thời phong kiến, thực dân; không một người dân nào có hộ chiếu xuất cảnh, đảng CS một mình một chiếu, độc quyền ngự trị xã hội không có ai kiểm soát. Ông là ông trùm thủ tiêu Tự do.

Sự lạc hậu, lỗ hổng tệ hại về tự do, về quyền sống công dân kéo dài, đày đọa xã hội ta hơn nửa thế kỷ, cho đến tận hôm nay, là một đặc điểm "đặc sắc" bi thảm nhất của thời đại Hồ chí Minh, khi đảng cộng sản lộng hành với đường lối toàn trị dai dẳng.

Phải chăng trước sự phá sản của chủ nghĩa CS ở Đông Âu và đặc biệt là ở gốc gác Liên Xô, phải chăng khi chủ nghĩa Cộng sản bị cả liên minh Châu Âu lên án nặng nề không kém gì chủ nghĩa phát xít, khi một nước cộng sản cũ như Balan công khai đặt chủ nghĩa CS ra ngoài vòng pháp luật, nhóm lãnh đạo đảng CS Việt nam vội vã nghĩ đến chuyện gỡ tội, chạy tội cho lãnh tụ của họ, và cho chính bản thân họ?

Rằng họ chỉ là những người yêu nước, dân chủ, cộng hoà!

Chậm quá rồi, các người ạ!

Paris. 8-3-2009
Bùi Tín

วันพุธที่ 11 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No301: Còn chăng “văn hoá Tràng An”

Rất nhiều người Việt Nam chứ không riêng gì người Hà Nội còn nhớ câu:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An!

Thanh lịch bao gồm thanh tao và lịch lãm, đây là những tính cách đặc trưng của người Hà Nội ngày xưa. Đó là sự kết tinh của con người và mảnh đất được chọn là thủ đô của nước Việt suốt gần một nghìn năm qua, trừ thời nhà Nguyễn.

Sự thanh lịch của người Hà Nội ngày xưa đã được các nhà văn, các thi sĩ hết lời ca ngợi và đã được người dân cả nước biết đến và hâm mộ. Ai trong đời cũng ao ước được đến với Hà Nội dù chỉ một lần. Những người con của Hà Nội dù đi khắp bốn phương trời nhưng tâm hồn lúc nào cũng luôn hướng về Hà Nội. Các tình khúc viết về Hà Nội luôn là những tình khúc hay nhất, đi vào lòng người nhất.

Người Hà Nội không những thanh tao và lịch lãm mà còn là những người hào hoa, phong nhã từ giọng nói đến cách ăn mặc, cách cư xử lẫn sự hào phóng rộng lượng. Rất nhiều người trong chúng ta luôn lấy những tính cách đó để làm “chuẩn” cho mình hay để dạy dỗ con cái…

Nhưng than ôi! Những nét đẹp và cao thượng của người Tràng An xưa có còn không dưới thời đại mà chúng ta đang sống? Người Hà Nội ngày nay được biết đến nhiều hơn với lối sống ích kỷ, chỉ biết đến mình, còn thì sống chết mặc bay, và tính cách trưởng giả coi người bằng nửa con mắt, bon chen và cả sự hống hách…

Đến Hà Nội bây giờ cái “lo” nhiều hơn là cái “phục”, cái xấu nhiều hơn cái tốt, sự cảnh giác lớn hơn là sự tin yêu. Tôi rất thích các bài viết của tác giả Vương Văn Quang (trên Đàn Chim Việt), nhất là khi tác giả viết về Hà Nội, một Hà Nội trần trụi, một Hà Nội khác xa trong thơ ca, khác xa trong tâm trí của những người luôn mang hình ảnh của Hà Nội trong tim. Tác giả đã cảm nhận và cho mọi người hiểu vì sao có câu “vội vã trở về, vội vã ra đi” trong một tình khúc bất hủ nói về Hà Nội.

Và mọi người cũng sẽ có cảm giác thất vọng và xấu hổ về “văn hóa của người Hà Nội” khi xem các hình ảnh về Lễ hội hoa đầu năm dương lịch 2009 tại Hà Nội và trước đó là Lễ hội Hoa Anh Đào (6/4/2008) cũng tại Hà Nội.

Có nhiều người đã viết về sự xấu hổ và ê chề này, tôi chia sẻ với hai bài viết của tác giả Hoàng Cúc trên Thông Luận và ông “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”Ngô Nhân Dụng trên báo Người Việt.

Có lẽ không có từ nào xứng đáng để gọi những hành động vô văn hóa khi người xem lễ hội tha hồ vặt, cướp, giật, đạp, phá tan tành những cây hoa, thảm cỏ đã được những nghệ nhân mất bao công sức chăm sóc “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”… Tác giả Hoàng Cúc gọi đó là “văn hóa cướp giật” và “văn hóa huỷ diệt”, mà cướp giật và huỷ diệt cái đẹp thì không thể hiểu và thông cảm được.

Vì đâu nên nỗi?

Chúng ta hãy thẳng thắn và đừng ngụy biện đổ lỗi cho người dân. Chẳng lẽ sống 60 năm dưới chế độ cộng sản ưu việt được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê vô địch và dẫn dắt bởi tư tưởng Hồ Chí Minh mà dân trí thủ đô chỉ đạt đến thế thôi sao? Nên thay dân hay thay đảng? Dân thì “vạn đại” nên làm sao mà thay dân được? Bảo “dân trí thấp”, nhưng vì ai mà thấp? Tại sao mà thấp? Dân trí thấp, thế còn “quan trí”?

Chắc là đến giờ mọi người vẫn chưa quên được câu chuyện và hình ảnh các “ông đồ” viết câu đối Tết trước Văn Miếu đã bị công an dùng vũ lực giải tán vì tội “buôn bán trái phép và lấn chiếm lòng lề đường”? Chính quyền Việt Nam đã dùng dùi cui để “nói chuyện” phải trái với các ông đồ và cái chữ của thánh hiền! Nhìn bức ảnh một ông đồ già vái lạy các “lực lượng chức năng” xin tha cho tội “bán chữ của thánh hiền” mà không thể không phẫn nộ. Ông Hà Sĩ Phu đã phải thốt lên rằng đúng là “họ nhà tôm, cứt lộn lên đầu”.

Người ta đã tìm mọi cách đổ lỗi cho các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng đó là những lời nói dối. Chính “văn hóa Đảng” đã giết chết và bức tử văn hóa người Tràng An xưa nói riêng và văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung.

Chủ nghĩa Mác-Lênin ngoại lai và độc hại với chủ trương đấu tranh giai cấp, cách mạng chuyên chính và bạo lực cách mạng đã huỷ hoại và giết chết nền văn hóa dân tộc được giữ gìn qua hàng nghìn năm lịch sử.

Chế độ và nhà nước cộng sản Việt Nam đã tiêu diệt tinh thần yêu nước của người Việt qua những cuộc đàn áp sinh viên và thanh niên biểu tình chống Trung Quốc xâm lược mới đây. Nhà cầm quyền đã tước đoạt quyền làm chủ đất nước của người dân Việt Nam. Ông Nguyễn Tấn Dũng mới đây đã tuyên bố xanh rờn rằng việc cho phép Trung Quốc đem người vào Tây Nguyên để khai thác quặng Bô-xít là “chủ trương lớn của Đảng và nhà nước”! Thế còn hơn 80 triệu người dân Việt Nam thì sao? Kể cả những tiếng nói rất chân thành của một người rất đáng kính đó là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp? Ông Dũng quên rằng ông Võ Văn Kiệt đã khẳng định đất nước Việt Nam của toàn thể người Việt Nam chứ không phải của riêng tôn giáo hay đảng phái nào hay sao?

Dưới chế độ cộng sản, người dân được khuyến khích làm giàu, ăn chơi nhưng không được tham gia bàn luận chuyện chính sự, đó là việc riêng của đảng. Văn hóa Đảng dạy người dân là phải dùng “bạo lực” để nói chuyện “tử tế”, mọi người phải luồn lách cốt được việc mình, hoặc để yên thân còn mọi người xung quanh, cái hay cái đẹp thì…mặc kệ nó. “Văn hóa đảng” dạy rằng tham nhũng, ăn cắp, trấn lột, cướp giật phải xem là thành tích và phải tự hào chứ không việc gì phải xấu hổ hay áy náy. Cứ xem cách bọn quan chức ăn chơi, xài tiền và coi thường dư luận như thế nào thì rõ.

Người dân Việt Nam đã “thấm nhuần” văn hóa đảng nên chỉ cần “nhìn đểu” nhau hay va quệt nhỏ trên đường là án mạng đã có thể xảy ra. Ra đường ai không vượt đèn đỏ và vi phạm luật giao thông thì đó là người hâm người dở hơi. Thấy tai nạn xảy ra thì việc hôi của cướp giật là việc phải làm đầu tiên thay vì cấp cứu người bị nạn, con vác dao chém bố vì chia tài sản không đều đã thành “chuyện thường ngày ở huyện”…

Thứ văn hóa quái dị có tên là “văn hóa đảng” vẫn đang tàn phá quê hương từng ngày, từng giờ thông qua việc tổ chức các lễ hội hoành tráng và cực kỳ tốn kém trên khắp mọi miền đất nước. Cả thế giới đang rơi vào cảnh suy thoái và khủng hoảng mà Việt Nam cũng không tránh khỏi. Thay vì tập trung sức người sức của cho việc khôi phục kinh tế, chăm lo đời sống cho người dân nghèo, thất nghiệp, tạo công ăn việc làm cho nhân dân…chính quyền cộng sản đã tổ chức hàng trăm lễ hội lớn nhỏ trên khắp đất nước, số tiền chi ra lên đến hàng nghìn tỉ đồng, với bao nhiêu công sức bỏ ra để rồi “mua vui cũng chỉ một vài trống canh”, sau đó nghèo vẫn hoàn nghèo! Đây là một tội ác cần được lên tiếng!

Xã hội sẽ đi về đâu? Tương lai nào chờ đón chúng ta?

Nếu còn chế độ cộng sản thì sẽ không có tương lai cho người Việt Nam, và nếu có tương lai cho người Việt Nam thì không thể có chế độ cộng sản. Người dân Việt Nam, tầng lớp trí thức Việt Nam, những tướng lĩnh của Việt Nam phải ý thức được điều đó để biết mình phải làm gì.

Văn hóa của Việt Nam nói chung và văn hóa người Tràng An nói riêng có còn hay đã mất? Tôi tin là vẫn còn nhưng đang phải “ẩn náu” hoặc rút vào hoạt động bí mật trước sức mạnh và sự huỷ diệt của “văn hóa đảng”. Văn hóa Việt Nam đã không hề bị đồng hóa suốt một nghìn năm Bắc thuộc thì nó cũng sẽ không bị đồng hóa bởi “văn hóa đảng”.

Văn hóa Việt Nam được xây dựng trên tinh thần vị tha, đoàn kết và bao dung sẽ được người Việt gìn giữ và truyền lại cho con cháu. Văn hóa dân tộc sẽ được hồi sinh và phát triển khi đất nước không còn cộng sản và không còn bị “văn hóa đảng” ngự trị.

วันเสาร์ที่ 31 มกราคม พ.ศ. 2552

No281: Ðỉnh cao chói lọi: Chuyện tình bi thảm của Hồ Chí Minh?


Straits Times 29/01/09, Phạm Giang Sơn lược dịch


Bà Dương Thu Hương
Một cuốn tiểu thuyết nóng bỏng của nhà văn bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất Việt Nam, dựa trên “vị cha già dân tộc” Hồ Chí Minh, cho rằng ông ta bí mật có một cô bồ nhí, và cô ấy bị chính các đồng chí của ông Hồ hãm hiếp rồi giết chết.

Trả lời phỏng vấn từ Paris, nơi bà đang sống lưu vong và cũng là nơi mà cuốn tiểu thuyết trên được xuất bản trong tháng này, bà Dương Thu Hương, 61 tuổi, cho rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã giấu kín câu chuyện về những năm cuối đời của vị anh khùng dân tộc Hồ Chí Minh.

Giống như các tác phẩm trước đây của bà, cuốn “Ðỉnh cao chói lọi” (The Zenith) - đặt Hồ Chí Minh vào vai nhân vật gọi là “Chủ tịch” - bị cấm bán trong các tiệm sách ở Việt Nam, nhưng được phổ biến trên mạng Internet, thu hút gần 100 ngàn đọc giả và sự chú ý nghiêm trọng rộng rãi từ khắp nơi.

Căn cứ trên 15 năm nghiên cứu tìm hiểu, bà Hương cho rằng vào thập niên 1950s, vị lãnh tụ già nua đã phải lòng một người đàn bà trẻ hơn ông ta đến 40 tuổi, bà này đẻ cho ông ta 2 đứa con, rồi bị ám sát chết vào năm 1957 do lệnh của đảng để ngăn ngừa họ không được chính thức lấy nhau.

