แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Kinh tế แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Kinh tế แสดงบทความทั้งหมด

วันอาทิตย์ที่ 15 มีนาคม พ.ศ. 2552

No360: Bao giờ nguồn ODA Nhật bản trở lại ?

Nguồn hỗ trợ ODA Nhật bản - chi viện chính thức của chính phủ Nhật bản cho nhân dân ta dưới hình thức cho vay dài hạn với lãi xuất ưu đãi, đã bị cắt từ đầu tháng 12-2008.

Trên thực tế, nguồn chi viện ấy đã bị chính phủ Nhật treo lại ngay từ giữa tháng 8-2008, khi vụ ăn hối lộ của quan chức Việt nam do công ty Nhật PCI (Pacific Consultant Institute) đưa, lên đến hơn 2 triệu đôla, bị tiết lộ.

Chính phủ Nhật tỏ ra rất hào phóng trong viện trợ cho Việt nam. Đã 2 năm nay, ODA Nhật bản lên đến mức trên 1 tỷ đôla / năm,luôn dẫn đầu, vượt rất xa mọi nước khác, bao gồm một loạt dự án lớn nhất đất nước về đường xá, cầu cống, hải cảng và khu công nghiệp mũi nhọn, đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao.

Như các nước khác, hỗ trợ Việt nam qui mô lớn, Nhật bản cũng mong các công ty, nhà thầu của Nhật sẽ nhận được những gói thầu lớn, theo đúng pháp luật, có lợi chính đáng cho cả 2 bên. Nhiều lần quốc hội Nhật, báo chí Nhật tỏ ra lo ngại, giận dữ khi một số hỗ trợ ODA lấy từ tiền thuế dân Nhật đóng, giúp vài nước châu Phi bị cắt xén do tệ quan liêu và tham nhũng, làm tha hoá bộ máy cai trị.

Bộ kế hoạch và đầu tư và ngành giao thông vận tải Việt nam hiểu rất rõ vụ hối lộ của PCI cho các quan chức Việt nam gây nên tổn thất và trở ngại to lớn ra sao. Các công trình trọng điểm lớn nhất bị dở dang, đình trệ, vốn bị cạn, công nhân không việc.

Có thể nói từ thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, ngành giao thông, giới làm kinh tế cho đến người dân trong nước đều trông mong - mỗi người do động cơ khác nhau - vốn ODA Nhật bản (dự tính 900 triệu đôla cho năm 2009 này), được nối lại rất sớm.

Đã có nhiều thông tin lạc quan theo hướng ấy.

Nào là từ tháng 1-2009, cựu thủ tướng Nhật Yasuo Fucuda thăm Hànội đã ủng hộ việc sớm nối lại nguồn ODA.

Nào là Hoàng Thái tử Nhật Naruhito mới thăm Việt nam tháng trước cũng tuyên bố sẽ thúc đẩy việc này. Rồi cũng trong dịp này, tài tử trứ danh Sugi Ryotaro với danh nghĩa "đại sứ hữu nghị đặc biệt", cũng chung một ý định, sớm nối ODA Nhật.

Mới đây hãng tin Nhật Kyodo và Việt nam thông tấn xã cùng đưa tin là văn bản về nối lại ODA sẽ có thể ký giữa 2 bên cuối tháng 3, nghĩa là chỉ trong một, hai tuần lễ.

Vậy bà con ta đã có thể trông chờ điều tốt đẹp sắp tới trong quan hệ Nhật - Việt ?

Nên thận trọng, kẻo lại bị bất ngờ.

Một số nhà báo Nhật bản bạn cũ của tôi, từ Tokyo và Bangkok, cho biết ý nghĩ của họ trong việc này. Thông tin điều này có thể là có ích.

Họ cho rằng " quả bóng vẫn ở phía chân Việt nam "; "rằng hồ sơ vẫn còn trên bàn của bộ chính trị cộng sản Việt nam "; "rằng mọi sự còn phụ thuộc ở Việt nam có thái độ ra sao đối với bị cáo ăn hối lộ "; "rằng nhiều công ty, nhà thầu Nhật bản lô-by (vận động hành lang) mạnh để sớm nối lại ODA, nhưng ngành ngoại giao và lập pháp ở Nhật vẫn rất nghiêm, họ còn cân nhắc kỹ ".

Một anh bạn Nhật chân thật : " đáng tiếc, thủ tướng của Việt nam hình như ít am hiểu tập quán ngoại giao và tâm lý ngoại giao, ít hiểu văn hoá Nhật chúng tôi trong vụ này".

Trao đổi một hồi trên điện thoại viễn liên, tôi mới vỡ lẽ các bạn Nhật muốn nói gì.

Các bạn Nhật muốn nhắn rằng, với nước Nhật, cần gõ cửa cho đúng. Vì xã hội Nhật phân công rạch ròi, không ai đạp lên chân ai, dễ ngã cả loạt.

Cái kiểu Hànội tranh thủ cựu Thủ tướng Fucuda, rồi tranh thủ Hoàng thái tử Naruhito, săn đón đại sứ hữu nghị đặc biệt Sugi Ryotaro là rất ít hiệu quả. Bởi lẽ, theo tập quán Nhật, thủ tướng đã ra đi sẽ không can thiệp vào việc của thủ tướng kế nhiệm; mọi việc đã bàn giao xong. Hoàng thái tử chỉ lo chuyện lễ nghi và từ thiện, không được, không dám làm gì khác, kỵ nhất là chuyện kinh tế, đấu thầu, tiền bạc, tòa án. Còn Đại sứ "hữu nghị loại đặc biệt", ông ta chỉ có nhiệm vụ cười, cười rộng rãi và dễ dãi, cúi đầu gật gật xã giao cho thật dẻo, và tối kỵ lấn sân sang vị đại sứ toàn quyền chuyên nghiệp. Cứ yên chí cả tin ở các vị này, khéo mà lầm cửa.

Cái "không hay" của thủ tướng Dũng, có thể nói cái "hớ hênh không nên có" của ông Dũng còn là làm mất lòng một nhân vật Nhật bản trực tiếp tham gia quyết định cắt và nối nguồn ODA Nhật cho Việt nam.

Đó là đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật bản ở Hànội Mitsuo Sakaba.

Ông M.Sakaba là một nhân vật nhiều triển vọng của ngành ngoại giao Nhật bản. Ông được đào tạo rất bài bản, thành thạo Anh, Pháp, Hoa ngữ... Ông từng là đại sứ Nhật ở UNESCO - Paris trong 2 năm, rồi về Tokyo làm người phát ngôn Bộ ngoại giao Nhật. Các nhà báo Anh, Pháp, Đức, Mỹ ... hồi ấy rất "mê" những buổi họp báo của ông Sakaba, bởi ông bao giờ cũng nắm được thực chất câu hỏi của các nhà báo quốc tế để trả lời ngay thật, pha chút hóm hỉnh, thông hiểu, trái ngược với những lưỡi gỗ trơ tráo, tẻ nhạt, nói lấy được của đồng nghiệp ở Bắc kinh và Hànội."

Ông mới đến Hànội tháng 3-2008, đã nổi lên trong giới ngoại giao như một đại sứ năng động, thích văn hoá, ưa thể thao, mê nghiên cứu ẩm thực, đặc biệt rất ham đi những vùng sâu, vùng xa, nặng lòng cứu giúp những vùng nghèo, dân nghèo.

Mới đây, khi ODA lớn bị ngừng, ông chuyển hướng, đích thân xông xáo đôn đốc hơn 30 dự án nhỏ bé, cò con, như dự án xây trường tiểu học xã Mường Khên tỉnh Hoà bình, như dự án giao thông nông thôn cho xã Hương Lâm tỉnh Bắc Giang, mỗi nơi gần 100 ngàn đôla, hoàn thành nhanh, gọn, cùng chính quyền sở tại kiểm soát kỹ, không bị xà xẻo ...

Ấy vậy mà ông Dũng không những không tranh thủ ông đại sứ Nhật, lại còn trách móc, đến độ như xúc phạm ông một cách công khai, trước mặt các quan chức và nhà báo quốc tế, trước mặt cả các quan chức Nhật, khi ông vắng mặt.

Theo gợi ý của các bạn Nhật, tôi tìm lại bản tin VN Thông tấn xã ngày 10-2-2009, như sau :

"Chiều 9-2, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại sứ hữu nghị đặc biệt Nhật bản-Việt nam Sugi Ryotaro. Đại sứ Sugi vui mừng thông báo với thủ tướng việc Nhật bản sẽ sớm khôi phục lại vốn ODA dành cho Việt nam ". Ở đoạn cuối : " Thủ tướng cho rằng nếu chỉ vì nghi vấn (!) một cá nhân của Việt nam trong vụ án tham nhũng liên quan đến vốn ODA mà Nhật bản đơn phương chấm dứt viện trợ ODA cho Việt nam là đáng tiếc (!)".

Với Hoàng Thái tử Naruhito, ông Dũng còn đi xa hơn, mà mách rằng : "việc phía Nhật đơn phương cắt ODA không bàn bạc trước, ngay giữa cuộc họp quốc tế lớn về đầu tư đầu tháng 12-2008 đã làm ảnh hưởng đến tình hữu nghị Nhật - Việt ".

