แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Pháp luật แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Pháp luật แสดงบทความทั้งหมด

วันจันทร์ที่ 3 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No396: Những phiên tòa khó xử: Tội gì? Ai có tội?

Bùi Tín viết riêng cho VOA
31/07/2009


Nguyen Tien Trung
Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung
Nhóm lãnh đạo độc quyền toàn trị trong nước đã và đang mở những đợt bắt bớ tràn lan. Họ lần lượt bắt các nhà dân chủ như luật sư Lê Công Định, thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, cựu trung tá Trần Anh Kim, đe dọa các luật sư Lê Trần Luật, Tạ Phong Tần, mưu sát cô Hồ Thị Bích Khương ở Nghệ An. Công an, cảnh sát phối hợp với bọn xã hội đen chuyên đâm thuê chém mướn lao vào đánh đập bà con Phật tử tu tập ở Chùa Bát Nhã (Lâm Đồng) và bà con giáo dân ở Tam Tòa (Quảng Bình), đánh dã man, đến thành thương tật các linh mục Nguyễn Đình Phú và Ngô Thế Bính...

Nhiều người bị bắt, bị mất tích hơn 4 tháng nay vẫn không được xét xử. Số bị bắt trên đây tuy bị truy tố vẫn chưa được xét xử và chưa biết bao giờ mới ra tòa.

Bắt thì dễ, nhưng đưa ra xét xử lại không dễ, không đơn giản chút nào.

Bởi vì sau khi Đổi mới và Hòa nhập, chính quyền độc đảng cam kết xây dựng chế độ pháp quyền, cam kết công khai minh bạch trong hệ thống hành chính và tư pháp, các cuộc xử án nói chung phải công khai - nghĩa là về nguyên tắc công dân, gia đình bị cáo, nhà báo trong và ngoài nước đều phải được dự, có luật sư bào chữa, bị cáo được phát biểu hết ý kiến như ở mọi nước bình thường khác. Không thể còn những phiên xử "tiền chế", "đóng kịch" để quay phim, chụp ảnh, hay "phiên toà bịt miệng"...sẽ bị công luận trong và ngoài nước bác bỏ và nghiêm khắc kết án trở lại.

Theo chúng tôi được biết, các anh Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim... chỉ mong được xét xử sớm nhất, xét xử ngay, vì các anh thừa sức tự bảo vệ mình.

Chính quyền đuối lý nên lần lữa, kéo dài giam giữ bị cáo. Các viên chức tư pháp, chánh án, thẩm phán, công tố viên được cử cho những phiên tòa trớ trêu này cũng e ngại, lo cho bản thân, họ có thể nghĩ đến thời kỳ "hậu cộng sản".

Ở Liên Xô và Đông Âu cũ, một số viên chức tư pháp từng xử tội kiểu cưỡng ép luật pháp dưới chế độ "XHCN" toàn trị, đã bị sờ gáy về liên đới trách nhiệm với chính quyền độc đoán cũ.

Mời các bạn đọc những văn bản về lý do khởi tố các bị cáo, sẽ thấy rõ sự phi lý của lời kết tội về âm mưu "chống đối chế độ", "lật đổ chính quyền", "khủng bố"...

Le Cong Dinh
Luật sư Lê Công Ðịnh
Tất cả các bị cáo không một ai nói, viết, làm một việc gì có chủ định dùng bạo lực để lật đổ, hoặc kêu gọi nhân dân cầm gươm giáo súng đạn để khởi nghĩa, hay dùng bom mìn để khủng bố. Cũng chẳng có một ai đòi "chống cộng" một cách cực đoan, cả gói, lên án và gạt bỏ mọi đảng viên cộng sản ra khỏi đời sống chính trị tương lai.

Họ họp để trao đổi ý kiến về tình hình đất nước, về xây dựng chế độ đa nguyên đa đảng tiến bộ hơn hiện tại, để yêu cầu đảng CS thực thi dân chủ ngay trong đảng, và thực thi dân chủ ngoài xã hội. Những điều ấy có gì là "tội"? Lẽ ra bộ chính trị phải cám ơn những góp ý thẳng thắn và xây dựng ấy.