“Các đồng chí của ông ta sợ hãi rằng việc họ lấy nhau sẽ gây tai hại cho hình ảnh như một vị thánh của ông ta”, bà Hương cho hãng thông tấn AFP biết.

“Ở phương Tây thì người ta tôn sùng tuổi trẻ. Nhưng ở Á Châu thì ngược lại, chúng tôi tôn kính những người gìa cả. Ông Hồ không đươc phép làm một người tình cũng như không được phép làm một người chồng, để phải phung phí sức lực với xác thịt của một người đàn bà.”

Bà Hương cho rằng cô bồ nhí của ông Hồ, tên là cô Xuân, đã bị đập chết và xác bị quăng trên một con đường để nguỵ trang vụ giết người này như là một tai nạn giao thông, và các giới chức trong đảng đã xóa sạch mọi vết tích của chuyện tình này trên hồ sơ công cộng.


Cô Nông Thị Xuân, người tình của ông Hồ
Bà Hương nói rằng Hồ Chí Minh đã mang bí mật về cái chết của cô Xuân xuống mồ, khi ông ta qua đời vào tháng 9/1969 đúng vào dịp kỷ niệm ngày lễ độc lập của Việt Nam. Ông Hồ lúc đó gần 80 tuổi, yếu đuối và bệnh hoạn, theo tác giả, khi ông vội vã muốn đẩy nhanh cái chết của chính mình bằng cách tự rút ra khỏi ống truyền tĩnh mạch vào ngày 2/9, chọn ngày biểu tượng này như một hành động bướng bỉnh cuối cùng phản đối đảng, để “nguyền rủa trù yểm cái chế độ thối nát”

“Bọn tội phạm đồng chí của ông Hồ hiểu rằng ông ta chọn ngày chết 2/9 để báo hiệu sự xụp đổ sắp đến của chế độ. Cho nên chúng xuyên tạc sự thật và ghi ngày qua đời của ông ta là ngày 3/9”, bà Hương nói.

Là một trong những lãnh tụ cộng sản có nhiều ảnh hưởng nhất của thế kỷ thứ 20, Hồ Chí Minh đã lèo lái phong trào giải phóng dân tộc Viêt Nam gần 3 thập niên, và là chủ tịch của Bắc Việt từ năm 1945 cho đến khi ông ta qua đời.

Thú nhận rằng bà đã tự tiện thay đổi thực tế lịch sử trong câu chuyện tình ngang trái, mang nhiều tình tiết chính trị và bội bạc, nhưng bà Hương vẫn giữ vững lập trường về câu chuyện người bạn đời của Hồ Chí Minh bị giết chết và hoàn cảnh cái chết của ông ta.

“Mọi người phải hiểu rằng, họ đã bị lôi kéo, làm cho xấu hổ và bị lừa bịp bởi những kẻ lãnh đạo họ”, bà nói.

Nguyên là một nữ chiến sĩ anh hùng trong cuộc chiến Việt Nam đã quay lại chống chế độ cộng sản vào thập niên 1980s, bà Hương bị bỏ tù 8 tháng vào năm 1991 vì các bài viết của bà, và cuối cùng bỏ nước vào năm 2006 để đi sống một cuộc đời lưu vong ở Paris.

Bà kể, “Tôi bị bó buộc phải sống với thành phần bị chế độ ruồng bỏ và cùi hủi. Tôi không còn là đứa con yêu dấu của đảng. Tôi trở thành kẻ thù của đảng, và bị mắng chửi, bị gọi là một con đĩ gìa”.

Bà Hương khẳng định rằng bà không có ý muốn tham gia chính trị nhưng tự mô tả mình là một nhà hoạt động dân chủ, và mạng Internet là một “vũ khí tranh đấu cho dân chủ”

Bà hiến dâng tác phẩm mới nhất của bà cho một người bạn, đồng thời cũng là một nhà văn bất đồng chính kiến, Lưu Quang Vũ, người mà bà cho rằng đã bị chết cùng với người vợ là một nhà thơ và đứa con trong một tai nạn lưu thông giả tạo do nhà cầm quyền Việt Nam dàn cảnh vào năm 1988.

"Tất cả mọi người đều biết sự thật. Tất cả mọi người đã sống dưới bóng tối lịch sử bị bóp méo. Nhưng giới trí thức thượng lưu lại ngoảnh mặt đi chỗ khác, họ cúi đầu, vì sự hèn nhát”, bà nói.

Cuốn “Ðỉnh cao chói lọi” hiện đang được chuyển dịch sang Anh ngữ, và sẽ được xuất bản ở Hoa Kỳ vào năm tới. – AFP


Chuyện tình bi thảm của Hồ Chí Minh?

http://www.straitstimes.com/Breaking+News/SE+Asia/Story/STIStory_331750.html

วันเสาร์ที่ 17 มกราคม พ.ศ. 2552

No255: Cảm nghĩ khi đọc “Đêm giữa ban ngày”


Vài cảm nghĩ khi đọc tác phẩm
Đêm giữa ban ngày, hồi ký của Vũ Thư Hiên
do Tủ sách Tiếng Quê Hương (*) tái bản, 2008

Tác phẩm hồi ký Đêm giữa ban ngày ấn hành lần đầu tại California năm 1997 đã trở thành cuốn sách Việt ngữ bán chạy nhất nhiều năm tại hải ngoại, vì tiết lộ nhiều sự việc giấu kín trong hành động và chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tác giả Vũ Thư Hiên không phải đảng viên Cộng Sản nhưng có nhiều năm kề cận bên cạnh Hồ Chí Minh, vì là con của ông Vũ Đình Huỳnh, một đảng viên Cộng Sản từ thập niên 1930 và bí thư của Hồ Chí Minh từ 1945. Ông Vũ Đình Huỳnh chống lại các chủ trương Cải Cách Ruộng Đất, đàn áp trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm và cho rằng đảng Cộng Sản đã phản bội quyền lợi đất nước nên năm 1967 bị bắt giam.

Lúc đó, Vũ Thư Hiên mới du học từ Nga về, hoạt động trong ngành báo chí và điện ảnh miền Bắc Việt Nam cũng bị bắt giam cùng với cha và nhiều nhân vật Cộng Sản tên tuổi khác cho tới năm 1976.

Sau nhiều năm sống dưới kiềm chế, Vũ Thư Hiên trốn được sang Nga năm 1991 và mấy năm sau trốn qua Ba Lan, rồi qua Pháp. Cuốn hồi ký hoàn thành trong thời gian này được tác giả coi như lời sám hối của chính cha mình vì đã lầm tin theo đảng Cộng Sản bỏ cả cuộc đời đấu tranh cho một mục tiêu biến chính mình và đồng bào thành những nạn nhân bị đày đoạ.

₪₪₪


Cho tới tháng 4, 2003, với tôi, Vũ Thư Hiên chỉ là một cái tên như mọi tên gọi khác. Tôi chưa hề biết gì về người mang tên này, kể cả khi bắt tay nhau lần đầu sau lời giới thiệu của người bạn. Đó là một buổi tối tại San Jose khi chúng tôi cùng có mặt tại nhà bạn tôi.

Ngày đó, tôi vừa thoát khỏi cuộc sống bít bùng tại Sài Gòn nhưng lại phải qua một thời khoảng biệt lập giữa những bức tường bệnh viện tại Virginia. Cơ hội mở rộng tầm nhìn đối với tôi hết sức hạn chế, nhất là để xác định về người và việc ở xung quanh.

Nhưng thật lạ là chỉ sau cái bắt tay, cả hai chúng tôi đều không có thái độ e dè thường có giữa những người xa lạ. Vì thế, mấy ngày sau gặp lại Vũ Thư Hiên tại toà soạn Người Việt ở Nam California, tôi có cảm tưởng gặp lại một người bạn cũ. Dịp này, Vũ Thư Hiên đi cùng một bạn trẻ được giới thiệu vừa từ Ba Lan qua. Cả hai chắc chắn cũng chỉ biết về tôi qua cái tên gọi, nhưng chúng tôi đã quây lại như ba người từng quen biết lâu năm vừa có dịp tái hội. Từ ngày đó, tuy đường ai nấy đi, tôi luôn thấy giữa chúng tôi như có một ràng buộc nào đó.

Cảm giác này khiến tôi thường thắc mắc: Tại sao?

Trên thực tế, giữa chúng tôi là những khoảng cách vời vợi về không gian và càng vời vợi hơn về hướng sống kể từ khi tất cả chưa rời khỏi tuổi trẻ thơ.

Nếu có một tương đồng, tôi chắc không ngoài tâm trạng hồn nhiên của hầu hết lớp tuổi chúng tôi vào thời gian diễn ra cuộc thế chiến thứ hai. Thời đó, dù chưa biết chính trị là gì, thậm chí chưa thể có một ý nghĩ nhỏ nhoi nào về dân tộc, về chủ quyền – vì chỉ là những đứa trẻ mới bước vào các lớp Moyen Un, Moyen Deux, Supérieur tức chưa qua bậc tiểu học – hầu hết chúng tôi đều ghét người Pháp. Nguồn cỗi nào, tác động nào đưa đến tâm trạng này là điều tới nay tôi chưa xác định nổi. Ngay giữa khi bị cuốn hút trong những trò chơi thơ dại, chúng tôi đã ghét người Pháp một cách tự nhiên như ghét các mụ phù thuỷ trong truyện của Perrault, của anh em nhà Grimm hoặc loài ma quái trong cổ tích – một tâm trạng gần như hồn nhiên tự tại.

Tâm-trạng-tương-đồng-nếu-có này chính là động lực đẩy chúng tôi vào các hướng ngược chiều khi tới tuổi trưởng thành.

Nhiều người chọn hàng ngũ kháng Pháp do cộng sản lãnh đạo, nhiều người lại thấy cộng sản là hiểm hoạ cần loại trừ trước khi loại trừ người Pháp. Giữa hai chọn lựa đó là những người xác định cần đương đầu cùng một lúc với cả hai kẻ thù Pháp và cộng sản. Các hướng đi này hiển nhiên không ràng buộc chúng tôi mà đã đặt chúng tôi vào thế đứng thù nghịch.

Thắc mắc về cảm giác ràng buộc còn thêm dấu hỏi vì bên cạnh chúng tôi là người bạn thuộc lớp tuổi không mang chung tâm trạng hồn nhiên của chúng tôi, không hề có quyền chọn lựa – vì chỉ là sản phẩm tất yếu của thời thế.

Qua nhiều thời điểm, tôi đã gặp nhiều câu trả lời.

Năm 2004, ngồi bên lề đường Bà Triệu tại Hà Nội với Kiều Duy Vĩnh và Nguyễn Thiệu Giang, tôi nghe Kiều Duy Vĩnh phát biểu: “Vũ Thư Hiên đúng là nghệ sĩ, lúc nào cũng lao theo những hứng cảm của mình.”

Không lâu sau, tôi nhận được một lời than cho bạn của Bùi Ngọc Tấn sau khi có dịp nhìn rõ cảnh sống của Vũ Thư Hiên trên đất Pháp. Theo Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên phải chấp nhận quá nhiều mất mát để có thể được làm theo tâm nguyện. Vì nếu ở lại, dù bị ngược đãi cách nào Vũ Thư Hiên chắc chắn vẫn luôn có người thân ở kế bên để tránh khỏi những phút cô đơn câm nín tới hãi hùng. Tuy nhiên, buổi tối cuối năm 2007 bên bờ sông Sài Gòn, Bùi Ngọc Tấn lại xốn xang khi nhắc tới một loạt bạn bè – Mạc Lân, Vũ Bão, Dương Tường … – do nỗi khao khát tự do bị vùi dập tới nghẹn thở.

Vậy, phải chăng chất nghệ sĩ và nỗi khao khát tự do đã ràng buộc chúng tôi?

Những điều này có thể rất gần với thực tế, nhưng không hoàn toàn là thực tế.

Bởi không có gì bảo đảm rằng những điều này không mang cùng tác động của tâm trạng hồn nhiên mà chúng tôi từng có để sẽ đẩy chúng tôi vào những hướng khác biệt. Vả lại, bên cạnh chúng tôi, chưa hẳn người bạn trẻ sẽ đáp ứng trọn vẹn các điều nêu từ những câu trả lời trên. Cuối cùng, tôi chỉ có thể dừng lại với câu trả lời cất lên từ những trang sách của Vũ Thư Hiên.

₪₪₪


Đêm giữa ban ngày
Nguồn: Tiếng Quê Hương
Đêm Giữa Ban Ngày, như tác giả ghi, chỉ là “một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án biểu hiện tính điển hình cho nền cai trị của đảng Cộng Sản tại miền Bắc Việt Nam.”