Ông Dũng hẳn biết rõ - như ông đại sứ Sakaba nói với các báo ở Hànội từ đầu tháng 12- rằng việc ngừng ODA là theo lệnh trực tiếp từ thủ tướng Nhật đương nhiệm Taro Aso, đại sứ rất tán thành, vì nhiều nghị sỹ Nhật và dân đóng thuế Nhật bất bình sâu sắc về sự việc xảy ra.

Tốt nhất là thủ tướng Việt nam tỏ lời chân thành xin lỗi vì rõ ràng chính phủ Việt nam có trách nhiệm trong quản lý vốn ODA. Không xin lỗi, lại còn trách cứ ngược lại thủ tướng và đại sứ Nhật, và đi nói riêng với với Hoàng thái tử Nhật và với đại sứ hữu nghị Nhật bản, đổ lỗi cho phía Nhật đã gây nên ảnh hưởng xấu trong quan hệ Nhật - Việt! Thật quá đáng. Người đứng đầu chính phủ mà làm công tác đối ngoại kỳ cục, dại dột, không biết điều như vậy.

Với các nhà báo Nhật, ông Dũng còn đi xa hơn, phàn nàn rằng: "đến nay Nhật bản vẫn chưa cung cấp cho phía Việt nam những chứng cứ của vụ việc..."(!)

Các nhà báo Nhật chỉ mỉm cười.

Vì họ biết rõ, chính phía Nhật đã 6 lần gửi từng tập tài liệu hàng nghìn trang gồm: khẩu cung của cơ quan điều tra, lời khai viết của 4 bị cáo Nhật, băng ghi âm trước toà án, lời tả chi tiết về 4 lần giao tiền cho quan chức Việt nam, lên đến 2 triệu 6 đôla, lại còn cử cán bộ điều tra, toà án và bộ tư pháp Nhật sang tận Việt nam để trình bày thêm.

Họ biết rất rõ, bộ tư pháp Nhật đã yêu cầu phía Việt nam trả lời cho 23 câu hỏi, chủ yếu nhất là : - cho đến tháng 12-2008, các bị cáo Việt nam đã nhận hay không nhận có ăn hối lộ của PCI, nếu nhận là bao nhiêu lần, lên đến bao nhiêu? Họ tẩu tán đi đâu? có những ai dính đến vụ án ? họ khai và thú nhận những gì rồi ?

- số tiền ấy được thương lượng ra sao, giữa 2 bên, do ai thương lượng, ngả ngũ ra sao? thủ đoạn giao nhận ?

- số tiền ấy đã chia cho bao nhiêu người, những ai, chức vụ khi ấy làm gì? thu hồi lại được bao nhiêu?

- phía Việt nam bao giờ xử kẻ bị cáo, và cần phía Nhật hợp tác thêm những gì ? các ông đánh giá ông Huỳnh Ngọc Sỹ ra sao trong vụ ăn hối lộ này ?

Hàng loạt câu hỏi ấy đặt ra gần 4 tháng nay, và vẫn còn chờ trả lời.

Các bạn nhà báo Nhật cho rằng phía Việt nam đã có những việc làm tuy chậm nhưng đáng hoan nghênh. Đó là lập Uỷ ban hỗn hợp Nhật - Việt cùng nhau thảo thể lệ quản lý nghiêm vốn ODA, thanh tra chất lượng công trình, kiểm tra việc chi tiêu, lập thêm một cơ quan giám sát đấu thầu; bắt tạm giam 2 ông Huỳnh Ngọc Sỹ và Lê Qủa và hứa hẹn sẽ xét xử nghiêm minh vụ án này.

Báo Nhật cũng ghi nhận bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc sang Nhật tháng 2-2009 đã thông báo chính phủ Việt nam đã xếp vụ án ăn hối lộ của PCI là một vụ án trọng điểm, có nghĩa là sẽ được uu tiên xét xử một cách công khai, minh bạch, đúng luật. Phía Nhật chờ từng ngày. Bao giờ ?

Báo chí Việt nam vẫn còn bị cấm ngặt không được nói đến vụ án PCI, không được tìm hiểu và đưa tin gì về vụ án đã thành trọng điểm này, cũng như phải quên vụ án PMU18 đi, dù nó đã kéo lê thê hơn 3 năm. Nhà báo chỉ được phép đưa những tin lạc quan, một chiều, rằng cuối tháng 3, hai chính phủ sẽ ký nghị định thư nối lại ODA đang mong chờ; rằng tháng 4, ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh sẽ sang Tokyo giải quyết mọi vướng mắc cho thông suốt ở mức cao nhất với thủ tướng Taro Asô; khi ấy dòng chảy ODA có thể chảy vào thông suốt và dồi dào.

Nhưng vẫn còn một trở ngại. Một trở ngại, không nhỏ chút nào. Hãy nghe ông Đại sứ Mitsuo Sakaba nói với phóng viên VietnamNet chiều ngày 10-3 ": Chúng tôi đang theo dõi rất chặt chẽ sự kiện xử lý vụ án ăn hối lộ của công ty Nhật PCI ". Ông nói thêm, vẫn với giọng rất nghiêm nghị :"Tôi đang chờ xem hành động xử lý cụ thể vụ án hối lộ này của phía Việt Nam".

Ai nấy đều biết chính quyền Việt nam đã đánh tráo, từ vụ án "ăn hối lộ của công ty PCI" Nhật thành ra một vụ án hoàn toàn khác là : "lấy nhà công cho công ty Nhật PCI thuê rồi chia tiền cho viên chức cơ quan". Về tư pháp, đây là xét xử án "không đúng vụ việc", "không đúng người", "không đúng tội danh". Đánh tráo vụ án ăn hối lộ lên đến 2 triệu 6 đôla bằng một vụ án hoàn toàn khác, với giá trị 1.200 triệu đồng, bằng 70.000 đôla , chỉ bằng 1 phần 37 vụ án trước.

Một chính phủ, có luật pháp hẳn hoi, có toà án, có viện kiểm sát, có thanh tra chính phủ, còn có cả một ủy ban đặc trách chống tham nhũng, trong một vụ án lớn có quốc tế tham gia theo dõi chặt chẽ, lại giở trò gian lận một cách trắng trợn và lộ liễu đến vậy. Mà vẫn cứ tỉnh bơ !

Phía Nhật đang mong chờ xử vụ án PCI đúng người, đúng tội, đúng luật. Họ sẽ rất chăm chũ theo dõi kỹ càng, chặt chẽ, như họ nói.

Nếu như Việt nam lờ đi, chưa xử, mua thời gian,để sau 4 tháng sẽ cho 2 bị cáo về nhà (họ chỉ bị "tạm giam" 4 tháng), hoặc xử qua loa chiếu lệ một vụ án nhỏ thay thế để làm phép, thì chắc hẳn vốn ODA sẽ vẫn còn bị treo lơ lửng. Ông Nông Đức Mạnh không thiếu lý do để nằm nhà.

Nghĩ cho cùng, nước thiếu vốn, xã hội thiếu đường, thiếu cầu, công nhân thiếu việc, nhưng các ông lớn còn có thiếu gì.

Nhưng riêng ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đang rất cần niềm tin, cần uy tín trong vụ này. Ông phải sữa chữa những vụng về hớ hênh của một người đứng đầu chính phủ. Uy tín ông đang xuống thấp.

Năm ngoái ông Dũng đã sai lầm phát lệnh "không được xuất khẩu lúa gạo để làm dự trữ quốc gia, cân bằng lương thực", làm nông dân Nam bộ thiệt 1 tỷ đôla. Ông lại đang lao vào vụ Đác Nông nguy khốn, tiến lui đều khó. Ông lại vừa liều tiên đoán "sang tháng 5 kinh tế Việt nam sẽ khởi sắc", làm cho báo The Economist Anh ngày 5-3 mới rồi kêu lên rằng thủ tướng Việt nam bắt mạch kinh tế như một ông lang băm, rao bán dầu cù là !(nguyên văn : the prime minister Nguyên Tân Dung has predicted that the economy will start to pick up as early as May ! As weeks go by, that makes him sound more like a seller of snake-oil than of snake-blood !" .

Trên cương vị Trưởng ban chống tham nhũng của chính phủ, ông Dũng hãy sắn tay áo đôn đốc việc xét xử vụ án trọng điểm PCI này, để từ trong ra ngoài nước đều thấy rõ ông là người "thật sự kiên quyết hành động chống tham nhũng", như ông cam kết.

Nguồn ODA của Nhật có sớm được chắp nối lại hay không là tuỳ thuộc ở hành động của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ở ý chí của bộ chính trị đảng CS trong chống tham nhũng, qua sự xét đoán tỉnh táo, công bằng sau đó của chính phủ Nhật, người giữ hầu bao ODA, luôn ưu ái đến sự chậm tiến và thiệt thòi của dân Việt nam, luôn lo lắng đến một loạt dự án trọng điểm đang dở dang, lâm đại nạn.



Bùi Tín

Paris 16-3-2009

วันพฤหัสบดีที่ 12 มีนาคม พ.ศ. 2552

No356: Kinh tế Việt Nam đi về đâu?

Thực trạng nền kinh tế Việt Nam

a. Kinh tế vĩ mô méo mó

Xuất phát từ thể chế chính trị toàn trị cho nên Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới có nền kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”! Tại Việt Nam thì tất cả mọi lĩnh vực đời sống và xã hội đều phục vụ cho chính trị, kinh tế cũng vậy. Trong các dự án kinh tế, chính quyền Việt Nam không quan tâm nhiều đến khía cạnh thương mại mà chỉ quan tâm đến mục tiêu chính trị. Ví dụ nhà máy lọc dầu Dung Quất, thuỷ điện Sơn La hay mới nhất đây là dự án khai thác quặng bô xít ở Tây Nguyên.