Trong Hiến pháp (1992) điều 69 ghi rõ: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật ". Không luật pháp nào được đi ngược với hiến pháp. Do đó không một bị cáo nào nói trên vi phạm hiến pháp cả.

Mỗi lần họp Đại hội Ðảng Cộng sản, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương lại kêu gọi toàn dân trong và ngoài nước hãy mạnh dạn, ngay thẳng góp ý cho đảng, phê bình mọi mặt, ưu điểm và sai lầm, khuyết điểm của đảng và nhà nước. Khi người ta hăng hái làm việc ấy thì sao lại gán cho họ là bôi xấu chế độ, là có âm mưu lật đổ?

Vậy thì việc chống tham ô lãng phí không đạt kết quả, càng chống càng tăng thêm, dơ cao đánh khẽ, chỉ đánh từ vai trở xuống là bịa đặt chăng ? Vậy thì vụ PMU18 bầy nhầy 3, 4 năm trời, vụ án PCI-Huỳnh Ngọc Sỹ úp úp mở mở là bằng chứng của quyết tâm chống tham nhũng rất cao(!) của lãnh đạo đảng và nhà nước ư

Còn việc chính quyền và đặc biệt là tổng bí thư và Bộ Chính trị đã tỏ ra quá mềm yếu đến ươn hèn trước sức ép của bành trướng phương Bắc mà Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Lê Trần Luật, Tạ Phong Tần...chỉ ra cũng là do những kẻ bất mãn, bị bọn phản động ở ngoài nước giật dây để bịa đặt ra hay sao? Những kiến nghị về ngừng khai thác bôxít của vài ngàn trí thức và cuộc Tọa đàm của 200 nhà nghiên cứu về "Biển Đông và hải đảo" đã trả lời rõ ràng đâu là sự thật hiển nhiên.

Việc có một số người nghĩ đến một hiến pháp mới, thậm chí cùng nhau trao đổi dự thảo một hiến pháp mới là một điều hay, tốt, đáng mừng chứ! Sao lại coi đó là tội chống nhà nước! Vấn đề là nội dung hiến pháp ấy ra sao, có được nhân dân chấp nhận hay không mà thôi. Họ có dám trưng cầu ý dân về vấn đề hệ trọng này không?

Chẳng phải là ai khác, chính ông Lenin từng cảnh báo rằng không ai phá hoại uy tín của đảng CS, không ai phá đổ sự nghiệp của người cộng sản bằng chính những sai lầm của họ. Ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cũng lắp lại ý ấy, rằng không ai phá hoại và lật đổ được chế độ XHCN, chỉ có chính những người cộng sản tham quyền, tham nhũng, thoái hóa và biến chất mới làm cho chế độ lâm nguy.

Lẽ ra Bộ Chính trị và Trung ương đảng CS phải tự nhìn lại mình, tiếp thu những ý kiến phê bình ngay thật đúng đắn của đảng viên bình thường, của giới trí thức và của nhân dân, sửa chữa những sai lầm, thoái hoá, biến chất tệ hại của đảng CS, tự mình rửa mặt cho sạch, lau kỹ những vết nhơ khó coi, thì lại đi bắt bớ người ngay thật, có lòng yêu nước thương dân cao hơn mình, để rồi không biết xét xử ra sao, tự mình dẫn mình vào bế tắc, vào ngõ cụt.

Mời các ủy viên Bộ Chính trị và uỷ viên Trung ương đảng CS đọc cho kỹ bài viết: "Thêm một lời khuyên chân tình" trên mạng Bauxite Vietnam.info, khuyên họ rằng hãy đối thoại thay vì đàn áp các anh Định, Trung, Kim...rằng "chúng tôi (giới trí thức) kỳ vọng ở những thanh niên có học thật như thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung".