Vụ án đẩy nhiều người vào nhà tù và chính tác giả đã trải 9 năm đày đọa.

Nhưng cả vụ án lẫn cảnh sống lao tù đều không phải chủ điểm của tác phẩm mà “chỉ là cái cớ để nói lên những ghi nhận, những cảm nghĩ về một thể chế xã hội” từng có nhiều thế hệ con dân Việt Nam một thời mơ ước và không ít người đã hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền đất nước để tạo điều kiện cho nó hiện hình trên thực tế.

Sự từng trải của bản thân và những cảnh ngộ phát hiện từ ngục tù cho thấy thể chế xã hội đó không chỉ có “hành động phi nhân của những vua chúa mới” mà còn “ép buộc con người dù muốn dù không đều phải đánh mất chính mình.”

Khởi từ ý muốn tốt đẹp của những người lương thiện sẵn sàng dâng hiến cả sinh mạng, con đường đấu tranh đã dẫn đến “một thể chế được áp đặt lên mọi số phận người bị tước đoạt mọi quyền lựa chọn để được sống xứng đáng là người.”

Từng trang sách nhắc tôi nhớ về màn kịch bi hài tại trại tù X.15 Sài Gòn vào một ngày đầu năm 1976.

Viên giám thị dắt theo con chó tới trước một phòng biệt giam, ngoắc người tù lại gần, chỉ con chó nói:

– Đây là con voi!

Trước cái nhìn ngỡ ngàng của người tù, anh ta lập lại:

– Đây là con voi! Nghe rõ chưa?

Người tù thắc mắc:

– Nhưng … nó là con chó.

Viên giám thị dõng dạc nhấn mạnh từng lời:

– Tôi là cán bộ cách mạng. Tôi ra lệnh cho anh phải triệt để tuân hành mọi chỉ thị của cách mạng. Anh phải nói nó là con voi. Nói đi! Nó là con voi!
Người tù băn khoăn, cuối cùng, chậm rãi lên tiếng:

– Nó… là con… chó!

Câu nói mà bất kỳ ai cũng không thể nói khác khiến người tù lãnh một trận đòn tới bất tỉnh, cộng thêm hình phạt cùm cả hai chân và cấm không được nói một lời nào để trở thành người câm suốt hai năm 1976-1977.

Màn kịch bi hài từ một góc trại tù khuất lấp tối tăm có thể coi là lời diễn tả rõ ràng và trung thực nhất về mô hình đời sống mà người cộng sản cố tạo dựng để tự hào “hoàn thành sự nghiệp cách mạng!”

Cho nên không có gì ngạc nhiên khi Vũ Thư Hiên coi 9 năm tù như điều “hữu ích cho bản thân… là giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản.” Và những lời tự thú không dễ có về chính mình đã cất lên cùng một câu tâm sự nhuốm đầy đau đớn:

– “Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn.”

₪₪₪


Tôi nghĩ về những người mà thân xác đã thành tro bụi.

Từ trong lòng đất lạnh hoặc từ những cõi xa xăm mù mịt, hết thẩy có thoát khỏi nỗi chua xót khi nhìn rõ thân phận tràn ngập oan khiên của đồng loại đã hiện hình một phần do các nỗ lực hy sinh của chính mình?

Gần trọn thế kỷ 20, đất nước liên tục bị xô vào thảm cảnh tàn phá bởi đạn bom, chém giết và tới nay vẫn đang lún sâu dưới đáy vực phân ly, thù hận chỉ do tình trạng mê muội khởi phát từ một con người và trở thành một bệnh dịch lan truyền qua nhiều thế hệ.

Tôi nhớ tới lời nói cuối đời của một người bạn khác cũng là một người đã đặt trọn cuộc đời vào hướng đường do cộng sản chỉ đạo. Năm 2002, trước khi vĩnh viễn ra đi, Nguyễn Nguyên (một nhà văn và cũng là một thượng tá công an CS) từ Việt Nam điện thoại qua Mỹ cho tôi chỉ để nói một câu, câu trối cuối cùng:

– “Dân tộc mình bất hạnh cùng cực vì đã có một lãnh tụ là ông Hồ.”

Thực ra, dù mức cuồng tín chủ nghĩa cộng sản và tham vọng tạo sự nghiệp “dắt năm châu đến đại đồng” của Hồ Chí Minh là điều hiển nhiên thì nỗi bất hạnh thực sự của dân tộc Việt Nam phải được nhìn rõ là đã có những người nhẹ dạ đặt trọn lòng tin vào con người ấy. Khát vọng tạo sự nghiệp cá nhân của Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn tàn khốc kể cả núi xương sông máu sẽ không thể tác hại đến ai nếu không có tình trạng mê lầm tán trợ như đã có.

Đoạn đường đó đã qua rồi không thể làm lại bằng bất kỳ cách nào.

Vấn đề thực sự đáng kể vào lúc này là thân phận oan khiên của cả dân tộc chưa tìm được ngõ thoát và sự thành tâm thú nhận mê lầm vẫn hiếm hoi.

₪₪₪


Vũ Thư Hiên ghi lại ý nghĩ của một người bộ đội về lãnh tụ Hồ Chí Minh:

– “Chúng ta nhầm. Bây giờ tôi mới hiểu: Ông Hồ không phải đồng chí của ta, ông ấy cũng là vua như các ông vua khác, lại không phải vua hiền. Ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là quỷ vương”.

Riêng Vũ Thư Hiên vẫn nhớ kỷ niệm tuổi thiếu thời nhởn nhơ trong Bắc Bộ Phủ bên “bác Hồ tôn kính, bác Hồ yêu mến”:

– “Thấy tôi quanh quẩn ở đấy, ông gọi vào phòng, giao cho tôi mấy mảnh giấy nhỏ để tôi chạy xuống đưa cho các chú các bác làm việc ở tầng dưới, hoặc đang chờ ở phòng cảnh vệ…”

Tuy nhiên, nhớ chỉ để buồn, vì “khi nhìn lại, tôi thấy trong tôi chỉ còn trơ trọi một nhận định duy lý, một tình cảm lạnh lẽo đối với ông, như đối với một nhân vật lịch sử.”

Thực tế biểu hiện một chân tướng phi nhân và thúc đẩy sự đoạn tuyệt tình cảm với một kẻ tàn độc không hiếm hoi hay đáng ngờ vực. Nhưng ý nghĩ, thái độ như Vũ Thư Hiên ghi trong Đêm Giữa Ban Ngày chưa thoát khỏi bị vùi lấp.

Giữa lúc cả thế giới coi chế độ cộng sản như một cỗi nguồn tội ác thì tại Việt Nam vẫn vang vọng lời tung hô cỗi nguồn tội ác đó, vẫn kéo dài tình trạng buộc con người từ bỏ cuộc sống để “hoàn thành sự nghiệp cách mạng” chỉ là quyền uy tối thượng của những quỷ vương, bạo chúa.

Mọi con dân Việt Nam, vì thế, đều trở thành nạn nhân bi thảm vì bị tước đoạt mọi quyền sống, bao gồm trong đó không ít nạn nhân đã và đang còn đóng vai thủ phạm gieo rắc tội ác không chỉ cho đồng loại mà cho ngay cả bản thân.

₪₪₪


Uyên Thao 1985, sau 10 năm tù cộng sản
Nguồn: ngythanh
Tôi nghĩ chính cái thân phận nạn nhân chất ngất oan khiên này đã là động lực ràng buộc mọi người trong đó có chúng tôi. Chúng tôi dễ dàng gần gũi tin cậy lẫn nhau bởi đã thấy dù ở hướng đi nào, tất cả đều bị xô vào ngõ cụt do một tình trạng mê lầm khốc hại. Điều đáng tiếc là tình trạng mê lầm kéo dài từ đầu thế kỷ trước vẫn chưa chấm dứt vì những lý do hoàn toàn vô nghĩa.

Cho nên, tác phẩm này được tái bản với mong mỏi góp một phần nhỏ vào việc gióng lại tiếng nói từ thực tế nhắc nhở tầm cần thiết của sự nhìn lại mọi lý do vô nghĩa đang có nơi mỗi cá nhân để kịp thời định thái độ thích nghi cho yêu cầu tự cứu của hết thẩy và tránh cho con cháu chúng ta cảnh dãy dụa trong cõi chết.

Và mong mỏi trước hết của chúng tôi, là gửi được tới những người đang vì bất kỳ lý do gì vẫn cố bám vào cái thân phận vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, lời tâm sự của tác giả – người đã có một thời mang cái thân phận đó:

“Bị bắt năm 1967, những người tù không có án, còn gọi là tù “xử lý nội bộ”, tới năm 1973 mới lần lượt được thả… Người cuối cùng trong số tù nhân được Đảng ban cho ân sủng “xử lý nội bộ” mãi tới tháng Chín năm 1976 mới được ra khỏi cổng nhà tù.

Người tù ấy là kẻ viết những dòng này…

Trong chín năm tù, tôi chỉ làm được một việc có ích cho bản thân và cho những người mà tôi thương yêu là giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế.

Sự nhìn lại đời mình cũng như sự quan sát số phận của đồng bào trong những nhà tù tôi đi qua đã mang lại cho tôi cái nhìn tỉnh táo không riêng với hành động phi nhân của những vua chúa mới, mà cả một thể chế xã hội trong đó con người dù muốn dù không đều đánh mất mình.

Cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay là một phần những quan sát của tôi, một phần những suy nghĩ của tôi về cái xã hội khó hiểu mà số mệnh đã an bài cho tôi sống trong lòng nó. Xã hội này là khó hiểu, bởi vì căn cứ những gì tôi biết, nó khởi sinh từ những ý muốn tốt đẹp, bắt đầu bởi những con người lương thiện… Trong sự biến dạng của những người cộng sản, trong sự tha hóa của họ, cái gì là tác nhân? Chủ thuyết mà họ theo đã nhào nặn con người họ thành ra như thế hay chính họ tự biến đổi để trở lại nguyên hình, cho đúng với bản thể do trời đất tạo ra?...

Cuốn sách này chỉ là một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án cụ thể nhưng mang tính tiêu biểu cho nền cai trị của Đảng Cộng Sản…Cho nên, vụ án chỉ là cái cớ để nói về cái lớn hơn – về một thể chế được áp đặt lên mọi số phận người đã bị tước đoạt mọi quyền lựa chọn để được sống xứng đáng là người…

Trong cuốn sách này chỉ có sự thật theo cách mà tôi hiểu…

Văn học đích thực không có chỗ nơi đây.

Cuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.

Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội…

Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội…

Bởi trong cái xã hội được miêu tả, tôi không đơn thuần là nạn nhân.

Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.

Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình.

Tôi quan niệm kẻ không dám nói “không” trước tội ác là kẻ đồng lõa với tội ác…

Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ. Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.

Cuốn sách này là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại công bằng cho họ.”

วันพฤหัสบดีที่ 8 มกราคม พ.ศ. 2552

No231: Hữu Loan Tự phỏng vấn

Năm 1988, khi cuộc Đổi mới bắt đầu, nhà thơ Hữu Loan rất phấn chấn. Ông đã viết một bài "tự phỏng vấn" gửi cho báo Lao động Chủ nhật nhưng không được in. Nay, 19 năm sau, nhà thơ 91 tuổi đã đồng ý để talawas công bố bài trên. Các chú thích trong bài được phóng viên talawas ghi trực tiếp theo lời của nhà thơ và gia đình trong cuộc gặp gỡ mới đây tại nhà ông.
talawas
Nhà thơ Hữu Loan (ảnh: talawas)
Tiểu sử

Tên Hữu Loan cũng có tên đời là Nguyễn Văn Dao, Sắt Đỏ, Tốt Đỏ, Binh Nhì… Tên chợ là Ông già Vườn Lồi (Phù Viên Lỗi). Sinh năm Bính Thìn (1916), tại thôn Vân Hoàn, Nga Sơn, Thanh Hóa.

Từ 1936 đến 1942 làm cách mạng trong phong trào học sinh và nhà trường.

Từ 1943 đến 1945 về đi cày và đánh cá, làm Việt Minh và làm khởi nghĩa huyện nhà [1] . Cùng năm làm Ủy ban Lâm thời tỉnh phụ trách 4 ty Giáo dục, Thông tin, Công chính và Thương chính. Chán lại về đi cày và đánh cá nuôi bố mẹ già.

Từ nửa năm 1946 đến 1951, điện mời làm chủ bút báo Chiến sĩ Quân khu IV ở Huế. Gặp Nguyễn Sơn, ủng hộ đường lối ưu tiên với văn nghệ sĩ [2] .