Cũng do việc lấy mục tiêu chính trị áp đặt lên kinh tế nên chính quyền Việt Nam đã lấy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) làm trụ cột cho nền kinh tế đất nước. Đây là chủ trương mang nặng tính chính trị và trái với qui luật phát triển tự nhiên. Chính quyền đã dành cho DNNN tất cả ưu đãi, hơn 70% nguồn lực của cả nước đã đổ vào khu vực này, trong khi đó hiệu quả mang lại rất nhỏ. Các DNNN này do được che chở và ưu đãi nên đã không thể cạnh tranh một cách bình thường, đồng thời các DNNN còn trở thành các “lãnh địa” do các “sứ quân” cát cứ và thống trị, các sứ quân như điện lực, xăng dầu, xây dựng cơ bản…tha hồ làm mưa làm gió trên thị trường gây điêu đứng cho nhân dân và người tiêu dùng. Khi cần thiết các sứ quân này sẵn sàng chống lệnh của “thiên triều Ba Đình”, vụ tranh cãi giữa Tập đoàn Điện lực và Tập đoàn Dầu khí đang diễn ra hay việc ngành Điện lực chống lại việc cải tổ của Bộ Công thương là minh chứng cho tình trạng “sứ quân” trong nền kinh tế Việt Nam.

Tình trạng sứ quân trong nền chính trị và kinh tế Việt Nam đã ăn sâu và trở nên rất nghiêm trọng, ngay cả quân đội và công an cũng như các cơ quan đảng (các cấp uỷ) cũng có đơn vị làm kinh tế riêng và hoàn toàn độc lập. Khi quân đội, công an cũng “đi buôn” thì ai dám đụng vào họ và như vậy nhà nước sẽ thất thu thuế nghiêm trọng, trong khi thị trường bị méo mó vì cạnh tranh không lành mạnh.

Không chỉ có thế, do sự tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới nên hàng lậu đã tràn vào Việt Nam như cơn lũ. Chính hàng lậu (chủ yếu từ Trung Quốc) đã góp phần bức tử nền kinh tế Việt Nam.

Sức mạnh của chính quyền Việt Nam hiện đang dựa vào quân đội, công an và bộ máy hành chính đông đảo. Lực lượng này đã tiêu tốn một khoản ngân sách khổng lồ từ nguồn ngân sách rất eo hẹp của Việt Nam.

b. Kinh tế vi mô nhỏ bé, manh mún.

Nhân nào thì quả đấy, do kinh tế vĩ mô bị méo mó thành ra nền kinh tế vi mô đương nhiên là phải còi cọc, nhỏ bé và manh mún.

Xương sống của một nền kinh tế phát triển bắt buộc phải là các doanh nghiêp tư nhân (DNTN). Thế nhưng tại Việt Nam các DNTN luôn bị o ép và đối xử không bình đẳng, khó có cơ hội để tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi của quốc tế cũng như chính phủ (do bị các DNNN hút hết vốn).

Các DNTN Việt Nam do phải cạnh tranh một cách không cân xứng với các DNNN và phải đối mặt với hàng lậu, hàng trốn thuế, hàng nhái nên bắt buộc phải tìm cách hạ giá thành, điều này đồng nghĩa với việc chất lượng sẽ giảm và khi chất lượng giảm thì người tiêu dùng sẽ quay lưng và doanh nghiệp tồn tại trong lay lắt là điều mà ai cũng thấy được.

Các doanh nghiệp xuất khẩu thì do thiếu thông tin, thiếu thương hiệu nên chỉ còn cách đi làm gia công cho các hãng nước ngoài theo kiểu “lấy công làm lãi” mà thực chất là bán sức lao động (của người lao động) một cách rẻ mạt, “đổi mồ hôi lấy bát cơm”. Các doanh nghiệp khác như nông nghiệp hay khai thác thì đành bán sản phẩm thô do ngành chế biến không phát triển. Cũng do thiếu văn hoá kinh doanh và các chế tài cần thiết của chính phủ nên ngay cả các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản thô cũng cạnh tranh một cách không lành mạnh, bài báo “Đại gia và thanh long” của nhà báo Huy Đức đã phản ánh một phần thực tế này.

Cho đến giờ Việt Nam chưa có một công ty nào mang tầm cỡ khu vực Đông Nam Á chứ chưa nói đến tầm cỡ thế giới. Đọc hồi ký của các tỉ phú sáng lập ra các công ty nổi tiếng của Nhật, Hàn Quốc…chúng ta đều thấy đó là các công ty của các DNTN và dấu ấn của cá nhân lãnh đạo đã thể hiện rõ trong sự thành công. Các DNNN ở Việt Nam mà giám đốc là do “bổ nhiệm” là “người của nhà nước” thì các DNNN đó không bao giờ phát triển được.

2. Hướng đi nào cho nền kinh tế Việt Nam?

Cải cách thể chế chính trị, tách bạch giữa ý chí chính trị và mục tiêu phát triển kinh tế. Trả lại quyền điều tiết thị trường cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, nhà nước chỉ nên làm những việc mà tư nhân không thể làm được. Đồng thời nhà nước phải hạn chế tối đa sự can thiệp của mình vào nền kinh tế, nhà nước chỉ giữ vai trò trọng tài và chế tài trong các quan hệ kinh tế để cho thị trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh, tuyệt đối không để các doanh nghiệp lớn chèn ép các doanh nghiệp nhỏ bằng cách bán phá giá hoặc cạnh tranh theo kiểu “lấy thịt đè người”.

Nhà nước phải thật lòng trong việc chống tham nhũng, chống buôn lậu, chống làm hàng giả. Phải tôn trọng và tạo cơ hội đồng đều cho tất cả các thành phần kinh tế. Bãi bỏ việc ưu đãi cho các doanh nghiệp FDI trong các khu công nghiệp tập trung, tất cả các doanh nghiệp đều tuân thủ một bộ luật duy nhất là Luật kinh doanh (theo đề nghị của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

Ý kiến của nhà kinh tế Vũ Thành Tự Anh là tiếp tục tư nhân hoá (cổ phần hoá) các xí nghiệp nhà nước thuộc khối DNNN. Tuy nhiên nhà nước phải rất cẩn thận và minh bạch nếu không những kẻ có thế lực chính trị sẽ biến tài sản chung thành của riêng. Bài học dành cho các thế lực đang có âm mưu này là tấm gương các nhà tỉ phú Nga tham lam cấu kết với quan chức thời tổng thống En xin mua lại các nhà máy (của nhà nước) với giá rẻ mạt và sau đó kiếm được hàng chục tỉ đô la trong một thời gian ngắn đã phải trả giá đắt khi Pu tin lên nắm quyền. Kẻ nhanh chân thì chạy thoát ra nước ngoài (Boris Berezovsky, Vladimir Gusinsky) kẻ chậm chân thì bị tù mọt gông (Mikhail Khodorkovsky).

Cũng theo ông Vũ Thành Tự Anh thì chính quyền cần tách bạch giữa việc kinh doanh của các doanh nghiệp với các nhiệm vụ xã hội (ví dụ việc làm từ thiện), trợ cấp xã hội hay an sinh xã hội là việc của chính phủ chứ không phải việc của doanh nghiệp.

Một ý kiến khác rất đáng ghi nhận của ông Nguyễn Trần Bạt trong bài viết “Việt Nam với chiến lược xây dựng hai nền kinh tế”, ông cho rằng “nhiệm vụ chiến lược” của Việt Nam là phải xây dựng hai nền kinh tế: Kinh tế phát triển và kinh tế bản thể (thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa). Hai thị trường này cần phát triển song song, tránh việc dồn tất cả các nguồn lực cho thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị trường trong nước. Với hơn 80 triệu dân, Việt Nam được các doanh nghiệp lớn trên thế giới đánh giá là “tiềm năng” và muốn có thị phần ở Việt Nam, trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn bỏ ngỏ thị trường này.

Đành rằng thị trường xuất khẩu là rất khổng lồ, đơn đặt hàng nhiều với số lượng lớn, tiền thu nhanh và bằng ngoại tệ mạnh…thế nhưng thị trường này tiềm ẩn nhiều rủi ro: không ổn định, khó tiên liệu và nắm bắt, phụ thuộc vào sự thất thường của thị trường.

Thị trường nội địa tuy nhỏ (vì đại đa số người Việt còn nghèo, tâm lý thích hàng ngoại và sợ hàng nội do chất lượng kém), sức tiêu thụ yếu, đồng vốn thu hồi chậm…thế nhưng thị trường này lại rất ổn định, dễ nắm bắt tâm lý và nhu cầu của người tiêu dùng (vì là sân nhà, người nhà) nên các doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi kế hoạch sản xuất và kinh doanh cho phù hợp với hoàn cảnh.

Trong cuộc khủng hoảng này các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới cảm nhận được sự quan trọng của thị trường nội địa, tuy nhỏ bé nhưng vẫn có thể duy trì được sản xuất trong khi các doanh nghiệp hoàn toàn dựa vào xuất khẩu có nguy cơ đóng cửa và phá sản.

Hướng đi cho các doanh nghiệp hướng tới thị trường nội địa là phải nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sự khác biệt cho mình, tránh chạy theo hàng rẻ tiền của Trung Quốc.