Vậy thì ai có tội đối với dân ta, đối với nước ta? Ai làm suy yếu cái chế độ này? Ai làm xấu mặt cái nhà nước này, ai tỏ ra bất lực còn tiếp tay cho tham nhũng hoành hành, ai để mất đất, mất biển, mất đảo, còn mở cửa cho bành trướng vào sâu, lại còn rước chúng lên tận "mái nhà"? hay chính nhà lãnh đạo, kẻ cầm quyền tự bôi xấu mặt mình, chẳng cần ai khác bôi nhọ thêm.

Trong khi cả 700 tờ báo bị kiểm soát, kềm kẹp gắt gao, xin hãy đi khắp nước, nghe ngóng từ hang cùng ngõ hẻm, từ anh lái xe tắc xi, chị gánh hàng rong, đến các giáo sư đại học, các đặc đẳng công thần cộng sản, các em sinh viên ngành luật, các nhà báo bị mất việc, bị treo bút vì "tội" trung thực, bạn sẽ ngộ ra tình trạng thật sự của đất nước này, để nhận rõ ai thật sự có tội, và tội gì, để mà tìm hiểu và bàn luận về những phiên toà rất khó xử đối với nhóm cầm quyền toàn trị, khi một xã hội dân sự dù bị cấm cản vẫn cứ "lừng lững" xuất hiện, như nhận xét tinh tế của nhà văn Nguyên Ngọc.

วันพฤหัสบดีที่ 30 กรกฎาคม พ.ศ. 2552

No378: Sửa đổi đường lối để chống tham nhũng

Nguyễn Thanh Giang
25.07.2009

Tham nhũng là bệnh thâm căn của nhân loại. Tham nhũng xuất hiện từ khi có sự phân chia quyền lực trong xã hội và hình thành nhà nước.

Không thể không nhìn nhận rằng tham nhũng đã và đang tồn tại trong mọi xã hội,.mọi hệ thống chính trị, ở mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tham nhũng đến mức người ta ngờ rằng ở đâu không có tham nhũng mới là bất bình thường.

Ngày 8 tháng 7 năm 2009, trong phiên họp thứ 10 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, ông Vũ Tiến Chiến, chánh văn phòng của ban này nói “Trong tình hình hiện nay, cần phải xem xét đánh giá một cách thận trọng trước các báo cáo của địa phương chưa phát hiện đựoc vụ việc tham nhũng để xử lý.”

Trong một bài trả lời phỏng vấn với báo New York Times của Hoa Kỳ, tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương cũng từng nói “Tôi cho rằng chỉ có năm phần trăm của tảng băng được đưa ra ánh sáng ”. Nghĩa là, 95% các vụ tham nhũng chưa được phanh phui.

Hồi kháng chiến chống Pháp đã có vụ Trần Dụ Châu, hồi 1975 có vụ phi tang 16 tấn vàng từ ông Nguyễn Văn Thiệu để lại. Dẫu sao, so với bây giờ, tham nhũng thuở ấy còn thưa thớt.

Người phát ngôn Thanh tra Chính phủ Trần Ngọc Liêm cho biết, 6 tháng đầu năm 2009 chỉ riêng thanh tra 8 cơ quan gồm: Tổng cục Thuế, Dự án khu đất tam giác Trần Hưng Đạo – Phạm Ngũ Lão – Nguyễn Thái Hoc, tp HCM, Cổ phần hóa doanh nghiệp tại Thanh Hóa ... đã phát hiện sai phạm lên đến 11 tỷ 130 triệu đồng và 149.889 USD.

Hôm 1 tháng 7 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Hồng Khanh cho biết cũng trong 6 tháng đầu năm nay, các cơ quan chức năng của thành phố đã phát hiện tổng tài sản tham nhũng trị giá 487 tỷ 160 triệu đồng.

Tham nhũng là bất liêm, không phải chỉ Khổng Tử nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng viết: “Tham ô là trộm cướp... “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội, của Chính phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng mà nó nằm trong tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta.” “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ ‘giặc ở trong lòng’.”