Khi Nguyễn Sơn bị đình chỉ công tác, trả cho Trung Quốc, đường lối Nguyễn Sơn bị Lê Chưởng và Hoàng Minh Thi phản đối, Hữu Loan đề nghị giữ Phạm Duy ở lại không được, lại về đi cày cho đến 1954 tiếp quản thủ đô lại có điện mời ra làm biên tập cho báo Văn nghệ, được mời vào làm hội viên Hội Nhà văn. Sau tham gia Nhân văn rồi bỏ về đi cày, đi thồ, từ 1958 cho đến giờ (cuối 1987) [3] …

Phóng viên: Từ mấy chục năm nay trong dân gian và trong văn học thường hay nói đến "Nhân văn-Giai phẩm", đến "vụ án Nhân văn-Giai phẩm" như là một chuyện gì ghê gớm lắm mà những người đã tham gia vụ ấy là những tên đầu trộm đuôi cướp, lừa đảo không thể dung tha được, những bọn cặn bã xấu xa nhất của xã hội ta. Nhưng trong thực tế thì thơ, nhạc của họ đều được nhân dân truyền tụng ngầm rồi đến công khai, cấm cũng không xong, càng ngày càng lan tràn. Ngay cả đến nhà nước lại cũng đã tuyên bố phục hồi cho họ, in lại thơ, lại nhạc. Như thế là trước kia không phải họ sai mà nhà nước sai hay sao? Nếu nhà nước sai thì làm gì còn có "vụ án Nhân văn"? Có sai mới có án, mà đã không thì cái gọi là "vụ án Nhân văn" là một vụ oan. Nhưng mới gần đây vẫn có người trịnh trọng tuyên bố "vụ Nhân văn" là một vụ án. Chúng tôi là những người cầm bút chuyên môn mà vẫn thấy mâu thuẫn khó hiểu, huống hồ người dân thì lâu nay chỉ được thông tin một chiều… Họ thắc mắc hỏi chúng tôi, chúng tôi rất lúng túng không giải thích nổi. Vậy thì thưa ông Hữu Loan, ông đã là người trong cuộc, xin ông giảng lại cho: Thế nào là "Nhân văn"? Thế nào là "Vụ án Nhân văn"?

Hữu Loan: Tất cả mọi cái này, tôi đã có ý kiến đầy đủ trong bản kiểm điểm của tôi ở trại chỉnh huấn Nhân văn. Các anh nên đến qua Công an Hà Nội tìm đọc thì hơn.

Phóng viên: Bác ngại sao?

Hữu Loan: Cũng ngại chứ!

Phóng viên: Vì sao vậy?

Hữu Loan: Vì tuổi tác cũng có. Nhất là vì mới đây thấy hưởng ứng lời kêu gọi tự do báo chí, Nguyên Ngọc chỉ cho đăng số bài của các nơi gửi về mà đã bị kết tội là sai phạm lệch lạc nghiêm trọng hơn nhiều, rồi hết cuộc họp này đến cuộc họp khác, để kiểm điểm, để bàn cách đối phó. Nhưng dù sao, khắp nơi các báo chí đều dám lên tiếng ủng hộ Nguyên Ngọc.

Còn hồi tôi về thì không một người bạn nào dám đến đưa chân ngay ở nhà chứ đừng nói ra ga, mặc dù có những bạn tôi đã đấu tranh cho được vào biên chế, được vào Hội Nhà văn mà mới cách đây vài năm đi công tác qua nhà tôi cũng vẫn còn sợ liên quan không dám vào. Họ đều đổ cho là tại chế độ, tại tình hình. Nhưng nếu chế độ là chế độ thì người cũng phải là người chứ. Cái gì cũng có giới hạn của nó. Đấy là bè bạn, là người ngoài. Ruột thịt đối với tôi còn tàn nhẫn hơn nhiều.

Những năm 1943, 1944, 1945, Nhật đánh Pháp ở ta dữ dội, trường tư tôi dạy phải đóng cửa, tôi về quê vừa làm ruộng, đánh cá để nuôi bố mẹ và để hoạt động Việt Minh bí mật. Mấy năm ấy đói to. Bố mẹ tôi vẫn phải nhịn cháo rau cho cán bộ Việt Minh bí mật về ăn. Những người cùng ở ban khởi nghĩa với tôi làm to cả, gia đình nào bố mẹ cũng sung sướng, nguyên tôi lại về. Mẹ tôi buồn ốm chết. Bố tôi chửi tôi:

“Mày làm Việt Minh chặt hết của tao một giặng tre để rào làng, rào giếng.”

Các cháu trong nhà trong họ không đứa nào không chửi:

“Ông về là đúng! Trời làm tội ông. Lúc ông phụ trách 4 ty còn ai nhiều chức hơn ông mà con cháu chả đứa nào được nhờ. Ông cho trong huyện hơn bốn mươi người ra làm giáo viên, con cháu xin thì ông bảo: ‘Chúng mày rồi hẵng…’ Ông chỉ toàn khuyên các cháu đi bộ đội. Nghe ông, bốn đứa xung phong đi, giờ còn có một đứa về… Hồi Việt Minh còn đang bí mật, ông đứng ra lãnh gạo, muối, diêm về phát cho dân. Ông phát cho dân trước, đến lượt ông và con cháu ông lần nào cũng hụt, có lần hết sạch. Bây giờ ông coi họ lãnh sữa bột, dầu cải của quốc tế cho trẻ em, họ chia nhau trước, đến lượt trẻ em thì hết. Không ai dại như ông. Khi ông có tiêu chuẩn xe con, đi các huyện khác thì ông còn đi xe con chứ khi nào về huyện ta ông toàn đi xe đạp, trong khi những người không có tiêu chuẩn xe, họ mượn xe của ông để về vênh váo với làng nước. Ông bảo ông làm cách mạng, để cho cả làng được đi học. Khi cách mạng thành công thì thằng con ông thi đại học đậu thừa điểm đi nước ngoài họ không cho đi ngay cả trong nước và chúng đã thay vào chỗ con ông một tên Cường không đậu, tên na ná với tên con ông là Cương.”


Có đứa nó như phát điên và nó đã chửi tôi:

“Ông là loại ngu nhất. Ông bảo ông mẫu mực, cái mẫu mực ấy đem mà vứt cho nó ăn. Chả đứa nào nó thương ông. Ông tự làm khổ ông lại làm khổ lây đến con cháu…”

Mỗi lần như thế tôi phải đấu dịu với chúng:

“Thôi tao van chúng mày, nếu mẫu mực mà lại được ngay ô tô nhà lầu thì chúng tranh chết nhau để làm mẫu mực chứ chả đến phần tao. Ngay ngày 2/9, bên xã mổ thịt bán tự do cho dân về ăn Quốc khánh, tao biết thân phải đến rất sớm mà cũng chả đến phần. Những ông Đảng ủy, Ủy ban v.v… được mua trước, đến mình thì hết phần…”

Phóng viên: Như vậy là bác chán không muốn nói đến chuyện "Nhân văn-Giai phẩm" nữa?

Hữu Loan: Ai mà chả phải chán. Mình đấu tranh cho họ, bênh vực họ, khổ vì họ, họ lại đè mình họ chửi, họ oán. Những kẻ gây tai họa cho họ, họ lại cho là đúng, là gương để cho họ noi theo.

Phóng viên: Xưa nay bác vẫn là người nói thẳng, nói thật, lúc trẻ bác còn dám nói, giờ già rồi không lý nào bác lại sợ, lại hèn?

Hữu Loan: Anh kích tôi đấy phỏng? Tôi là người không bị động bao giờ.

Phóng viên: Cháu không dám hỗn thế đâu, nhưng đây là một vấn đề của lịch sử, trước sau rồi cũng phải đưa ra ánh sáng. Chỉ có bác là người trong cuộc, bác giúp cho bọn cháu thì nó cụ thể hơn, sát hơn, để các cháu có thể hiểu được những cái vô cùng rắc rối của giai đoạn xã hội hiện nay…

Hữu Loan: Thực ra nếu bên Liên Xô không có Khrushchev lật Stalin, đưa ra phong trào chống sùng bái cá nhân thì bên Tàu không làm gì Mao Trạch Đông đưa ra chuyện “Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng" và bên ta hưởng ứng tức thời bằng phong trào mang tên dịch lại nhãn hiệu Trung Quốc “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Tên nôm na của ta là “Chống sùng bái cá nhân”.

Trước đó thì ở ta có hiện tượng rất phổ biến này: Khi gặp nhau, trước bất cứ câu đối đáp nào đều phải có nhóm thành ngữ “ơn Đảng ơn Bác" đứng đầu. Thí dụ:

“Ơn Đảng ơn Bác, đồng chí có khỏe không?”

“Dạ, ơn Đảng ơn Bác lâu nay tôi ốm mãi, ơn Đảng ơn Bác tôi mới xuất viện được 2 hôm nay.”

“Ơn Đảng ơn Bác thế mà em không hay biết gì…”

Sau hàng tháng phát động đấu tranh kiểm điểm ở từng cơ quan để bỏ chữ Bác đi và thay thế bằng: “Ơn Đảng ơn Chính phủ”:

“Ơn Đảng ơn Chính phủ vụ mùa này thu hoạch có đủ nộp không?”

“Ơn Đảng ơn Chính phủ nhà em có con lợn mới độ 30 ký đang lớn, thanh niên cờ đỏ vào bắt nợ rồi, được bao nhiêu thóc đong hết sạch mà còn thiếu phải bù bằng lợn…”

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc liên tiếp bị đô hộ, hết Tàu đến Tây, đến Nhật, đến Mỹ… Cái khao khát, cái đói cố hữu của dân tộc này là đói độc lập, tự do, cơm áo. Khi thấy Đảng hứa đem lại những thứ ấy cho thì người dân tin tuyệt đối vào Đảng. Đảng bảo gì họ theo nấy, bảo phá nhà thì phá nhà, bảo bỏ ruộng thì bỏ ruộng, bảo bỏ bố bỏ mẹ, bỏ vợ bỏ chồng, bỏ Trời bỏ Phật, bỏ được tất, còn dễ hơn từ bỏ đôi dép rách. Anh đội trưởng cải cách chỉ là một sứ giả của Đảng mà dân cũng đã tin hơn trời: “Nhất đội nhì trời”.

Lòng dân tin vào Đảng không thước nào đo được, nên khi phát động để phủ nhận một điều gì Đảng đã chủ trương trước kia, thật là vô cùng khó khăn. Nguyên chỉ để thay đổi câu “Ơn Bác ơn Đảng” và kiểm điểm những việc làm trước kia có tính chất sùng bái cá nhân mà cũng mất hàng tháng phát động ở mọi cơ quan.

Khẩu hiệu là “Nói thẳng, nói thật, nói hết để xây dựng Đảng!” Không những nói mồm mà còn viết lên các báo. Không những viết lên các báo nhà nước mà còn khuyến khích mở báo tư nhân để viết. Vì thế mới có Nhân văn, Giai phẩm của chúng tôi. Và Trăm hoa của Nguyễn Bính.

Bài thơ “Màu tím hoa sim” của tôi (từ trước vẫn do dân tự tiện truyền tụng ngầm, bất chấp lệnh nghiêm cấm của những tướng trấn ải giáo điều), được đăng công khai lần đầu tiên báo Trăm hoa. Nguyễn Bính còn cho thuê taxi có loa phóng thanh đi quảng cáo khắp Hà Nội là Trăm hoa số này có thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Mấy tháng sau tôi đi cải cách ruộng đất, làm bài thơ “Hoa lúa”, 22 anh em nhà báo nhà văn đi cải cách truyền tay nhau chép. Chị Bạch Diệp báo Nhân dân xin chép đầu tiên, nhưng ý trung nhân của chị là anh Xuân Diệu ở báo Văn nghệ không đăng, bảo là thơ tình cảm hữu khuynh, mất lập trường. Trần Lê Văn đến mách với Nguyễn Bính, Bính đến xin ngày bài “Hoa lúa” về đăng Trăm hoa. Anh Bính còn làm một cử chỉ rất hào hùng là đem đến trả cho vợ tôi 15 đồng nhuận bút, trong khi đăng Văn nghệ chỉ được 7 đồng.

Anh bảo với vợ tôi: “Hữu Loan ở nhà thì tôi xin (tôi vẫn viết không lấy nhuận bút để giúp những tờ báo nghèo, mới ra) nhưng Hữu Loan đi cải cách chị cũng cần tiêu (15đ bằng 150.000đ bây giờ). Một chỉ vàng lúc ấy mới 20 đ. Nói ra điều này để thấy rằng mức sống của người cầm bút hiện nay đã vô cùng xuống dốc. Nhuận bút của cả một quyển sách hiện nay không bằng tiền của một bài thơ Nguyễn Bính trả cho tôi. Nhà thơ Tố Hữu đã có dự báo thiên tài: “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng!” Từ ấy đến giờ xuống dốc tuồn tuột không phanh, không thắng…

Chính sự xuống cấp thảm hại trong đời sống đã là nguyên nhân chính trong việc lưu manh hóa một số nhà văn, họ đã phải uốn cong ngòi bút, cũng như trong việc in sách đen sách trắng vừa rồi.