Cố gắng tạo dựng thương hiệu và gây dựng uy tín, tuy mất thời gian nhưng là việc không thể không làm trong kinh doanh hiện đại. Phải thay đổi tư duy là hàng đẹp đem xuất khẩu còn hàng rẻ thì bán trong nước, phải làm ngược lại là hàng trong nước phải đẹp và tốt hơn (hoặc bằng) hàng xuất khẩu (như ý kiến của ông Nguyễn Trần Bạt).

Các doanh nghiệp phải tư vấn và hướng dẫn cách sử dụng các mặt hàng mới, nêu rõ ưu và khuyết điểm so với hàng ngoại nhập (quan trọng là phải thành thật), tiếp thị và quảng bá mạnh mẽ hơn đến người tiêu dùng, ví dụ in catalog mẫu mã hàng hoá kèm theo giá cả cụ thể và nơi hàng đang bày bán, bằng tờ rơi hay trên internet…(nhiều công ty đã làm) và tôi tin rằng doanh nghiệp nào có quyết tâm sẽ thành công. Trong lĩnh vực may mặc một vài thương hiệu Việt đã có chổ đứng trên thị trường nội địa ví dụ Việt Tiến, Thái Tuấn…

Bất cứ một cuộc khủng hoảng nào dù lớn dù nhỏ thì đa số người dân nghèo là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và gánh nhiều thiệt thòi nhất. Đáng buồn là thành phần nghèo khổ lại chiếm số đông ở Việt Nam vì vậy đứng trên khía cạnh chính trị và xã hội thì ý kiến của ông Nguyễn Trần Bạt rất đáng lưu tâm. Ông cho rằng

“con người phải là mục tiêu của mọi chương trình phát triển”, việc “lấy tăng trưởng GDP hay lấy tăng trưởng việc làm làm mục tiêu là phiến diện”. “Phát triển việc làm và chất lượng của nó để tác động một cách tích cực vào sự tiến bộ của đời sống con người mới là mục tiêu lâu dài”.

“Từ chỗ xác định được mục tiêu lâu dài là con người và sự phát triển đời sống của con người, chúng ta sẽ có những thái độ xã hội, thái độ chính trị thoả đáng và những chiến lược kinh tế phù hợp để đạt được mục tiêu ấy”.

Cuộc khủng hoảng lần này còn kéo dài và hậu quả để lại sẽ rất lớn, chính quyền Việt Nam không nên giấu giếm sự thật mà cần cập nhật thông tin một cách đầy đủ và chính xác để toàn dân và xã hội tìm cách đối phó. Các vị lãnh đạo nên phát biểu có trách nhiệm, tránh kiểu phát ngôn bừa bãi và vung vít như ông Nguyễn Tấn Dũng rằng vào tháng 5/2009 Việt Nam sẽ thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng. Tuyên bố này của ông Dũng khiến giáo sư Trần Hữu Dũng, chủ nhân web Viet-Studies hài hước bình luận rằng nếu đúng như ông Dũng nói thì Việt Nam vào tháng 5 sẽ thay Mỹ làm đầu tàu kinh tế kéo thế giới ra khỏi khủng hoảng!

Trước khi kết thúc bài viết, tưởng cũng nên nhắc đến một sự việc có vẻ thuộc về kinh tế nhưng hệ quả là rất lớn về mặt chính trị mà nhà nước này xem ra lại không chịu nhìn rõ: việc khai thác bô xít tại Tây Nguyên. Lãnh đạo Việt Nam cần dừng ngay lại dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, dự án này không những không mang lại lợi ích kinh tế mà còn huỷ hoại môi trường sống và văn hoá người Tây Nguyên. Đồng thời dự án này rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia và có nguy cơ chia cắt đất nước. Nhà văn Dương Thu Hương đặt câu hỏi là sự việc sẽ đi đến đâu nếu Trung Quốc (bí mật) cung cấp vũ khí và tiền bạc cho các dân tộc Tây Nguyên vốn đang hiềm khích rất nặng với chế độ cộng sản do chính quyền đã thực thi các chính sách rất sai lầm đối với đồng bào Tây Nguyên?

วันเสาร์ที่ 21 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No320: Xuất khẩu gạo: Nông dân khổ vì “đoán mò”

Xuất khẩu gạo: Nông dân khổ vì “đoán mò”



2008 là năm có nhiều bi kịch đến với người nông dân, điển hình là việc giá gạo tăng ảo và ngưng xuất khẩu mặt hàng này...2008 là năm có nhiều bi kịch đến với người nông dân, điển hình là việc giá gạo tăng ảo và ngưng xuất khẩu mặt hàng này.

Nhìn lại và rút ra những bài học từ câu chuyện này để chống thua thiệt cho người nông dân trong xuất khẩu gạo, GS. Võ Tòng Xuân, Tổng giám đốc Công ty TNHH Nông thủy sản Việt Phi (VAADCO-VN) nói:

- Từ đầu năm cho tới tháng 4/2008, cuộc khủng hoảng lương thực trở nên trầm trọng - có nguồn gốc sâu xa là Mỹ áp dụng chính sách năng lượng mới - khiến giá gạo từ từ tăng lên.

Nhưng tăng đột biến nhất khi mà Tổng thống Philippines đề nghị mua gạo của Việt Nam với giá 700 USD/tấn để có gạo ngay.

Việc này khiến ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện đầu cơ, tiếp đến là ngừng ký hợp đồng xuất khẩu. Do đó, Thái Lan trở thành nước xuất khẩu duy nhất, giá gạo từ đó tăng tới 1.100 - 1.200 USD/tấn.

Trong nước, vì Nhà nước lệnh ngừng ký hợp đồng xuất khẩu gạo trong khi giá gạo thế giới tăng cao, nên các công ty lương thực lo ngại, hệ thống lưu thông bình thường bị xáo động, xảy ra đầu cơ tích trữ, thành ra thiếu gạo trên thị trường. Giá gạo bị đẩy lên 20.000 - 30.000 đồng/kg.

Bà con nông dân rất hoang mang, họ chưa thấy khi nào gạo lại lên ngôi như thế nên hò nhau trồng lúa.

Nhưng cùng lúc đó, Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan cũng dốc sức trồng như mình nên khối lượng thu hoạch rất lớn, nhu cầu nhập cảng giảm mạnh. Và bi kịch đã xảy ra: lúa được mùa nhưng bà con lại phải... khóc ròng!

Vào thời kỳ trước giải phóng, năm 1966, tại miền Nam cũng đã xảy ra tình trạng giá lương thực đột nhiên tăng vọt vì nạn đầu cơ, chính quyền khi đó đã lập ngay danh sách những kẻ đầu cơ, những nơi tích trữ gạo và... xử bắn một thương lái để làm gương! Thị trường lương thực bình ổn nhanh chóng!

Nếu chỉ có những chính sách chung chung thì không đủ sức răn đe và nếu Chính phủ không "ra tay" mạnh mẽ thì khó mà trấn áp được nạn đầu cơ!

Tôi nghĩ là lương thực cho 85 triệu dân không sợ thiếu, cái chính là chúng ta không nắm chắc được lượng gạo đã có mà chỉ "đoán mò" nên điều hành xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng, sau cùng là làm cho nông dân thua thiệt!

Theo ông, Chính phủ nên có những giải pháp nào để người nông dân không bị thua thiệt như năm 2008?

Điều quan trọng là phải tính toán lượng gạo hiện nay chúng ta đã có trong nước - đây là cái yếu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khi không có một hệ thống thống kê tốt để nắm được trong từng thời điểm, ở từng địa phương, từng doanh nghiệp còn bao nhiêu gạo.

Lẽ ra, việc làm này rất dễ trong thời đại tin học và hệ thống thông tin ở các tỉnh.

Nếu có được một "hệ thống thông tin lương thực" chúng ta có thể tính được tổng lượng gạo Việt Nam đang có ở bất cứ thời điểm nào để xác định ta có thể xuất khẩu được bao nhiêu sau khi trừ lượng dự trữ và an toàn lương thực.

Nếu ta cứ "đoán mò" rồi ra lệnh "cấm xuất khẩu" thì chỉ gây thiệt hại cho bà con nông dân và dẫn đến việc thị trường gạo rối loạn là điều khó tránh!

Theo tôi, cần cải tiến hệ thống an ninh lương thực quốc gia trên cả 3 phương diện: phương thức hoạt động, cơ chế thị trường và nhân sự phục vụ. Trong đó, chú ý đến việc ban hành chiến lược về nông nghiệp đúng thực chất.

Còn định hướng dài hơi hơn cho tương lai của gạo Việt Nam, nên chọn con đường nào để người nông dân có thể giầu được nhờ cây lúa?

Thời gian qua, Việt Nam có khuynh hướng chú trọng chất lượng cao nên hy sinh sản lượng. Lúa ngon cơm năng suất vừa thấp, vừa không kháng rầy.

Về chất lượng, gạo Việt Nam cũng không thể và không nên cạnh tranh với Thái Lan do nước này chuyên sản xuất gạo ngon, năng suất chỉ 2-3 tấn/ha. Chúng ta chỉ cạnh tranh được với họ nhờ năng suất cao, 7-8 tấn/ha, và ngắn ngày (trong vòng 90-100 ngày).

Năng suất này và thời gian ngắn này họ không chạy theo được, từ đó chúng ta có sản lượng lớn để xuất khẩu và thu bù lại.