Nặng lời hơn, Cụ còn xỉ vả: “Tham ô là một hành động xấu xa nhất của con người, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội”.

Để góp phần tích cực chống tham nhũng, ngày 7/11/2006 Bộ chính trị đã ban hành Chỉ thị số 06/2006/CT-Bộ chính trị tổ chức vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ”.

Nhưng, việc này có tác dụng hiệu quả nào không? Vì sao tham nhũng vẫn không giảm ? Đảng đã thực sự quyết tâm chống tham nhũng chưa?

Luật Phòng Chống Tham nhũng buộc cán bộ từ phó trưởng phòng của ủy ban nhân dân huyện, thậm chí một số cán bộ, công chức tại xã, phường cũng phải kê khai tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên. Nhưng, cho đến nay chỉ mới có 28 bộ ngành, cơ quan TƯ và 17 tỉnh, thành phố báo cáo hoàn thành việc kê khai tài sản thu nhập của năm 2008. (Liệu báo cáo có đầy đủ không? kê khai có đúng không?)

Ông Vũ Tiến Chién – Chánh văn phòng TƯ ban chỉ đạo chống tham nhũng thì khích lệ theo cái kiểu nhắc nhở các cơ quan thông tấn báo chí như sau: “Trong 6 tháng đầu 2009, việc phản ánh và đưa tin việc phát hiện và xử lý các vụ án tham nhũng của báo chí đã có phần thận trọng hơn”.

Điều thật mỉa mai là, người ta lợi dụng luôn cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ” để … tham nhũng! Người ta chen chúc nhau, móc ngoặc với nhau nặn ra hết đề tài vô nghĩa này đến chương trình vô lý khác để đào khoét ngân khoản quốc gia hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ đồng mà chia chác. Không cần người có hàm, có chức, bất cứ ai, không gì dễ bằng việc đề xuất một đề tài, một show diễn liên quan đến chủ đề đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Thế rồi, tuyển tập xào xáo này - vài tỷ. Công trình nghiên cứu kia chẳng có tư liệu, diễn giải, phân tích gì mới - vài chục, vài trăm triệu. Bài báo dăm bẩy trang vô hồn không chứa đựng chút tư duy nào - dăm bẩy triệu ….

Tháng 12 năm 2003, tại Merida, Mexico, đại diện chính quyền Việt Nam đã ký kết thỏa thuận tham gia Công ước Chống tham nhũng của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là UNCAC –United Nations Convention Against Corruption).

Công ước này sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế trong việc chống lại tham nhũng, thu hồi lại những khoản tiền bị tham nhũng, thúc đẩy ngân hàng và các tổ chức tài chính có những hành động chống rửa tiền, cho phép các quốc gia thanh tra các công ty nước ngoài và cá nhân mà có dính dáng tới tham nhũng tại nước của mình, cấm việc đưa hối lộ của các quan chức nước ngoài.

Tháng 8 năm 2006, chính phủ Đan Mạch đã tài trợ để Việt Nam tổ chức một hội thảo nhằm thúc đẩy việc phê chuẩn UNCAC. Tại hội thảo này, bà Charlotte Laursen, Phó Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam đã khuyễn khích:

“Việc Việt Nam phê chuẩn Công ước Chống tham nhũng của Liên Hiệp Quốc sẽ tạo ra một thông điệp đối với cộng đồng quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ của chính phủ Việt Nam trong việc chống lại nạn tham nhũng trên mọi lĩnh vực”.

Bà khuyên giải tận tình: “ Chính phủ Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa để chống lại nạn tham nhũng. Tham nhũng ảnh hưởng đến người nghèo, đến sự phát triển kinh tế và cũng ảnh hưởng tới tất cả tiến bộ về kinh tế-xã hội của Việt Nam. Chống tham nhũng sẽ mang lại lợi ích cho Việt Nam, làm cho khu vực kinh tế công trở nên hiệu quả hơn và nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam”.