Phóng viên: Xin bác cho biết lại về vụ "Nhân văn".

Hữu Loan: “Nói thẳng nói thật, nói hết, để xây dựng Đảng”. Không những chỉ có Nhân văn hay Trăm hoa mới nói thật, mà cả nước nói thật. Cả nước kêu oan. Những “Ban Giải oan” đã thành lập để vào trong các nhà tù giải oan cho hàng vạn người bị cải cách quy oan….

Nhưng đã ăn thua gì. Đơn từ kêu oan từ các nơi gửi về tòa soạn Nhân văn thật đã cao bằng đầu, như “đống xương vô định”. Nhân văn đã xếp thành văn kiện chuyển cho Trung ương Đảng nghiên cứu để thay đổi chính sách. Thật ra Nhân văn chỉ khái quát tình hình để đúc thành lý luận. Bài báo bị cho là phản động, phản Đảng, phản dân nhất của Nhân văn là bài “Vấn đề pháp trị” do Nguyễn Hữu Đang viết [4] .

Trong bài ý nói: sở dĩ chỗ nào cũng có áp bức chà đạp lên con người là vì chưa có pháp luật rõ ràng. Tòa án là một tòa án tha hồ tùy tiện còn hơn Tôn giáo Pháp đình của giáo hội La Mã hồi Trung Cổ. Muốn bắt ai thì bắt, muốn xử ai thì xử, bịa ra luật nặng nhẹ tha hồ để xử… Bài báo kêu gọi cần phải phân quyền thì người dân mới có bình đẳng trước pháp luật… Sau hơn ba mươi năm do tình trạng pháp luật tùy tiện mà xã hội xuống cấp một cách tệ hại như hiện nay. Vấn đề hàng đầu đang đặt ra để giải quyết cũng là mấy vấn đề pháp trị mà Nguyễn Hữu Đang đã đặt ra cách đây hơn 30 năm (mà phải nói đây là vấn đề sống còn của chế độ).

Không có một cộng đồng nào mà thành viên nào cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh, không người nào biết phải biết trái, mà sống nổi lâu dài. Nhân loại sinh ra để hợp tác với nhau, để tin nhau là chính, mới sống được đến giờ. Ngày xưa, ngay hồi Pháp thuộc cả một vùng lớn như một huyện mới có độ 5 – 6 tên trộm mà trộm không được pháp luật bênh như thế, mà dân cũng còn lo ngay ngáy cho số phận trâu bò của cải của mình. Còn bây giờ thì chỉ một thôn thôi cũng có hàng vài chục tên trộm cướp công khai, coi thường pháp luật thì hỏi người dân còn an cư thế nào để lạc nghiệp được?

Một vấn đề nữa Nhân văn đặt ra là “Vấn đề Trần Dần” đăng trong Nhân văn số 1, có chân dung Trần Dần to tướng với một vết dao lam cứa cổ to tướng do danh họa Nguyễn Sáng vẽ [5] .

Từ trước ai cũng một lòng tin Đảng, cả trong lĩnh vực văn học. Tự Liên Xô đưa về rồi tự Diên An đưa sang, tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, tức là con đường đi lên trong văn học nghệ thuật. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Luận điệu thuộc lòng là: Không có ăn cắp mới lạ, có ăn cắp là tất nhiên. Đấy là thứ sốt rét vỡ da của nhân vật khổng lồ, của một chế độ khổng lồ!

Cũng thành khổng lồ thật nhưng lại là khổng lồ đi xuống, một thứ quỷ khổng lồ hay một thứ khổng lồ không tim như đã dự báo trong một truyện ngắn ở Nhân văn. [6]

Đường lối đó ở ta đã được ông Trường Chinh tiếp thu và bảo vệ, và truyền giáo như một thánh tông đồ xuất sắc.

Một người nhà báo hỏi ông:

“Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận.”

Ông Trương Chinh sửng sốt:

“Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.”

Như thế là đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa đã cấm hẳn hiện thực phê phán là thứ vũ khí sắc bén nhất của báo chí để cải tạo kịp thời xã hội. Lý luận hiện thực XHCN này được học tập ráo riết trong quân đội, trung tâm đào tạo những tông đồ để áp dụng và đi phổ thuyết về “con đường đi lên” là Tổng cục Chính trị lúc bấy giờ do ông Nguyễn Chí Thanh làm Tổng cục trưởng và ông Tố Hữu làm Tổng cục phó. Trong số văn nghệ sĩ phản đối đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa có Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Tử Phác… Có lẽ quyết liệt nhất là Trần Dần, nên Trần Dần bị bắt giam và trong nhà giam Trần Dần đã dùng dao lam cắt ven cổ nhưng chỉ toác da, chưa đứt đến ven thì đã kịp thời chặn lại.

Vì thế mà có bài “Vấn đề Trần Dần” trong Nhân văn số 1 như đã nói trên. Đây là một vấn đề văn học, hoàn toàn văn học. Đây là một cử chỉ khí tiết của nho sĩ Việt Nam trước cường quyền không bao giờ là không có, dù cường quyền có thiên la địa võng đến đâu thì cái truyền thống đáng tự hào ấy, cái hồn thiêng của sông núi ấy không tà khí nào làm mờ nổi. Trần Dần chỉ là hậu thân của những người đã viết “Vạn ngôn thư”, “Thất trảm sớ”… Cũng như vấn đề pháp trị của Nguyễn Hữu Đang, vấn đề văn học mà Trần Dần đòi xét lại cách đây hơn 30 năm hiện giờ vẫn đang rất là thời sự. Cái tai họa lớn nhất hiện giờ vẫn là do khuyến khích tô hồng, đề cao người giả, việc giả, hàng giả… Những người thấy trước tai họa, chân tình muốn ngăn chặn tệ nạn xã hội tô hồng thì bị gán ngay cho cái tội bôi đen.

Đáng nhẽ những người như Nguyễn Hữu Đang và Trần Dần phải được một giải thưởng quốc gia, một cái giải vinh quang là đã đưa ra được giải pháp để cứu nguy cho dân tộc.

Nhưng trái lại, lại vu oan giá họa, đặt lên đầu họ cái án gọi là "án Nhân văn".

Thực ra Nhân văn hưởng ứng lời Đảng gọi: “Nói thật, nói thẳng, nói hết để xây dựng Đảng", và chỉ đấu tranh cho tự do báo chí, tự do ngôn luận mong thực hiện tự do bầu cử vào quốc hội, vào chính phủ. Chỉ cần thực hiện thật sự dân chủ nội dung của Hiến pháp là cũng đã lý tưởng rồi.

Hiện nay báo Văn nghệ cũng đang làm cái việc như Nhân văn ngày xưa làm, cũng do được kêu gọi, được giao trách nhiệm Nguyên Ngọc mới dám làm, và báo Văn nghệ cũng đang bị khép tội là mắc những lệch lạc nghiêm trọng.

Có điều khác là: Nhân văn ngày xưa đơn độc, khi bị đánh không ai dám bênh, ngậm cái miệng cúi đầu mà mang án. Còn bây giờ thì hoàn cảnh trong nước và ngoài nước đã khác. Không thể đóng cửa mãi ở trong nhà và ngủ yên được mãi trên những sai lầm vô định. Khi Nguyên Ngọc bị đánh, đã có báo chí khắp nơi lên tiếng, những bản kiến nghị đang tiếp tục gửi về…

Nếu phong trào tự do báo chí, phong trào ủng hộ Nguyên Ngọc và báo Văn nghệ mà bị dập, tức là bọn quan liêu cơ hội thắng thế, kết quả là xúc tiến sự sụp đổ toàn diện, sự tổng khủng hoảng kinh tế cũng như chính trị và uy tín của Đảng sẽ bị mất hoàn toàn vì bọn chúng. Quần chúng sẽ mất hết tin tưởng vào Đảng.

Từ trước tới giờ: làm sai cũng là bọn cơ hội, kêu gào sửa sai cũng là chúng, rồi đàn áp sửa sai cũng lại là chúng. Khi sai quá rồi không sửa thì dân không chịu nổi phải nổ. Nhưng sửa đến triệt để thì cháy nhà lại ra mặt chuột, nên cứ nửa chừng thì lại đàn áp sửa sai; chúng vu cho những người đã từng làm theo chúng tội rất nặng, càng nặng thì quần chúng càng dễ quên tội của chúng và cho rằng những rối loạn trước kia là do âm mưu bọn sửa sai gây ra. Chúng bàn nhau mưu kế dựng chuyện theo bài bản, những ông trên không sát cũng phải tin như thật.

Chính Nguyễn Hữu Đang đã rơi vào trường hợp như vậy.

Đang là người giác ngộ cách mạng sớm. Anh là linh hồn của Hội Truyền bá Quốc ngữ mà cụ Nguyễn Văn Tố là danh nghĩa. Dựa vào Hội TBQN, Nguyễn Hữu Đang đã hoạt động cho mặt trận Văn hóa Cứu quốc. Những nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, đều do Đang tổ chức vào mặt trận. Khi chính phủ vào Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang là trưởng ban tổ chức lễ Tuyên ngôn Độc lập, sau làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên. Khi rút khỏi Hà Nội năm 1952-1953 vào Thanh Hóa, Nguyễn Hữu Đang là Tổng thanh tra Bình dân học vụ. Năm 1954 tiếp quản thủ đô, Trung ương cho xe vào Thanh Hóa mời Đang ra, muốn nhận bộ trưởng nào thì nhận, mời sinh hoạt Đảng, anh đều khước từ. Tôi hỏi vì sao, anh bảo:

“Nội bộ thiếu dân chủ trầm trọng, mình bây giờ chỉ một mình một Đảng.”

Sau hỏi anh làm gì, anh xin về làm nhà in, trình bày cho báo Văn nghệ.

Mãi đến gặp phong trào "Trăm hoa", Đảng phát động cho viết báo tự do, lại cho mở báo riêng thì anh Đang mới ra làm Nhân văn.

Anh Đang là một người rất có khả năng về chính trị cả về lý luận lẫn tổ chức, lại là một người rất hay giúp đỡ anh em và rất giữ lời hứa. Để một người có tài có đức như vậy thì bọn cơ hội hết đường xoay xở nên phải đánh. Một mặt phải phát động tố điêu dựng tội (như hồi cải cách dựng địa chủ) để đưa Nguyễn Hữu Đang lên thành phản động đầu sỏ. Một mặt sai điều động từ Thanh Hóa ra, từ các nơi về, hàng 6 sư đoàn để về vây thủ đô đề phòng bọn Nhân văn làm phản (trong khi Nhân văn chỉ mấy thằng đi kháng chiến về, đói rách trói gà không nổi). Việc điều động một lực lượng quân đội lớn như vậy mãi sau tôi về quê gặp những người ở trong các đơn vị ấy nói lại tôi mới biết.

Khi học tập, dựng tội cho Nguyễn Hữu Đang xong, cả lớp học sát khí đằng đằng hò hét nào là tên Đang, nào là thằng Đang phản động đầu sỏ. Mọi người ký vào kiến nghị lên Trung ương Đảng đòi xử tội đích đáng Nguyễn Hữu Đang. Tôi là người duy nhất đã ký như sau: “Khi Nguyễn Hữu Đang hoạt động với tôi, tôi thấy Nguyễn Hữu Đang là người có tài, có đức, tội trạng mới đây của Nguyễn Hữu Đang tôi chỉ tai nghe, mắt không thấy, tôi không dám kết luận. Ký tên: Hữu Loan"

Thế là Nguyễn Hữu Đang bị kết án 17 năm tù, mới đi được 7 năm thì nhờ đâu có sự can thiệp của Nhân quyền Quốc tế nên anh được tha. Đáng nhẽ không thưởng, không giải oan cho Nguyễn Hữu Đang thì im quách đi cho nó xong, đừng nay gào mai gào “Vụ Nhân văn là một vụ án chính trị!”. Gào như vậy nhưng nếu có ai hỏi đến để tìm hiểu lịch sử thì lại bảo “Đó là vụ án đã qua, bọn Nhân văn đã nhận tội không nên nhắc đến nữa!”.