Mặt bằng giá gạo xuất khẩu nay đã thay đổi-tăng cao hơn trước, Nhà nước nên nâng giá lúa ở mức cao này. Khi được đẩy mạnh xuất khẩu gạo, người nông dân sẽ được giàu lên nhờ cây lúa là chuyện tất nhiên thôi!

วันพุธที่ 28 มกราคม พ.ศ. 2552

No272: 10 tiên đoán cho tình hình kinh tế thế giới 2009 của Edward Harrrison



Edward Harrrison là 1 chuyên gia cố vấn kinh tế tài chính vĩ mô thế giới
cho công ty GMA (Global Macro Advisors). Trước đây ông là thành viên của công ty Cố vấn đầu tư Lion Stratergy Advisors tại NỴ và có làm việc cho Deutsche Bank, Bain Consulting, và Yahoo trong tư cách cố vấn. Ông nói được tiếng Đức, Hòa lan , Thuỵ điển, Pháp , cũng như Anh ngữ. Ông tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh MBA tại Columbia university và cử nhân kinh tế tai Dảrtmouth College tiểu bang New Hampshire USA.

10 tiên đoán cho tình hình kinh tế thế giới 2009 :

1- Nội các Obama sẽ không có khả năng thay đổi gì cụ thể thay đổi hiện trạng kinh tế. Hệ quả với chuyện quanh quẩn dậm chân tại chổ trong việc tài trợ bao quát cho ngân hàng , dẫn đến một khủng hoảng khác từ mất mát của sự bảo chứng từ bằng tài sản (Asset Backed Securities losses)

2- Nội các Obama sẽ làm thỏa mãn cho khuyng hướng xã hội bằng cách tái phối trí toàn diện hệ thống ngân hàng với sự chi tiêu khổng lồ về công ích. Cánh Dân chủ (Liberals) sẽ ưu thế trong việc chỉ định ít nhất 2 thẩm phán tối cao pháp viện thay cho Ruth Bader Ginsburg và John Paul Stevens rời chức vụ vì quá lớn tuổi.

3- Nội các Obama sẽ đối diện với chuyện một tiểu bang nào đó đi đến phá sản. Obama sẽ "bail out" cho tiểu bang này

4- Đông Âu sẽ đi đến cuộc khủng bằng cuộc khủng hoảng 1997 tại châu Á. Hậu quả là là sự rối loạn trong dân chúng và sự kiện đi đến gần sụp đổ của hệ thống ngân hàng Châu Âu.

5- Hệ thống ngân hàng Ái nhĩ Lan sẽ bị tác động mạnh bởi sự khủng hoảng niềm tin và đưa đến tình trạng tương tự tại Iceland từ những khoan nợ bị mất và quá tải của hệ thông ngân hàng. EU sẽ bail out toàn bộ hệ thống ngân hàng Ái nhĩ lan.

6- Giá dầu sẽ lao đầu xuống chỉ còn 25$/thùng cuối năm 2009.

7- Kinh tế Trung cộng sẽ bị sụp đổ từ sự cắt giảm khổng lồ hàng nhập cảng từ TRung cộng. Nước này sẽ gồng mình sống còn với những thách đố nghiêm trọng tới dồn dâp. Nhưng chưa ngưng ở đây : sức tăng GDP tổng sản lượng nội địa của Trung cộng sẽ lao đầu xuống còn 2% mà thôi , sự bất ổn trong dân không thể tránh được.

8- Rào cản quan thuể (tarrif) cùng chinh sách nâng đỡ cho xuất cảng và thi đua giảm giá chỉ tệ làm rối loạn quy ước tự do mậu dịch quốc tế. Ban đầu các quốc gia lợi dụng WTO để đưa họ lên nhưng sau này chính họ chỉ hành động có lợi một chiều mà thôi. Hoa kỳ là nước đầu tiên bảo vệ cho lợi ích mình trước đã.( Unilaterally)

9- Giá nhà cửa của Hoa kỳ sẽ ngưng giảm , hệ quả vụ Suprime ít hoành hành đi. Trái lại, Anh và Ái nhĩ lan rối loạn về tín dụng địa ốc sẽ gia tăng khủng khiếp.

10- Hoa kỳ sẽ bắt đầu làm hòa với Venezuela, Cuba, hay Iran. Thái độ này là dấu hiệu Obama sẽ đi theo học thuyết Sino-American của chính phủ Nixon trước đây (Sino-American của tt Nixon = cũng không đồng minh mà cũng không là kẻ thù với Tàu) ; nội các Obama sẽ kiện toàn thêm từ học thuyết này của cố tt Nixon.

วันพฤหัสบดีที่ 15 มกราคม พ.ศ. 2552

No247: Tài Chánh Đảng CS Viet nam


Một hiện tượng thấy rõ, khác biệt giữa Đảng CSVN và các đảng chính trị ở hầu hết các nước trên thế giới là vấn đề "tài chánh đảng." Không phải vì chuyện các tờ giấy bạc khác nhau, nhưng chỉ vì các chặng đường tới và đi của các tờ giấy bạc này khác nhau. Vấn đề tài chánh của Đảng CSVN… Đúng là một rừng bí mật còn hơn là lỗ đen của vũ trụ.



Khi chúng ta nói "tài chánh," chỉ là cách nói theo giọng miền Nam của chữ "tài chính." Ngắn gọn, đây là chuyện tiền bạc, kinh doanh. Những người sống tại Hoa Kỳ đã thấy, các cuộc vận động gây quỹ rất là mệt nhọc, tốn thì giờ, kêu gọi và thuyết phục đủ thứ mới làm được một bữa cơm gây quỹ, và vân vân. Làm không khéo, vẫn có thể bị lỗ. Mà nhận tiền quyên góp từ nguồn bất minh, từ người có tai tiếng… là phải trả lại ngay, chỉ vì sợ dân chúng nổi giận, làm mất phiếu. Như trường hợp hồi ông Al Gore tới chùa Tây Lai Tự, được các sư và ni cô góp tiền để giúp tranh cử, tới khi bị báo chí hài tội là phạm luật bầu cử, vì chùa này đang hưởng quy chế bất vụ lợi, thế là ban tranh cử của Al Gore phải hoàn lại tiền… Vậy mà cực kỳ bí mật, Đảng CSVN không hề mệt nhọc gây quỹ gì hết, mà vẫn có dư tiền làm đủ thứ, nuôi cả bao nhiêu guồng máy cồng kềnh vẫn tự không thấy mình vi phạm luật pháp cho dù đó là từ tiền ngân sách nhà nước. Có trời đất nào mà một nhóm người lại dám lấy tiền nhà nước chia nhau mà xài như thế?



Nhà báo lão thành Bùi Tín từ Paris tuần này có bài viết nhan đề "Nhân Hội nghị Trung ương 9 đảng Cộng sản VN: Những sự thật cần nhận rõ," đã có đoạn nêu vấn đề tài chánh đảng CSVN. Nhà báo Bùi Tín viết, trích:



"…Theo tôi có một số sự thật lớn nhất dưới đây không thể bỏ qua, nhắm mắt làm ngơ được…



2./ Hai là cần có một quyết định về công khai minh bạch triệt để nền tài chính quốc gia. Các chuyên gia quốc tế có trình độ cao và tâm huyết với Việt nam đều băn khoăn vì những con số về tài chính do các cơ quan Nhà nước Việt nam đưa ra vừa chậm trễ, không đầy đủ và thiếu độ tin cậy. Những con số về ngân sách quân sự, về ngân sách cho cơ quan an ninh tình báo có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng tất cả các chi tiêu, kế toán khác được công bố phải có độ chuẩn xác cao. Đặc biệt là khoản tiền Nhà nước chuyển cho đảng CS mỗi năm là bao nhiêu thì hoàn toàn mờ mịt. Cơ quan của đảng " Ban tài chính - quản trị Trung ương đảng " là cơ quan kinh tế - tài chính của đảng, có hàng vạn nhân viên, có một trưởng ban ngang cấp bộ trưởng, có 8 phó ban ngang cấp thứ trưởng, mỗi phó ban phụ trách một mảng tài sản của đảng. Nó bao gồm hàng ngàn nhà cửa, biệt thự, nhà khách, nhà nghỉ, nhà giải trí, trụ sở đảng các cấp, cơ quan chính trị, kinh tế, văn hoá, kinh doanh của đảng; các nhà máy, nhà in, cơ sở kinh doanh nông nghiệp, thủ công nghiệp, trồng và tiêu thụ ma tuý của đảng; các cơ sở xuất nhập khẩu, kinh doanh du lịch, ngoại tệ, đá quý của đảng; các phương tiện xe tải, xe khách, xe con, canô, tàu thuyền lớn nhỏ...Cơ quan chính của Ban này đóng gần như toàn bộ cơ ngơi của trường Albert Sarraut cũ, sát bên phòng họp của Ban bí thư và Bộ chính trị nhìn ra đường Hùng Vương. [năm 1987, tôi có dịp gặp ông Hoàng Quốc Thịnh, trưởng Ban này để bàn chuyện dùng ngoại tệ của đảng mua máy in hiện đại của Nhật để in báo Nhân dân Chủ nhật với 6 màu, nhân đó ông Thịnh giới thiệu về Ban tài chính quản trị của ông, và cho biết ở Hànội, Sàigòn, Hải phòng, Huế, Đà nẵng, Nha trang, Vũng tàu cũng như ở Chapa, Tam đảo, Đồ sơn, Sầm sơn, Đàlạt ... Ban của ông đều có nhiều cơ sở.]