Tháng 2 năm 2008, sau khi Liên Hiệp Quốc tổ chức một hội nghị chống tham nhũng ở Indonesia, ông Mai Quốc Bình, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ tuyên bố sẽ trình Chính phủ xem xét UNCAC trong qúy 1 năm 2008.

Vậy mà, cho đến ngày 3 tháng 7 năm 2009, Việt Nam mới ký phê chuẩn Công ước Chống tham nhũng của Liên Hiệp Quốc, đứng thứ 141 trong danh sách các thành viên chính thức đã phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn ra thông báo bảo lưu không bị ràng buộc bởi khoản 2 Điều 66 của Công ước. Khoản này quy định nếu có tranh chấp về cách giải thích, áp dụng Công ước mà không thương lượng hoặc giải quyết bằng con đường trọng tài được thì thành viên Công ước có quyền đưa vụ việc ra tòa án tư pháp quốc tế để giải quyết.

Việt Nam cũng tuyên bố không bị ràng buộc bởi một số quy định mang tính tùy nghi, không bắt buộc áp dụng của Công ước. Chẳng hạn như hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, hành vi tham nhũng trong khu vực tư …. Ngoài ra, không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ tội phạm về tham nhũng …

Tham gia Công ước quốc tế rôi, liệu công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam có sẽ đạt được thành quả nhân dân mong đợi không? Khó lắm!

Tham nhũng, theo cách hiểu thông thường, là việc sử dụng các quyền lực, uy tín và địa vị công cộng để chiếm đoạt các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội hoặc của người khác.

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng hay tham ô là hành vi " của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân ".

Đối với Việt Nam, không chỉ có vậy. Tham nhũng ở Việt Nam còn được dung dưỡng, được bao che bới chính đường lối, chủ trương của ĐCSVN.

Khi cơn suy thoái đã đẩy chế độ đến kỳ hấp hối, ĐCSVN buộc phải từ bỏ nền kinh tế chỉ huy tập trung quan liêu bao cấp để xây dựng nền kinh tế thị trường. Song le, vẫn nhất quyết ngoan cố đeo đẳng cái đuôi “Định hướng XHCN ”. Cho nên, cứ nhất quyết kinh tế quốc doanh phải là chủ đạo. Nhất quyết đất đai phải là công hữu …

Về kinh tế quốc doanh, cách đây 13 năm, người viết bài này đã từng phát biểu: “Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là các bầu sữa tong teo của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản” (Bài “ Thế nào là định hướng đúng ” in trong tập sách “ Khát vọng ngàn đời ”). Năm 2000, trong bài “Về vấn đề vai trò của doanh nghiệp nhà nước” (in trong tập sách “ Suy tư và Ước vọng”), tác giả lại nhắc: “DNNN là cái bồ sứt cạp thủng đáy; phía trên là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân đang được mạnh tay đổ vào; phía dưới, ngoác ra hàng loạt cái mồm khốn nạn chen nhau nhồm nhoàm nhai nuốt”.

Về đất đai, dưới danh nghĩa công hữu, đất đai ở Việt Nam hầu như là vô chủ, tạo điều kiện cho những kẻ có quyền, có thế mặc sức cướp đoạt, ban phát, chia chác …

Cuộc điều tra do Ban nội chính Trung ương và Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển tiến hành từ tháng 3 năm 2005 ở 7 tỉnh đã nêu danh 10 cơ quan tham nhũng nặng nề nhất, đứng đầu tất cả là địa chính nhà đất.với các vụ việc như: cán bộ lãnh đạo thị xã Đồ Sơn - Hải Phòng mang hàng chục mảnh đất có giá trị tiền tỷ đi chia chác và làm quà xã giao; vụ siêu lừa Nguyễn Đức Chi cùng dự án Rusalka và những sự “ưu ái ” khó hiểu từ phía tỉnh Khánh Hòa.