Nếu không nhắc Nhân văn, sao người ta vẫn nhắc đến phát-xít, Hitler, đến Stalin, đến Pol Pot? Thậm chí bọn vua chúa hay Pháp Nhật Mỹ đã đi từ lâu rồi, mà bao nhiêu vụ ăn cắp cũng là do phong kiến đế quốc, bao vụ cưỡng hiếp phụ nữ trong cơ quan cũng là do phong kiến đế quốc, mặc dù những người thực hiện các vụ ấy đều thuần túy xã hội chủ nghĩa gốc Việt.

Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông có cấm nói đến mình được mãi không, dù là những bạo chúa, những nhà độc tài cỡ quốc tế?

Ngoài Nguyễn Hữu Đang còn có thêm những người này:

Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh” [7] : 7 năm tù giam. Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha.

Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm như Đang.

Nhà nước xuất bản thì lúc nào cũng kêu lỗ, mặc dù in nhiều hơn Minh Đức mà trả quyền tác giả lại rất rẻ mạt. Nhà Minh Đức xuất bản Vũ Trọng Phụng, mời con gái của Phụng lên lĩnh nhuận bút mà còn bỏ tiền về Hà Đông xây mộ cho Vũ Trọng Phụng. Minh Đức định xuất bản Kiều để vào xây mộ cho Nguyễn Du nhưng bị bắt. Ngoài ra từ 1954 đến 1956 Minh Đức còn mua được ½ nhà ưu giá 30.000đ (bằng 150 cây vàng). Nhà Minh Đức làm ăn lời lãi như vậy mà ngoài anh ta ra chỉ có thêm vài người giúp việc. Còn những nhà xuất bản của nhà nước thì nhà nào cũng rất đông người làm mà chả được bao nhiêu việc, nhà nào cũng kêu lỗ, nhưng vẫn cứ cố bao nhiêu rơm cũng ôm.

Xưa nay bất cứ ai nhận một công việc gì đều phải có trách nhiệm với công việc ấy, công việc càng khó khăn, lớn lao trách nhiệm càng nặng nề, ở ta lại toàn chuyện ngược đời. Một lái xe chặn chết người muốn sửa sai không được, anh phải đi tù, phải tước bằng. Anh bác sĩ chữa bệnh làm chết người cũng thế, phải tước bằng và đi tù. Đấy là những người làm chết ít người. Còn những người cầm vận mệnh của cả nước đã làm cho đồng bạc mất giá hàng vạn lần, làm cho hầu hết công nông trường xí nghiệp phá sản, cho 90% con cái gia đình thành lưu manh, cho 50% trẻ em mất dinh dưỡng, còn giết oan bao nhiêu người có tài, có đức, còn phá phách bao nhiêu công trình văn hóa lịch sử. Những con giun bị đạp gào lên: "Sai rồi!" thì họ rất bình tĩnh trả lời: "Sai thì sửa!" hoặc bất đắc dĩ phải sửa thì không sửa chân thành.

Họ vẫn núp dưới cờ Đảng để đi từ sai lầm tày trời này đến sai lầm tày trời khác. Họ đang làm cho dân không còn tin vào Đảng. Họ xúc phạm vào anh linh những đảng viên ưu tú đã nằm xuống. Họ coi thường những Đảng viên ưu tú đang sống, đang không ngớt đấu tranh để thể hiện những tính cách vô cùng cao quý của người cộng sản cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khổ trước sướng sau v.v…

Hỡi những người Đảng viên quang vinh của Đảng Cộng sản vô cùng quang vinh, người dân đau khổ lâu đời lúc nào cũng đứng bên các bạn.


*


Phụ lục:

Hữu Loan
Giai thoại về một bài thơ

Hồi ấy vào đầu năm 1955. Tôi lúc ấy là cán bộ biên tập báo Văn nghệ ở Hà Nội. Tôi được cử đi cải cách ruộng đất ở xã Tứ Kỳ, Hải Dương. Cán bộ ai cũng “được” đi cải cách. Đấy là một vinh dự vì “chưa qua cải cách thì chưa thể làm người được".

Ngoài việc đi để làm người, tôi còn có nhiệm vụ viết bài cho báo. Theo tinh thần trong những buổi học tập trước khi đi thì nông dân được phát động vô cùng vui sướng phấn khởi. Ngay cả giai cấp địa chủ là có tội mà cũng không oán Đảng vì Đảng rất công minh. Nhưng thực tế thì khác nhiều. Địa chủ không dám oán đã đành nhưng nông dân, chính nông dân thì lại kêu ca rất nhiều về những hành động của anh em cốt cán, nhất là những gia đình liệt sĩ lại càng bị sách nhiễu hết mức như thu gian thuế, hay bắt phải làm cơm rượu cho hàng chục người ăn thì mới cho người đem giúp đến kho độ 5 yến thóc… Họ đều kêu là bao nhiêu từng áp bức, kêu trời, trời xa, kêu Bác Hồ còn cao hơn trời…

Tôi bèn làm một bài thơ gửi về tòa soạn.

Ngày hôm sau tôi nhận được điện khẩn của anh Xuân Diệu: “Hữu Loan về tòa soạn ngay!”. Chai lì như tôi mà vẫn thấy lo lắng. Vừa về gặp anh Xuân Diệu tôi hỏi ngay:

“Cái gì đấy anh? Lành hay dữ?”

Xuân Diệu trấn an ngay:

"Bài thơ hay quá!"

Tôi không khỏi lạ. Hay sao lại phải điện khẩn về, ai mà không khỏi hoảng.

“Nhưng phải sửa một câu thì mới đăng được.”

Tôi vội hỏi:

“Câu nào?”

“Câu: Cụ Hồ như trời cao / Kêu làm sao cho thấu!"

Tôi hơi bực:

“Đăng thì đăng cả, bỏ bỏ cả, cả bài tôi chỉ thích có câu ấy.”

Một lúc rồi Xuân Diệu mới rủ rỉ như tâm sự:

“Để câu ấy thì ra Bác kính yêu của chúng mình lại xa quần chúng à?”

Tôi khẳng định:

“Bác là thánh là trời thật, nhưng khi có những người cản mắt Bác thì Bác thấy quần chúng làm sao được. Chính những người như anh đang che mắt Bác đấy. Làm như tôi, lại không che. Tôi đề nghị anh thỉnh thị Bác, tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về bài thơ này.”

Tôi không hiểu anh Xuân Diệu có dám thỉnh thị Bác không, nhưng bài thơ của tôi không được đăng. Tôi chắc lý do không đăng là vì Bác lúc nào cũng quan tâm đến quần chúng, khi quần chúng khổ đã phải thét lên thành tiếng thì Bác không thể nào bình tĩnh được.

© 2007 talawas


[1]Ông gửi thư cho tên Bang tá ở huyện, vận động quan quân ở huyện hàng Việt Minh, không mất một viên đạn (theo lời kể của con trai út ông là Nguyễn Hữu Đán trước mặt ông).
[2]Ông cho biết là chính ông đi hỏi vợ cho tướng Nguyễn Sơn.
[3]Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông, kể trước mặt ông một số chi tiết sau: "Khi ông nhà tôi quyết định bỏ về quê, gia đình rất túng bấn, bản thân tôi phải may khâu kiếm thêm. Lúc ấy ở quê lại đang chuẩn bị lên hợp tác xã, ông nhà tôi chỉ băn khoăn là về quê vợ con sẽ khổ, song ông bảo tôi: ‘Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được.’ Ông ấy viết 4 lá đơn xin về, trong vòng hai năm mới được giải quyết. Lần cuối còn có hai anh cán bộ đến nhà vận động ông ở lại. Họ nói từ sáng đến trưa, ông bèn cầm cây bút lên bẻ làm đôi, bảo: ‘Làm cán bộ, làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi cho, viết vừa lòng dân thì có thể đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày.’ Hai anh ấy lại nhờ tôi khuyên ông. Tôi bảo: ‘Nhà tôi đã quyết thì không ai nói được đâu.’ Chúng tôi nuôi 10 đứa con khôn lớn thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 xe chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học."
[4]Chú thích của talawas: Tên bài viết này của Nguyễn Hữu Đang là “Cần phải chính quy hơn nữa”, đăng trên Nhân văn số 4, ở vị trí xã luận, trang 1 và trang 2, ngày 5.11.1956
[5]Chú thích của talawas: Tên bài hồi ký này của Hoàng Cầm là: “Tiến tới xét lại một vụ án văn học: Con người Trần Dần”, đăng trên Nhân văn số 1, trang 2 và trang 4, ngày 20.9.1956
[6]Chú thích của talawas: Truyện ngắn “Thi sĩ máy” của Châm Văn Biếm, Nhân văn số 5, trang 3 và trang 4, ra ngày 20.11.1956
[7]Chú thích của talawas: Truyện ngắn này đăng trên Nhân văn số 4, trang 3, ngày 05.11.1956

วันเสาร์ที่ 3 มกราคม พ.ศ. 2552

No223: MỘT ĐÊM Ở BẾN XE HÀ ĐÔNG

(Truyện ký của Hoa Mộc Miên)

Tôi và Vũ Phong có lẽ chẳng bao giờ biết nhau nếu không có cuộc chiến tranh ở Biên giới phía Bắc năm 1979. Khi những người lính sơn cước ở phía bên kia biên giới ào ạt tràn qua thì Vũ Phong lúc đó đang là học sinh giỏi văn của trường PTTH thị xã với bao mơ mộng về một đời cầm bút. Tôi vì hoàn cảnh gia đình nên đã chấm dứt đèn sách ngay từ ngày tốt nghiệp PTCS trường làng. Cái khốc liệt của cuộc chiến tranh giữa những con người mà hôm trước vẫn còn là “răng với môi”, hôm trước vẫn còn “hảo hảo!” mà hôm sau đã là “tả tả!”… đã xô đẩy chúng tôi đến với nhau, nằm cùng nhau dưới hầm hào ở Thán Phún, Pò Hèm, Đồng Đăng… cùng trồi lên thụt xuống trong những ngày bão lửa. Thực ra những ngày tôi cùng ở với Vũ Phong không nhiều. Một thời gian sau tôi và Vũ Phong mỗi người đi một mặt trận và cũng từ đó chúng tôi bặt tin nhau. Không biết lúc này ở nơi đâu đó Vũ Phong có còn nhớ đến tôi, một thằng bạn nhà quê năm nào! Còn tôi làm sao tôi quên được hình ảnh một Vũ Phong hào hoa, lịch lãm đã từng làm bao sơn nữ thổn thức khi Vũ Phong vừa ôm đàn vừa hát:

“Mộc Miên hoa ơi!

Mỗi khi qua cầu biên giới quê ta,

thấy hoa Mộc Miên nở lòng bỗng bồi hồi …”

Sau này để ghi nhớ mãi hình ảnh đó tôi tự nhận bút danh là Mộc Miên.

Hôm qua con gái lớn của tôi nay đã là một cô giáo dạy trường thị xã về thăm bố mẹ với một tin mừng làm tôi bất ngờ. Con tôi bảo: Con đọc báo mạng thấy bài viết ký tên Vũ Phong - Cựu chiến binh đoàn Chi Lăng người mà bố vẫn kể chuyện với chúng con từ ngày chúng con còn nhỏ. Tôi giật mình hỏi vội thế bài viết nào? Con tôi xuống giọng bí mật: Bố phải bình tĩnh đã bài đó còn nhắc tới cả ông thủ trưởng cũ của bố nữa đấy. Đây này bố xem đi có đúng là đồng đội năm xưa của bố không. Tôi hấp tấp giở tập giấy đọc liền một hơi rồi đọc đi đọc lại nhiều lần. Tâm trạng bồi hồi như ngộp thở. Đúng rồi, đúng giọng Vũ Phong đoàn Chi Lăng năm nào rồi! Đúng thủ trưởng Lộc Hà Đông năm xưa đây rồi! Vũ Phong ơi!? Giờ đây mày ở đâu? Thủ trưởng Hà Đông ơi, làm sao mà thủ trưởng lại đến nông nỗi như thế! Đại tá quân đội nhân dân Việt Nam về hưu mà bị đối xử như thế thì thằng binh nhì như tôi về đất đó mà sinh sống, có lẽ chết mất ngáp từ lâu rồi. Suốt mấy ngày sau tôi cứ đi ra đi vào như thằng mất hồn. Vợ tôi bảo: Rõ khổ, ông bạn Vũ Phong của ông ở đâu thì chưa rõ, còn ông thủ trưởng của ông có đầy đủ địa chỉ đấy. Dạo này rỗi rãi rồi ông tranh thủ về thăm ông ấy chứ còn cứ thẫn thờ thế này tôi rối cả ruột. Tôi bảo vợ tôi: Phải đấy, tôi nghe bà ngày mai tôi đi thăm thủ trưởng cũ và cũng hỏi han về Vũ Phong, bà chuẩn bị cho tôi ít quần áo vật dụng để tôi lên đường.