Quốc hội có được biết ngân sách quốc gia do dân đóng thuế đã bị cắt cho đảng mỗi năm là bao nhiêu, thanh toán và kiểm soát ra sao? Được biết chỉ có vài người trong bộ chính trị biết rõ chuyện này; rõ nhất là phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng, người từng làm bộ trưởng tài chính hơn 10 năm trước khi làm phó thủ tướng.



Trong một chế độ dân chủ cũng như trong thời kỳ hội nhập quốc tế, vấn đề công khai minh bạch tài chính trở thành yêu cầu khẩn cấp, tránh cho nền tài chính - được coi là tài nguyên gốc, huyết mạch đất nước - không bị rò rỉ, cắt xén và tước đoạt từng mảng lớn…"(hết trích)



Như thế, chúng ta thấy rằng Ban Tài Chánh Đảng là một cơ quan quyền lực lớn, vì là nguồn tiền nuôi đảng CSVN, một bộ máy hiện lãnh đạo và điều hành cả nước, có trưởng ban ngang cấp bộ trưởng, và có hàng ngàn cơ sở kinh doanh… Tại sao một đảng chính trị lại có thể ngang nhiên xài ngân sách nhà nước kiểu bí mật như thế?



Thậm chí, Ban Tài Chánh Đảng rất nhiều khi đã giẫm chân lên luật pháp về kinh doanh. Cách nay vài năm, báo chí quốc nội loan tin rằng một cao ốc 33 tầng lầu đã xây xong giữa thủ đô Hà Nội, mới bị một cơ quan khảo sát về các dự án thành phố khám phá là việc xây dựng cơ sở kinh doanh này hoàn toàn chưa có giấy phép nào cả. Chuyện này ầm ĩ lúc đó, nhưng rồi cũng êm sau khi một bản tin loan rằng tòa nhà cao tầng này là của Ban Tài Chánh Đảng CSVN xây để kinh doanh, nhưng lại sơ xuất chưa xin giấy phép - một thủ tục rất là dễ với cơ quan này. Bản tin này lúc đó cho chúng ta thấy rằng, các dự án kinh doanh của Ban Tài Chánh Đảng hoàn toàn tách rời với các dự án kinh doanh của phía nhà nước, và quyền lực tới nổi có lúc quên cả xin giấy phép. Đúng vậy, xây tòa nhà 33 tầng lầu để kinh doanh giữa Hà Nội, mà không cần giấy phép. Đảng Cộng Hòa và Đảng Dân Chủ tại Mỹ mà nghe tới chuyện như thế hẳn là rất ngạc nhiên.



Một bản văn nhan đề "Thông Tư Của Ban Tài Chính - Quản Trị Trung Ương, Bộ Tài Chính: Hướng Dẫn Thực Hiện Cơ Chế Quản Lý Tài Chính Đảng," đề số 04/TT-LB đăng ở trang Bộ Tư Pháp (www.moj.gov.vn), ngày 24-9-1997 đã nói rõ rằng tài chánh đảng CSVN có nhiều nguồn khác nhau, kể cả nguồn lấy thẳng từ tiền nhà nước. Bản Thông Tư viết, trích:



"…3. Căn cứ vào tổng mức dự toán ngân sách chi thường xuyên hàng năm của Đảng được thường vụ cấp uỷ Đảng các cấp duyệt, cơ quan tài chính Nhà nước các cấp có trách nhiệm cấp phát kinh phí thường xuyên cho cơ quan Đảng bằng hình thức lệnh chi tiền và quyết toán kinh phí theo mục lục ngân sách Nhà nước như Luật Ngân sách qui định… (…)



…1. Ngân sách Đảng cấp TW, tỉnh uỷ, huyện uỷ có các nguồn thu và các khoản chi sau đây:



1.1. Nguồn thu:



Đảng phí: Mức đóng đảng phí của đảng viên do Bộ Chính trị quy định.



Thu từ các doanh nghiệp do Đảng quản lý (trừ thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước theo luật định). Khoản thu này chỉ phát sinh ở cấp TW và cấp tỉnh uỷ.



Thu sự nghiệp từ các đơn vị xuất bản và các đơn vị sự nghiệp có thu của Đảng.



Thu khác: Thu thanh lý TSCĐ, các khoản thu ủng hộ... (nếu có).



Thu kết dự năm trước.



Thu từ ngân sách Nhà nước: Là khoản chênh lệch giữa tổng dự toán chi được duyệt và các khoản thu nêu trên… (…)



… 4.2. Cơ quan tài chính cấp uỷ lập dự toán ngân sách quý, gửi cơ quan tài chính Nhà nước cùng cấp; cơ quan tài chính Nhà nước cấp phát kinh phí thường xuyên (gồm cả kinh phí dự phòng) cho cơ quan tài chính cấp uỷ bằng hình thức lệnh chi tiền theo dự toán được duyệt. Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm chuyển tiền theo lệnh của cơ quan tài chính Nhà nước.



4.3. Căn cứ vào thông báo phân bổ ngân sách của cơ quan tài chính cấp uỷ, đơn vị dự toán cấp II lập dự toán chi ngân sách quý (có chia ra tháng).



Cơ quan tài chính cấp uỷ xem xét, kiểm tra các yêu cầu chi, duyệt dự toán chi và đồng gửi kho bạc Nhà nước nơi đơn vị dự toán cấp II mở tài khoản. Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm chuyển kinh phí từng tháng, quý cho đơn vị dự toán cấp II theo yêu cầu của cơ quan tài chính cấp uỷ…"(hết trích)



Xài từ Kho Bạc Nhà nước? Đúng vậy, nói rõ trong bản văn như thế, không mắc cỡ giấu giếm gì hết. Đảng CSVN chơi còn bảnh y hệt triều đình nhà vua Fidel Castro của Cuba hay Hoàng Đế Kim Jong-il của Bắc Hàn.



Bạn muốn biết Ban Tài Chánh Đảng CSVN có bao nhiêu cơ sở kinh doanh? Bạn cứ việc lái xe ở Việt Nam, và khi ghé vào một trạm xăng để đổ xăng, sẽ có một xác suất là 10% bạn đang bơm tiền nuôi các cơ sở kinh doanh của Ban Kinh Tài Đảng CSVN và xác suất 5% là bạn đang nuôi các cơ sở kinh doanh của quân đội CSVN.



Bản văn nhan đề "Đánh Giá Thực Trạng Kinh Doanh Xăng Dầu Trên Địa Bàn Tỉnh Đồng Nai Thời Kỳ Đến Năm 2002," đăng ở trang www.dongnai-industry.gov.vn/hoso.asp nói riêng về các trạm xăng ở tỉnh Đồng Nai, cho thấy, trích:



"…Đối tượng kinh doanh xăng dầu:



Hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn rất đa dạng gồm mọi thành phần kinh tế tham gia, bao gồm các thương nhân đăng ký kinh doanh theo các loại hình: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước trung ương-địa phương, doanh nghiệp thuộc tài chính Đảng, các chi nhánh của doanh nghiệp ngoài tỉnh và các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Quân đội.



Mạng lưới kinh doanh, tiêu thụ:



Tổng số các điểm kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến ngày 31/12/2002 với tổng số là 224 trạm xăng dầu bố trí trên địa bàn Thành phố Biên Hòa và 8 Huyện (trong đó: 217 điểm nằm trong mạng lưới qui hoạch, 07 điểm thuộc quân đội đang chờ xử lý vì chưa đủ điều kiện trở thành thương nhân). Phân chia theo loại hình doanh nghiệp như sau: doanh nghiệp nhà nước là 32; công ty cổ phần là 14; doanh nghiệp thuộc tài chính Đảng là 21; quân đội là 11; công ty trách nhiệm hữu hạn là 28; doanh nghiệp tư nhân là 118…" (hết trích)



Như thế, riêng phần kinh doanh, nếu nói riêng về xăng dầu tỉnh Đồng Nai, Ban Tài Chánh Đảng CSVN đã nắm tới 21/224 trạm xăng. Nếu con số này tương tự với các tỉnh khác, sẽ có thể hình dung rằng Ban Tài Chánh Đảng CSVN đang nắm 10% cơ sở kinh doanh toàn quốc, hay để nói dè dặt, ít nhất cũng là nắm 10% cơ sở kinh doanh xăng dầu toàn quốc.



Vậy mà, Ban Tài Chánh Đảng CSVN lại là một lỗ đen tuyệt vời của vũ trụ… Tuyệt vời, có đảng chính trị nào bảnh như thế không. Tuyệt vời, chưa có thời nào như thế này, và cũng chưa thấy đảng nào ở VN mà chơi rất "khủng" như thế này… Bây giờ, chúng ta chỉ còn một thắc mắc lớn: Có phải ông Huỳnh Ngọc Sỹ khi cầm tiền hối lộ từ hãng Nhật PCI là để kinh tài cho Ban Tài Chánh Đảng CSVN hay không? Bởi vì không có cớ nào mà câu chuyện PCI dằng dai hoài...

วันอังคารที่ 30 ธันวาคม พ.ศ. 2551

No212: Tương lai nào cho năm 2009

Năm 2009 đứng trước một tương lai với nhiều ẩn số.