Đất rừng tại huyện ngoại thành Sóc Sơn (Hà Nội) bị băm nát. Rừng không để trồng cây mà được chia lô cho các quan và bọn tư bản đỏ xây nhà hàng, biệt thự, nhà nghỉ, làm trang trại;

Dự án sân golf Tam Đảo được tỉnh Vĩnh Phúc cấp phép với diện tích 137 ha, chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Đầu tư Tam Đảo đã dành tới quá nửa diện tích (90 ha) làm biệt thự. Trong 90 ha chủ đầu tư chia thành 290 lô đất, mỗi lô đất có giá khoảng 1 tỷ đồng. Tính ra, 290 lô đất công ty đã thu về khoảng 300 tỷ đồng, trong khi dự toán đầu tư cho toàn bộ dự án sân golf chỉ khoảng 400 tỷ đồng.

Sáu dự án đầu tư của doanh nghiệp trong nước vào các dự án sân golf ở Lâm Đồng có tổng diện tích trên 5.000 ha. Trong số này,người ta chỉ giành cho sân golf 991 ha. Hơn 4 phần 5 diện tích còn lại lọt vào túi cá nhân.

Báo Lao Động ra ngày 15 tháng 7 năm 2009 có bài đăng trên trang nhất mang tiêu đề lớn: “61% diện tích ( đất ) bị sử dụng sai mục đích ”.

Báo Lao Đông ra ngày 16 tháng 7 năm 2009 lại có phóng sự điều tra về “Gần 3,7 triệu mét vuông đất bị đem cho thuê giá ‘bèo’”.

Vân vân và vân vân …

Các tác giả trong cuốn sách “Công cụ hỗ trợ cho tính minh bạch trong công tác cai trị ở địa phương” ( Tools to support transparency in local governance ) đã đưa ra biểu thức sau: Tham nhũng (Corruption) = Độc quyền (Monopoly) + Bưng bít thông tin (Discretion) - Trách nhiệm giải trình (Accountability).

Đối chiếu Việt Nam, ta thấy: độc quyền “rất to” cộng với bưng bít thông tin cũng “rất to” trừ đi trách nhiệm giải trình “ rất nhỏ ” thì tất nhiên hiệu số tham nhũng “rất to”, rất nặng nề là phải. Cho nên, muốn chống tham nhũng có hiệu quả ở Việt Nam cần thực hiện 4 việc sau đây:

1 - Đường lối, chủ trương của Đảng cần được sửa đổi hợp lý: đất đai phải đa sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân một cách chính thức; các thành phần kinh tế phải được đối xử bình đẳng, không ưu tiên, ưu đãi thành phần kinh tế quốc doanh một cách bất hợp lý.

2 - Hạn chế độc quyền của ĐCSVN. Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc phải có độc lập tính, phải thực thi đầy đủ quyền và trách nhiệm giám sát thực sự đối với ĐCSVN. Tiến bước thận trọng nhưng nhanh chóng đến chế độ đa nguyên, đa đảng.

3 - Bảo đảm cho được tính minh bạch, tính công khai của xã hội, thông tin phải được cởi mở, báo chí phải được tự do thật sự.

4 - Các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của Chính phủ phải có trách nhiệm giải trình đầy đủ trước Quốc hội, trước nhân dân, đảm bảo cho được khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” công việc của Đảng, của Nhà nước.

วันอังคารที่ 24 มีนาคม พ.ศ. 2552

No366: Mưu ma chước quỉ

Thông qua cách ứng xử mà các cơ quan truyền thông nhà nước dành cho tám giáo dân Thái Hà, qua cách thức “khủng bố” bằng báo chí hay bằng các cơ quan công quyền tại Gò Vấp với Văn Phòng Luật Sư Pháp Quyền (VPLSPQ) đặc biệt với cá nhân luật sư Lê Trần Luật, cô Tạ Phong Tần và những người cộng sự của họ trong thời gian gần đây, những ai quan tâm tới thế sự hẳn đã nhận ra “chủ trương lớn của đảng và chính phủ” trong việc đối phó với những kẻ không một tấc sắt trong tay. Tôi xin mạnh dạn đưa ra vài nhận định của tôi trước khi diễn ra phiên xử phúc thẩm tám giáo dân tại Hà Nội.