***

Chuyến ô tô Cao Bằng – Hà Đông vào bến thì đã 22 giờ. Bến xe Hà Đông đập vào mắt tôi là một sự hỗn độn thật khó chịu nổi. Vừa bước xuống xe là hàng chục xe ôm đã nhào ra vây chặt số khách vừa đến. Chẳng mấy chốc người thì về Thanh Xuân, người thì ngược lên Chương Mỹ, người thì xuôi phía Vân Đình… Còn lại mỗi mình tôi bơ vơ, lạc lõng giữa một chốn náo nhiệt. Tôi không biết nên đi đâu vào giờ này, tay giữ chặt miệng chiếc ba lô lộn cũ mèm trong đó là mấy bộ quần áo và bài viết của Vũ Phong có ghi đầy đủ địa chỉ của thủ trưởng Lộc ở La Khê – Hà Đông. Tôi bước vào quán nước bên đường gọi một chén nước và ngẫm nghĩ: mấy chục năm ròng bặt tin tức giờ bộ dạng mình thế này đến nhà thủ trưởng lúc đêm hôm thật là bất tiện. Tôi quyết định đành vạ vật nơi bến bãi này vậy. Sáng mai tìm đường vào thăm thủ trưởng sau. Không biết tướng tá tôi nó bặm trợn thế nào mà bà hàng nước cứ ngó tôi lom lom như phải cảnh giác với một thằng bất hảo. May quá một lúc sau có một ông xe ôm có lẽ mới kết thúc chuyến vét dựng xe bước vào ngồi bên tôi hút thuốc lào vặt. Tôi buột miệng hỏi anh ta: Đường vào La Khê xa mấy nỗi ông bạn?. Ông xe quay sang tôi chép miệng: Bác ở xa đến à? Đường vào La Khê cũng gần thôi. Đêm hôm tối tăm thế này Bác vào nhà ai ở đấy? Tôi thành thật khẩn khoản: Tôi là dân Cao Bằng lần đầu về đây chẳng biết mô tê đường xá ngược xuôi thế nào, tôi tìm đến cái địa chỉ của thủ trưởng cũ của tôi trong bài báo này, ông làm ơn chỉ bảo giúp tôi. Ông xe đang kéo dở một chầu thuốc vừa ho sặc sụa vừa dương mục kỉnh lên đọc nghiến ngấu bài “Thanh tra thành phố Hà Nội có đi vào vết xe đổ của thanh tra thành phố Hà Đông – Hà Tây cũ!” của tác giả Vũ Phong - Cựu chiến binh đoàn Chi Lăng. Đọc xong, ông xe bảo tôi: Tôi biết bác là người đàng hoàng, đêm hôm thế này vật vã thế này không ổn đâu. Bác theo tôi về nhà tôi ở ngay gần đây thôi. Nhà tôi tuy chật chội nhưng tấm lòng luôn rộng mở với những người đồng đội. Tôi mừng quá liền líu ríu theo anh ta vào một ngõ nhỏ sâu hút sau bến xe, bước vào một gian nhà trọ tồi tàn. Vừa sửa soạn chỗ ngủ, ông xe vừa buồn buồn kể lể: Quê tôi ở phía Ngã Tư Vác – Thanh Oai. Tôi vốn là thầy giáo. Càng dạy học lâu tôi càng buồn vì nghề thầy bây giờ không còn thanh cao như thời bố tôi và ông tôi đã từng trải. Năm ngoái vì đấu tranh chống gian dối trong thi cử, chống những việc làm sai trái của lãnh đạo giáo dục mà tôi bị người ta trù dập hành hạ tôi đến tàn tệ. Cuối cùng người ta đi đến cuộc bỏ phiếu kỷ luật tôi ở mức cảnh cáo ghi lý lịch và bắt đi đánh trống trường như một lao công. Tôi uất quá mang tất cả sách vở, giấy khen… đến trả và tuyên bố: rửa tay! trả phấn! để bảo toàn khí tiết ông đồ. Tôi dắt xe ra đường và hành nghề xe ôm chạy dọc tuyến Ngã Tư Vác bến xe Hà Đông. Đây là tư dinh của tôi lúc này. Càng hành nghề này tôi càng thấy khoẻ ra ông ạ. Tuy người đời nhìn mình như nhìn một kẻ thất bại mà trong lòng tôi lại thấy thanh thản vì tôi không phải nói dối nữa. Dạy học thời này nhất là dạy các bộ môn xã hội như văn, sử, địa, giáo dục công dân… nhiều lúc tôi ngượng lắm vì học sinh nó thừa biết là nói dối. Bản thân mình cũng biết là mình nói dối thế mà vẫn cứ phải nói dối. Nói dối leo lẻo. Mình nói dối là để lĩnh lương, trò ghi vào sách vào vở cái dối trá đó là để được điểm cao, để được đỗ đạt… Thế là cả một cộng đồng nói dối. Người ta nói dối mãi thành quen, nghe lời dối trá mãi cũng thành quen. Ông có biết không người ta đang rầm rộ mở ra cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh! Nhưng thực ra họ có học tập gì đâu. Họ đoạ đày cụ Hồ đấy chứ. Tôi nhờ hành nghề xe ôm này mà tôi biết được quá nhiều những gì dối trá vô luân đang tràn ngập xã hội chúng ta. Đấy thôi ông: ở Văn Phú, Phú La, nhà lưu niệm cụ Hồ toạ lạc trên diện tích 1600 m2 đã bị Bí thư chi bộ ở đó đấu thầu 10 năm trong khi luật đấu thầu Hợp tác xã chỉ được phép 5 năm. Cậy chức cậy quyền ông này lại bán thầu cho người khác để hưởng chênh lệch ngon ơ. Khu Đồng La cũng bị ông Bí thư cùng một đảng viên khác nhận khoán, hơn một năm sau diện tích nhận khoán đã mòn đi hơn 1000 m2 vì chiếm đoạt. Nhận khoán 8 sào nay đo đạc trên thực địa và cả trên bản đồ chỉ còn 4 sào! Còn quá nhiều các quan tham ở Văn Phú, Văn La, La Khê, Vạn Phúc…tay các quan đã nhúng tràm nhưng nhờ giỏi luồn lách lại ra là người “Trong sạch!”.

Tôi rất cảm động trước tình cảm của Bác với thủ trưởng cũ, chỉ mới đọc báo biết tin thủ trưởng cũ bị quan chức Hà Đông cậy thế cậy quyền toan cưỡng chiếm hơn 17 m2 ngõ đi mà bác đã vội về chia sẻ! Bác có biết không cả cộng đồng dân Văn Phú bị “Dự án mở rộng đường 6”, đoạn đi qua thị xã Hà Đông “Làm thịt” hơn 25.000 m2 đất nông nghiệp của tổ tiên mà chẳng được một xu bồi thường đấy bác ạ. Có ông cựu chiến binh ở đó nhiều năm giám đối đầu, đối diện để đòi quyền lợi cho dân, tất cả chứng lý đều đúng cả. Công an điều tra xét hỏi, thanh tra các kiểu từ Trung ương đến địa phương đều công nhận phát hiện của ông cựu binh già là đúng, vụ này còn nghiêm trọng hơn cả vụ Đồ Sơn, vậy mà cuối cùng cũng là chìm suồng bác ạ. Trong khi hàng nghìn hàng vạn người dân Văn Phú, La Khê, Văn La, Vạn Phúc … bị ăn chặn đất đai, bị bắt chẹt đất 5%... Bác có biết bị bắt chẹt là gì không? Bắt chẹt là áp giá đền bù một cách cưỡng bức. Tất tật đất nông nghiệp, đất đã vào hợp tác, đất không vào hợp tác… đều ép vào cái khung 250.000 đồng cộng với 20.000 đồng tiền chuyển đổi nghề thành 270.000 đồng/m2. Đến nay sau khi đổ cát, làm đường phân lô… lòi chuôi ra là dự án treo. Bản chất là mua của nông dân rẻ như cướp rồi phân lô rao bán với giá trên trời 20 đến 22 triệu đồng một mét lúc sốt đất. Người dân Văn Khê kêu trời, trời xa quá, trời cao quá, trời còn bận việc của “Chợ nhà trời” nên bà con Văn Khê đành chịu thua, thua cay, thua đắng. Quan tham phó chủ tịch phường La Khê – Hà Đông hôm nay, ngày các bác ra trận thì ông ta lúc đó mới tròn 10 tuổi, tuổi đánh đinh đánh đáo. Vậy mà hôm nay nghênh ngang toạ lạc trên dưới 400 m2 đất ở, trong khi diện tích được phép sở hữu chỉ là 180 m2! Các quan tham bây giờ kinh lắm bác ơi! Nhố nhăng dửng mỡ lắm bác ơi! Vẫn nói về quan tham phó chủ tịch đó bác nhé. Quan xuất thân trong một gia đình phải nói là tứ đại bần cố thế mà hôm nay nhà cách dinh phường (UBND phường) cỡ 300 m mà ô tô đời mới nghênh ngang như vua con, như đại gia. Tiền ở đâu ra mà gớm thế? Tiền của nhân dân, tiền của đất đai của công chứ còn tiền ở đâu. Hôm vừa rồi tôi có cuốc xe chở một bà đầm vào Vạn Phúc mua lụa, thấy dân HTX thủ công ở đó đang kêu trời. Họ bị phân biệt đối xử, bị thiệt thòi, bị bỏ rơi, thậm chí đang bị lừa đảo một cách độc ác quá ông ạ. Tình hình chuyển nhượng, thu hồi đất ở đó bất công cũng chẳng khác gì ở Phú La, La Khê. Khi vào HTX người ở HTX thủ công chẳng khác gì người ở HTX nông nghiệp thế mà đến lúc này người bên thủ công thiệt thòi quá. Năm 1962, Vạn Phúc phân làm hai HTX, người ở HTX nông nghiệp được hai thước đất 5% thì người ở thủ công chỉ được một thước đất 5%! Nay các quan đang thu hồi đất 5% vẫn áp cái giá cưỡng bức 270.000 đồng và cả hai HTX cùng phải chịu cái tỷ lệ giành cho đất dịch vụ đồng loạt là 10% diện tích thu hồi. Ông hai thước hưởng 10% thì ông một thước cũng chỉ 10% ông ạ. Chưa hết đâu bác ạ, đất chưa thu tiền chưa đến, chẳng cần họp hành thảo luận gì hết, chẳng cần biết ý nguyện của dân là thế nào người ta đang bắt dân Vạn Phúc kê khai vào giấy in sẵn rằng: Gia đình tôi tự nguyện giao đất theo tỷ lệ % đất bị thu hồi. Đây là cái ngón nguy hiểm để vô hiệu hoá khả năng thắc mắc, khiếu nại của người nông dân Vạn Phúc sau này. Chỉ có ngồi hàng nước chờ chở bà đầm mua lụa xong, tôi đã thấy tình hình đất cát ở Vạn Phúc cũng đang rối như canh hẹ.

Một lần khác tôi chở khách vào HTX nông nghiệp Văn La lại thấy người dân ở đây bị đối xử tồi tệ theo kiểu khác. Ai đời đất bờ ao của 17 hộ gia đình người ta là đất chưa vào HTX, là đất của tổ tiên người ta để lại, hàng năm người ta đóng thuế nhà đất rành rành thế mà dự án định cướp nốt của người ta với lý do lừa bịp là đất nông nghiệp xen kẽ với khu dân cư. Nếu cướp được chắc chắn cũng chỉ 270.000 đồng một mét thôi à. Nếu dự án nuốt trôi cả phần đất đó thì 17 hộ gia đình này chắc chắn thiệt thòi tiền tỉ mỗi hộ vào lúc sốt đất ông ạ. Nghe đâu có một ông nhà giáo về hưu ở đó đã giám giúp 17 hộ này giữ được phần đất bờ ao thì đã bị những kẻ xấu nhiều lần khủng bố bằng truyền đơn, bằng những cách đánh đê hèn mang phân người, trứng gà ung tới ném trước cửa. Thật rõ khổ cho nhà ông giáo ở Văn La ấy ông ạ.