Các nhà kinh tế-xã hội đã dự đoán trật lất cho nhiều sự kiện trong năm 2008. Thử ghi lại vài điều:

- “Barack Obama không có khả năng đánh bại Hillary Clinton trong cuộc bầu cử của đảng Dân Chủ, dù chỉ ở một tiểu bang” – William Kristol, “Fox News Sunday”, 17/12/2006. Không những B. Obama giành chiến thắng mà còn trở thành Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ.

- “Sự đe doạ cho vận tải biển đã giảm đi nhiều hơn người ta tưởng. Thứ nhất, các tàu chở dầu được bảo vệ tốt trước các cuộc tấn công hơn mức chúng ta nghĩ tới. Thứ nhì, rất ít khả năng các cuộc xung đột địa phương trong tầm ngắn có thể gây tác hại đáng kể đối với các phương tiện vận chuyển” – Dennis Blair và Kenneth Lieberthal, “Foreign Affairs”, 5-6/2007. Kết cục: Trong năm 2008, hải tặc đã cướp đi hơn 50 tàu. Gần nhất đây, ngày 15/11/2008, hải tặc đã cướp tàu chở 2 triệu thùng dầu trên Ấn Độ Dương.

- “Peter viết: Tôi có nên bất an về khả năng tiền tệ của Bear Stearns và rút tiền của mình ra? Không, không, không! Bear Stearns không hề có khó khăn. Có nghĩa là, thậm chí nếu chuyện gì xảy ra thì sẽ có ai đó tiếp nhận. Bạn đừng rút tiền ra khỏi Bear! Bạn đừng làm kẻ ngốc!” – Jim Cramer, CNBC – “Mad Money”, 11/03/2008. Chỉ 6 ngày sau, Bear Stearns rối loạn vì tiền bị rút ra ào ạt, cổ phiếu sụt giá 90% và JP Morgan Chase mua lại với giá vài xu…

- “Ai đó nói rằng, chúng ta đang có suy thoái kinh tế hay đang tiến tới nó – mà trước hết là những ai nói về thời Đại Khủng Hoảng – là tự mình đưa ra một định nghĩa cho từ “suy thoái” – Donald Luskin, “The Washington Post”, 14/09/2008. Một ngày sau, Lehman Brothers tuyên bố phá sản. Các Blogers gọi Trend Macrolytics, giám đốc về đầu tư, là “người ngu ngốc nhất còn sống”.

- “Tôi tin rằng, chúng ta sẽ thành công trong việc ổn định hệ thống ngân hàng. Không ai còn đưa ra câu hỏi rằng, liệu một định chế nào đó phá sản, thì chúng ta không có khả năng làm gì nữa?” – Henry Paulson, “National Public Radio”, 13/11/2008. Dù được quốc hội bơm 700 tỷ đôla, 300 tỷ đã bắn phá trong nửa tháng 11/2008 để mua lại trực tiếp cổ phần của các ngân hàng, chẳng cần chờ lâu, cổ phiếu của Citigroup trong một tuần giảm 75% và lần đầu tiên trong 14 năm, dưới 5 đôla…

- Ngày 20/02/2004, Ben Bernanke, (giám đốc Federal Reserve ít lâu sau) nói trước Hiệp hội Kinh tế Phương Đông rằng, kinh tế thế giới đang đi vào kỷ nguyên ổn định về lạm phát và sản xuất. Sự đột biến giảm thiểu làm cho khả năng suy thoái trở nên ít hơn và yếu hơn!…

Bốn năm trước đây, sau khi quả bóng ngành công nghiệp IT xì hơi và vụ khủng bố WTC 11/09/2001, thế giới khởi sắc lại. Châu Á tăng trưởng cao. Hoa Kỳ và châu Âu khá ổn thoả, đáng tin. Nam Mỹ bắt đầu đi thẳng. Châu Phi từ tận cùng đứng lên. Tất cả những điều này được xem là thành quả của chính sách rót vốn mạnh bạo và tự điều chỉnh của kinh tế tự do, của phi tuần hoàn tiền tệ và bài toán ngân hàng hiện đại!

Thế giới đó không còn nữa! Chỉ trong nửa cuối của 2008, hàng loạt ngân hàng hàng đầu phá sản, thị trường tài chính ngạt thở, thất nghiệp ngày mỗi tăng, sản xuất suy sụp, giá nguyên liệu và thậm chí thực phẩm biến động chóng mặt, giá dầu tụt hoang dại, từ 147 đôla/thùng vào tháng 7/2008 xuống 40 đôla/thùng vào cuối năm. Mô hình kinh tế tư bản mới –turbocapitalism - trong đó hiệu quả thị trường và nguồn vốn không kiểm soát định ra tiêu chuẩn cho cuộc chơi - chấm dứt!
B. Madoff, trùm lửa đảo tài chính thế kỷ XXI của Wall Street
Nguồn: NYTimes.com
Cơn địa chấn tài chính xảy ra tại Mỹ làm rung chuyển địa cầu, còn hơn các vụ khủng bố của quân quá khích Hồi giáo. Thay vì lòng căm thù, là lòng tham vô đáy. Thay vì bom tự sát là các phương tiện tài chính tự do. Thay vì hàng ngàn người chết là hàng triệu người mất việc làm, bàng hoàng trước đói nghèo. Kẻ thù của nước Mỹ không từ bên ngoài mà nằm ngay trong hệ thống! Lỗi không phải chỉ của các ông chủ ngân hàng, mà còn từ mô hình do các nhà kinh tế tạo ra. Món rủi ro nhiều ngàn tỷ đôla, kiểu “subprime loan”, được “Wall Street” đóng vào chiếc hộp nhỏ với những tên gọi tắt mỹ miều ABS, MBS, CDS, ít ai hiểu nó là cái quái gì*. Cứ thế người ta chuyền tay bán cho nhau, từ hai bờ đại dương của nước Mỹ đi tới các trung tâm tài chính khác, giá cao dần lên cho đến khi bục vỡ. Hoa Kỳ ngã bệnh kéo theo sự khốn đốn cho nhiều ngành công nghiệp, thương mại tại hầu khắp các quốc gia vốn chẳng dính dáng tý gì tới khủng hoảng bất động sản và đời sống xa xỉ của người Mỹ… bằng tiền nợ! Chính thế, Barry Bosworth, chuyên gia kinh tế của “Brooking Fund” tại Washington nói (“Gazeta Wyborcza” 27/12/2008): “Hoa Kỳ dường như là nước duy nhất trên thế giới mà ai đó khi hết khả năng trả nợ thế chấp (thậm chí chẳng bao giờ có khả năng vẫn vay được tiền mua nhà...), chỉ đơn giản trả chìa khoá cho ngân hàng, chẳng hề chịu hậu quả gì, bằng cách đại loại như tuyên bố phá sản. Điều này giờ đây phải chấm dứt”.

Toàn cầu hoá với nhiều tích cực nhưng cũng lắm hiểm nguy. Các nước vô tình hoặc hữu ý gắn kết lẫn nhau. Giờ đây, “Trạng chết thì Chúa cũng băng hà”.

Nữ nhà văn nổi tiếng Canada - Marganet Atwood, gọi mối ràng buộc giữa con nợ lớn nhất Hoa Kỳ và chủ nợ lớn nhất Trung Quốc là hai anh em song sinh dính chung sườn. Hay hơn, nhà sử học Anh quốc - Niall Ferguson, đưa ra khái niệm “Chimerica”, gọi đây là quan hệ vợ chồng… (bất đắc dĩ?). “Người vợ tiêu xài tiền làm ra của anh chồng cần cù và tiết kiệm” – Niall Ferguson nói.

20% ngoại tệ dự trữ của Bắc Kinh được “cất giữ” trong két của hai tập đoàn “Freddie Mac” và “Fannie Mae” vừa mới qua cơn thập tử nhất sinh bằng liều chích tiền cực mạnh của quốc hội Mỹ. “Chimerica” phải tiếp tục cho Barack Obama vay tiền ưu đãi (nhỉnh hơn 4%) để tái thiết hệ thống tài chính và kích hoạt kinh tế qua đầu tư xây dựng hạ tầng. Còn Bắc Kinh thì phải bám giữ thị trường tiêu thụ lớn nhất để phát triển. Người Mỹ cười cay đắng khi Bộ trưởng ngân khố Paulson suýt té ngửa vì câu tuyên bố của phó thủ tướng Trung Quốc Wang Qishan tại Washington trong 12/2008: “Chúng tôi tin rằng phía Mỹ sẽ xúc tiến mọi biện pháp để ổn định thị trường tài chính và bảo đảm an toàn cho đầu tư của Trung Quốc tại Hoa Kỳ”!

Ông Marx có lẽ đang ôm bụng cười dưới mộ. Cách đây chỉ 20 năm, người Mỹ thà chặt đứt tay mình còn hơn là nói tới quốc hữu hoá ngân hàng.

Một trật tự mới hình thành: Nhà nước can dự điều chỉnh/kiểm soát kinh tế tự do. Mỹ mua lại cổ phần của các nhà băng và hãng bảo hiểm. Trung Quốc và Nga ngoài việc kiểm soát các ngành kinh tế chủ chốt còn mở quỹ đầu tư (một phần lớn dự trữ ngoại tệ đầu tư bằng cổ phiếu trong các tập đoàn của Mỹ và phương Tây). Tương tự như thế với Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan… Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hay kinh tế tư bản chủ nghĩa có kiểm soát trong giai đoạn mới?

Người ta bỗng phát hiện ra sự tằng tịu trớ trêu giữa chủ nghĩa tư bản với chế độ chuyên chế mà Đặng Tiểu Bình khởi xướng. Đến thời Putin, tiến trình này được thực hiện mạnh hơn qua việc nắm tập đoàn khí đốt lớn nhất thế giới Gazprom, quốc hữu hoá Jukos, thiết lập cường quốc nguyên liệu và vị trí của nước Nga trên thị trường và sân khấu chính trị.

Thế giới đang đứng trước những thử thách to lớn. Cuộc họp thượng đỉnh các quốc gia có tầm ảnh hưởng nhất - G20 - tại Washington chỉ gói gọn thiện chí trong tấm hình chụp chung. Các cường quốc cũ thiếu tự tin, các cường quốc mới ngồi lắng nghe, chia sẻ. Thế giới đa cực vẫn chờ tiếng nói của siêu cường quốc Hoa Kỳ. Không có Hoa Kỳ, thật khó đưa ra quyết định ngay cả trong lúc nước sôi lửa bỏng tài chính này. Liên hiệp châu Âu lúng túng, gồng mình và sẽ đứng bên lề nếu trong tương lai gần không đưa ra được chính sách chung sau thất bại về hiến pháp và hiệp ước Lisbon còn bỏ ngỏ. Ấn Độ đang bất ổn về chính trị. Trung Quốc với nhiều biến động xã hội và khoảng cách giàu nghèo quá lớn. Nước Nga với giá dầu đi xuống và dân số giảm sút quá lớn…

Nhưng chỉ số hiện tại còn xa với thời kỳ Đại Hủng Hoảng những năm 30, khi mà hàng ngàn ngân hàng phá sản, tổng thu nhập của Mỹ giảm 30%, thất nghiệp 25%...

Thế giới sẽ vượt qua khó khăn với những điều kiện tiên quyết. Phải giới hạn các cuộc xung đột khu vực để không lan rộng thành chiến tranh ở quy mô lớn, đặc biệt với vùng Cận Đông khi lửa đã bắt đầu cháy từ mấy hôm nay trên dải Gaza của Palestin. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama – niềm tin, hy vọng của nước Mỹ và cả thế giới – phải tái tạo được uy

Barack Obama: Yes, We can! Nguồn: Z.about.com
tín và vai trò lãnh đạo trong một không gian cởi mở, bình đẳng giữa các cường quốc. Việc trúng cử tổng thống tự nhiên đã cho B. Obama tư thế có lợi. Nhưng ông không phải là Đấng Cứu Thế. Lợi thế ấy cũng có thể là vật cản chân ông trước những biện pháp cải cách dứt khoát và đau đớn. Hoa Kỳ phải tận dụng mọi biện pháp và bài học chống khủng hoảng, suy thoái trong quá khứ (Thụy Điển 1992, Á châu 1997, Hoa Kỳ 2001) để lành mạnh hoá toàn bộ hệ thống tài chính. “Change. Yes, we can!” – khẩu hiệu của ông, nếu thực hiện được thì hiệu quả của nó cũng chưa thể tới sau vài tháng mà phải vài năm.

Quốc gia có tiềm lực nhất có thể vén tay áo vào cuộc với Hoa Kỳ là Trung Quốc phải duy trì ổn định xã hội và phát triển dù ở mức thấp hơn. Nước Nga cũng vậy, nhất là đã bắt đầu dấy lên phản ứng của tầng lớp lao động do ảnh hưởng khủng hoảng mang tới nhanh hơn các dự đoán và ảo tưởng của chính quyền. EU phải cải tổ được cấu trúc định chế hiện nay…

Các nhà kinh tế - xã hội (lại) dự đoán rằng, vài năm tới đây các cường quốc sẽ chia nhau kiểm soát các khu vực chiến lược. Nga: năng lượng; Trung Quốc: công nghiệp; Hoa Kỳ: hệ thống tài chính được tái thiết.

Đã có quá nhiều lý thuyết tư tưởng và kinh tế mới sau thời chiến tranh lạnh. Thế nhưng nhân loại vẫn lâm nguy trước cơn bệnh khủng hoảng toàn cầu. Những liều thuốc trấn an đã và đang được sử dụng có tác dụng tới đâu? Ít ai dám đoán trước thế giới đầy bất trắc, biến động và khó tin như hôm nay!

Chú thích: ABS: Asset-Backed Security ; MBS: Mortgage-Backed Security; CDS: Credit Default Swap.

วันอาทิตย์ที่ 23 พฤศจิกายน พ.ศ. 2551

No114: Kinh tế Mỹ đi xuống ảnh hưởng đến Việt Nam

Khả năng người Mỹ chi tiêu ít lại trong năm tới bởi vì suy thoái kinh tế làm cho toàn thế giới lo âu, đặc biệt là các nước xuất khẩu nhiều sản phẩm sang Hoa Kỳ. Trong vòng gần ba thập niên, mức tiêu thụ của Hoa Kỳ tăng hàng năm, và đó cũng là một động lực mạnh kéo theo tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Trong khi còn quá sớm để dự báo việc giảm chi tiêu tại Hoa Kỳ sẽ làm ảnh hưởng như thế nào đối với kinh tế Việt Nam, nhiều công nhân tại công ty dệt may nhà nước Hanosimex đã bắt đầu lo lắng.

Nguyễn Thị Thảo cảm thấy hài lòng với số lương 70 đô la một tháng. Chị Thảo năm nay 28 tuổi, có chồng và một đứa con 9 tháng. Chị Thảo nói: “Tôi xem TV và nghe nói về những khó khăn kinh tế tại Hoa Kỳ và tôi biết nó sẽ ảnh hưởng đến chúng tôi, bởi vì, nếu kinh tế Hoa Kỳ bị trì trệ, người Mỹ sẽ giảm đơn đặc hàng và chi tiêu. Việc đó sẽ dẫn đến nhiều việc làm cho những người giống như tôi sẽ bị mất.”

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Khoảng phân nửa các sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam đến Hoa Kỳ là quần áo và giày dép.

Công ty Hanosimex xuất cảng khoảng 60 phần trăm hàng hóa của họ qua Mỹ. Nguồn: NPR by Ngo Xuan Tung
Ông Adam Sitkoff, giám đốc Phòng Thương Mại Hoa Kỳ tại Hà Nội nói: “Khi người tiêu dùng Mỹ giảm chi tiêu, những mặt hàng xuất khẩu này sẽ bị giảm. Điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt cho kinh tế Việt Nam, không tốt cho các công nhân Việt Nam, và không tốt cho mậu dịch song phương.”

Thị trường Hoa Kỳ chiếm khoảng 60 phần trăm các mặc hàng xuất khẩu của Hanosimex. Phó giám đốc Nguyễn Thanh Bình nói các khách hàng đã bắt đầu cắt giảm đơn đặc hàng. Bà Bình nói: “Trong số các mặc hàng chất lượng cao, số đơn đặc hàng giảm khoảng 40 phần trăm so với năm ngoái. Đơn đặc hàng cho các sản phẩm rẻ tiền hơn thì giảm khoảng 10 phần trăm, phản ánh chiều hướng người tiêu thụ Mỹ chuyển từ các mặc hàng đắt tiền sang các mặc hàng rẻ tiền hơn bán tại các cửa hàng như Walmart và Target. Hầu hết các khách hàng của chúng tôi bắt đầu yêu cầu giảm giá.” Bà Bình nói thêm công ty của bà không có kế hoạch cắt giảm lao động, các công ty lớn với vốn nhà nước như công ty của bà được trang bị tốt đễ vượt qua sự tuột dốc của kinh tế. Các công ty sản xuất nhỏ của tư nhân tại Hà Nội và Sài Gòn thì đã bắt đầu sa thải công nhân.

Mức tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong những năm đạt mức ngoạn mục, trung bình khoảng 8 phần trăm một năm, chỉ đứng thứ nhì sau Trung Quốc. Một số vốn kỷ lục 60 tỷ đô la đầu tư nước ngoài FDI được hứa hẹn trong năm nay, tuy nhiên, đó là trước khi kinh tế toàn cầu bị suy thoái.

Ông Phạm Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu Tư Nước Ngoài, nói Việt Nam có thể chỉ nhận được một phần ba số vốn đã được hứa hẹn vì những khó khăn về tín dụng và khan hiếm vốn trên toàn cầu. Nhưng, ông Thắng khẳng định, số vốn đó sẽ đủ.

Chính phủ Việt Nam giảm chỉ tiêu tăng trưởng trong năm nay --từ 8 phần trăm xuống còn 6 phần trăm. Đó là một tin không vui cho một nền kinh tế đang phát triển, nhưng không đến nổi là xấu lắm.

Theo ông Sitkoff: “Điều đáng mừng là nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất trên toàn cầu. Chính phủ nhận biết điều đó, các công ty cũng biết như vậy. Hàng ngày, hàng tuần, chúng tôi vẫn thấy nhiều công ty nước ngoài tìm đến Việt Nam như một điểm đến để làm thương mại, một địa điểm để sản xuất hàng hóa. Khi kinh tế toàn cầu đi xuống, các công ty trên toàn thế giới sẽ tìm đến những nơi mà nền kinh tế vẫn còn trên đà gia tăng, và Việt Nam sẽ là một trong những nơi đó.”



Nguồn:

Vietnamese Workers Fear U.S. Spending Slowdown. NPR, by Michael Sullivan, 14 Novemver 2008.