Tôi như mê đi trước những gì mà ông xe ôm ào ào như bắn liên thanh, lựa lúc ông xe còn đang mải kéo thuốc, tôi bộc bạch: Tôi người miền núi sống xa cách chốn đô hội nên ít thực tế lắm. Nghe những gì ông vừa kể tôi thấy nản quá. Thật là buồn cho nơi chốn gọi là cửa ngõ thủ đô, là “Địa linh nhân kiệt”. Ông xe ôm vừa ôm điếu cày vừa ho khùng khục vì phải nói vội: Cửa ngõ cái gì đâu khi Hà Nội người ta tiến bộ ầm ầm, còn bước vào đến Hà Đông một bước là một bước buồn. “Địa linh nhân kiệt” gì đâu ngoài sự chụp giật, tham ô, tham nhũng, tranh cướp và đội sổ trong các thang bậc xếp loại đối với các tỉnh khác ở trong nước. Ông nào ông ấy hết thời hạn tại nhiệm đều vinh thân phì gia về tiền bạc, về đất đai nhà cửa cũng “vinh thân” vì tiếng xấu này tiếng xấu nọ rồi được đá lên!. Còn dân chúng ngày càng chán nản, ngày càng thất vọng, ngày càng thua thiệt mọi bề. Người tốt bị bức hại, kẻ xấu như gặp thời. Ông thấy đấy đến vụ ông giáo Đỗ Việt Khoa, anh hùng chống tiêu cực trong GD & ĐT Hà Tây cũ nay đang bị cả một dây kẻ xấu từ Sở đến trường, từ tỉnh đến xã hãm hại là một dẫn chứng quá đắt giá ông ạ.

Sau một tuần trà đặc sánh, ông xe ôm như vẫn chưa ra khỏi những bức bối mà ông đã thu nhận được trong những ngày ông hành nghề khắp chốn cùng quê. Ông xe bất ngờ: Biết ông là người miền núi mới về tôi tin lắm, cảm động lắm khi phải sống giữa cảnh đời đen bạc thế này mà ông cất bước đi tìm người thủ trưởng cũ thì thật quý hoá quá ông ạ. Nhưng tôi nói thật với ông nhé, ngay lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo thành phố nơi đây họ cũng đã “Ăn cháo đá bát” từ lâu rồi. Cái ngõ của ông thủ trưởng cũ của bác có là cái gì so với những người đã hy sinh, đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh vinh quang và đau khổ vừa qua. Mấy tháng trước tôi chở một chuyến từ thiện một bà cụ 96 tuổi từ Mỹ Đức ra Hà Đông. Cụ có tên gọi là cụ Rối, là vợ liệt sỹ chống Pháp chết trận năm 1952, là mẹ một liệt sỹ chống Mỹ con giai duy nhất chết trận 1974. Thế mà sau bao nhiêu năm xoen xoét nói “uống nước nhớ nguồn” lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo thị xã, lãnh đạo thành phố Hà Đông vẫn để bà cụ sống vất vưởng vạ vật bên quán nước trước cửa nhà người con gái có tên là bà Giáo ở đường Tô Hiệu. Bà Giáo nay cũng là một bà già 65 tuổi sống cô đơn không con cái, cửa nhà là một gian cấp bốn tuyềnh toàng mà cơ quan cũ (Hội nông dân tập thể Hà Tây) phân cho lại đang bị các ông lớn đe doạ cưỡng chế chỉ vì gian nhà đó nằm trên một vị trí thật đắc địa. Người ta đang tìm cách đuổi khéo mẹ con mẹ liệt sỹ, vợ liệt sỹ ra mảnh đất ngoài đồng Văn Phú ông ạ. Bà cụ không chịu, đầu đơn đi khắp nơi, báo chí bênh vực ầm ầm thế mà sau nhiều năm rồi sự việc vẫn cứ thế cứ thế. Không biết từ ngày xoá sổ tỉnh Hà Tây, các quan tham của Hà Tây về Hà Nội có còn nghĩ đến mẹ con họ nữa không!

Tôi nghĩ với hoàn cảnh này lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo thành phố phải thực tâm phân đất nơi nào để họ có thể sống được, phải xây nhà tình nghĩa cho người ta mới phải! Sao lại có thể đối xử với gia đình chính sách như thế!?

Trong trạng thái mệt mỏi sau một ngày vật vã trên ô tô lại phải thu nạp những bức xúc của ông xe ôm tôi như rơi vào trạng thái quá tải vì dồn nén. Thế mới biết cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, gần gũi với cỏ cây ở nơi tôi thật đáng quý biết bao. Thế mới biết khi đã ngấp ngó lục thập rồi mà tôi vẫn chưa hề “Tri thiên mệnh!”. Bên tôi ông xe ôm đã thở đều đều, ông ta đang đi vào giấc ngủ sau một ngày vất vả để ngày mai, ngày mai ông sẽ lại đi lại đến lại gặp, lại biết, lại nghe, lại thấy những cảnh đời, những thân phận đang tả tơi vì thời cuộc , những bi kịch đang đón chờ bất cứ ai! Ngày mai mình sẽ ra sao giữa đất này có trời mà biết được. Vì sao cộng đồng dân cư Hà Tây cũ phải sống trong những bất trắc, bất công và thiệt thòi đến thế! Ngày mai tôi cũng sẽ chia tay ông xe. Tôi sẽ hỏi đường và tự lang thang trên những con đường của cửa ngõ Thủ đô để cũng được nghe, được biết, được thấy, được nhìn, được suy ngẫm tất cả mọi điều. Có thể người thủ trưởng cũ của tôi không còn nhận ra tôi được nữa, điều đó lúc này không còn là quan trọng vì thủ trưởng cũ của tôi đâu là một trường hợp đặc biệt đối với cộng đồng dân cư nơi này.

Thời gian năm tháng có thể làm vụn nát bao bảng vàng bia đá, làm mờ nhạt đi bao giá trị… riêng thái độ “Biết đau nỗi đau người khác”, thái độ “Nỗi đau này không của riêng ai” mãi mãi là trơ gan cùng tuế nguyệt và đời nào cũng có. Đó chính là những gì mà cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ để lại, đó là những gì đảm bảo để dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn. Ngày mai! Ngày mai! Ngày mai nữa sẽ đến với ông xe, đến với tôi, đến với thủ trưởng cũ của tôi, đến với mọi người đồng bào của tôi thật giản dị và vô hại như vậy. Điều đó, hỡi các quan tham đang ở Hà Tây hay ở bất cứ nơi nào trên mảnh đất Việt Nam còn nhiều đau khổ này! Các quý vị làm sao mà hiểu được.



Người viết:

Hoa Mộc Miên

Cựu chiến binh đoàn Chi Lăng - Tháng 12/2008

วันอาทิตย์ที่ 28 ธันวาคม พ.ศ. 2551

วันเสาร์ที่ 20 ธันวาคม พ.ศ. 2551

No186: Câu đối Tết năm TRÂU-2009

Lại khóc lại cười với Trâu

Chẳng bao lâu lại đến Tết con Trâu.

Lạ thật, sao con Trâu lại đi ngay sau con Chuột? Một anh “nhỏ bằng cái nhắt”, khôn lỏi, “chúa thằn lằn” về khoản mẹo vặt và lừa đảo, lúc luồn sâu lúc leo cao, lúc nào cũng thập thò, gây đủ điều tai hại, mà sinh sản cực nhanh, càng bí mật vụng trộm càng đẻ nhiều, nên bị xếp vào loại lưu manh chúa tể. Tiếp theo ngay là một bác to đùng, ngu trung, to đầu mà dại. Cũng “có sừng có sỏ” rất oai, mà bị cái “thằng người” khôn ngoan nó “vặt”, nó “dziệt” (1), lúc sang phải, lúc sang trái, chỉ bằng một sợi dây thừng xỏ mũi. Rồi ta ngộ ra một điều: hai con giáp này xếp liền nhau là phải, bên cạnh anh ngu trung y như rằng xuất hiện lũ lưu manh, lợi dụng, khai thác (mà các nhà chính trị vẫn gọi là bọn cơ hội). Hai thứ này cộng sinh.

Ai chẳng thuộc mấy câu Ca dao về con Trâu:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công ?
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.


Trâu
Nguồn: ferenc.biz
Thật là một bài ca nhân ái. Người và vật đã biết dựa nhau mà sống, bởi hiểu rằng “trong lẽ phải, có người có ta”!

Ông chủ mà thương đày tớ, chia sẻ quyền lợi với nhau như một kiểu “nhà nước phúc lợi” ở mấy nước văn minh!

Hơi văn rõ ra một giọng đàm phán, thuyết phục để có đồng thuận, chứ không lấy nghĩa vụ ra mà áp đặt.

Nhưng sự đời đâu chỉ có thế.
Đây, một bài ca dao khác về con Trâu:

Ngày thường mày ở với tao
Đến khi mày yếu thì tao tuyệt tình
Thịt mày nấu cháo nuôi binh
Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mày tao tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược thưa, lược dày
…(2)

Một phác họa sao mà sâu cay. Khi sống đã cống hiến hết mình cho chủ. Yếu sức rồi bị giết đã đành, nhưng từng mảnh xác vẫn phải được mài giũa để trang sức cho chủ. “Nuôi binh, dao, mác…” là phục vụ chiến tranh. “Chùa, tụng kinh…” là vẻ thánh thiện tôn giáo. “Trống” chiêng lễ hội, “lược thưa lược dày…” là phục vụ văn hóa và đời sống. Ôi, vắt kiệt nhau đến thế là cùng. Tôi cứ ngậm miệng mà cười : Sao kiếp Trâu lại có thể nhiều vinh quang đến thế? Vậy mà khi chụp ảnh Trâu nghệ thuật thì người ta cứ bỏ cái Ách ra, để cho Trâu “toét miệng” ra cười, quên cả cái Ách như một “sắc phục” không thể thiếu của loài trâu.

Nghĩ đến con Trâu, có lúc thì thương, thì bùi ngùi, có khi thì ơn, thì phục, có khi lại giận, lại trách, lại ghét trâu điên, ghét thói trâu buộc ghét trâu ăn, lại tàn nhẫn bảo ngu thì đáng đời, gảy đàn vào tai cũng phí …
Thế rồi lại khóc, lại cười với Trâu mà làm Câu đối Tết.


Câu đối Tết năm Trâu, 2009

CHUỘT đi – TRÂU tới
– CHUỘT tạm rút, hang sâu còn dưới đất, chui bồ, rúc cót,
coi chừng lũ CHUỘT rất khôn !

– TRÂU đang về, ách nặng vẫn trên vai, xỏ mũi, quất roi,
yên phận kiếp TRÂU là khổ !


BẰNG-TRẮC Năm Trâu
– Cày bừa xong mổ thịt tế thần, thần phúc thần tài,
đừng ban xuống những quân…
PHẢN TRẮC !
– Ve vuốt để lột da bưng trống, trống con trống cái,
hãy vang lên một lẽ …
CÔNG BẰNG !

Vịnh con trâu và anh mọt sách
– Đã khệ nệ BỤNG to chứa SÁCH !
– Sao ngu đần ÁCH nặng đeo VAI ?
(Dạ dày trâu bò có 4 ngăn, ngăn thứ 3 có nhiều nếp gấp gọi là sách)

Nỗi sợ của TRÂU
– Xẻ thịt tế thần, thấy lễ hội, kinh hồn chú NGHÉ !
– Lột da bưng trống, nghe tiếng dùi, bạt vía đàn TRÂU !

Trâu hỏi người
– Lũ trâu đây yên phận cấy cày, thế sự dẫu vô tình,
nghe “Vặt-dziệt” cũng quen đường “phải-trái” !

– Những kẻ nọ mang danh tổ quốc, biên cương đang hữu sự,
việc “mất-còn” không biết lẽ “tồn-vong” ?


Mời đối

Mời đối 1: (đón năm Trâu)

Đàn gảy tai (trâu) bò
Nguồn: saigonpetlove.com
* Đón bác TRÂU chớ gảy đàn cầm, bác là bậc có sừng có sỏ!

(Ghi chú – Đây vốn là một vế đối tiễn năm Trâu 1985, nay thiết nghĩ nếu đưa ra mời để các quý thi hữu đối lại chắc sẽ có nhiều ý tứ, bởi còn nguyên tính thời sự. Vẫn là câu tục ngữ: “Đàn gảy tai trâu!”)

Mời đối 2: (hỏi Trâu, nhớ cái “lề đường bên phải”)
* Mặt cũng lớn, tai cũng to,
đường phải trái sao để người dắt mũi?


Trâu không đi lề phải
Nguồn: National Geographic
Mời đối 3: (hỏi Trâu, về cái thú nhai lại)
* Nhai lại mãi, vẫn toàn Rơm với Cỏ?

Mời đối 4: (Bảo chú Nghé con)
* Nghé cỏn (3) chớ nghe
ông nghẻ ông nghè
mà đe hàng tổng!





Xuân bất tái lai

(Tết con Trâu nhớ về Hà Nội)

Đất đã nảy trăm phường địa tặc
Trời lại hành một trận thiên tai
Chuột dẫu rút, lưu manh còn đó
Trâu đang về…vẫn ách trên vai?
Than/cười rằng… Xuân bất tái lai!
(4)


Mừng lễ Giáng sinh – Chào Xuân Kỷ Sửu – 2009