Tiên phát chế nhân

“Tiên phát chế nhân” là một trong 36 kế của các chiến lược gia cổ. Kế này còn được diễn tả cách khác là “tiên hạ thủ vi cường”, với ý nghĩa ra tay trước sẽ giành được thế chủ động trong các cuộc tranh chấp. Thế nhưng kế sách này có liên quan gì với những vụ việc tôi đang muốn bàn tới ở đây?
Những sự việc diễn ra với tám giáo dân Thái Hà những ngày gần đây cho thấy các cơ quan truyền thông tại Hà Nội đã nhận được “chỉ thị” bằng mọi cách bóp chết ý chí tranh đấu của các giáo dân này thông qua những cách thức “cù nhầy”, tỏ ra như đang lép vế, nhưng lại có tác dụng làm nản lòng, làm nhụt nhuệ khí đối phương.



Việt Nam Cộng sản
Nguồn: jaunted.com
--------------------------------------------------------------------------------

Mặt khác, ở phía nam đất nước, các cơ quan truyền thông, các cơ quan công quyền đang dùng những biện pháp “khủng bố” tấn công trực diện vào tinh thần, thể xác, công việc, người thân của luật sư Lê Trần Luật và những người cộng sự. Mục tiêu trước mắt của họ là bằng mọi cách tách luật sư Lê Trần Luật ra khỏi nhóm giáo dân khiếu kiện, đồng thời triệt hạ đường làm ăn của ông và những ai liên quan tới ông, dùng kế “sát kê hách hầu”, giết gà nhằm doạ khỉ, để cảnh cáo tất cả những luật sư hay những ai đang muốn tiếp tay cho những thành phần dân oan khiếu kiện.

Xét cho cùng, khi đồng ý để luật sư Lê Trần Luật bào chữa cho hai trong số tám giáo dân bị đưa ra toà ngày 08/12/2008, chính quyền đã không lường trước được vụ việc sẽ diễn biến phức tạp đến như vậy. Hẳn họ đã cho rằng khi “ban” cho tám người một cái án không thể nhẹ hơn như thế, trong bối cảnh chính quyền xưa nay có toàn quyền sinh sát, sẽ chẳng ai dại gì tiếp tục làm cái việc vô ích “con kiến đi kiện củ khoai”. Như vậy, dù đã gây không ít khó khăn cho luật sư và tám giáo dân, khi để cho luật sư Lê Trần Luật và nhóm giáo dân này liên kết lại với nhau trong một vụ kiện, chính quyền đã vô ý đánh mất thế “tiên phát chế nhân”. Những việc họ đang ra sức làm hiện nay phản ảnh tâm trạng hậm hực chữa cháy của họ.

Mặt khuất của vụ việc

Những gì đa số chúng ta biết tới, những biện pháp bỉ ổi nhắm vào Lê Trần Luật, Tạ Phong Tần và cả tám giáo dân thực ra chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm. Những tuần vừa qua, các cây viết từng đưa lên liên mạng toàn cầu những bài nóng hổi về vụ việc Thái Hà và Toà Khâm Sứ như J.B. Nguyễn Hữu Vinh, Alfonso Hoàng Gia Bảo, An Dân, Hà Thạch v.v… đang bị truy tìm hoặc lôi đi thẩm vấn liên tục. Nhà chức trách đang cố khép họ vào tội “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”! Tuy nhiên, việc khép tội còn là chuyện tương lai. Trước mắt là công việc làm ăn, người thân và gia đình họ đang bị đe doạ cách này hay cách khác.

Những ai từng nếm mùi khủng bố của hệ thống chuyên chính vô sản đã đạt tới mức phi nhân tính cao độ hẳn có thể mường tượng được rằng cũng như Lê Trần Luật và Tạ Phong Tần, những cây bút can trường đó cũng đang phải từng giây phút đối mặt với tất cả những trò côn đồ, gian ác và lưu manh bỉ ổi nhất. Những gì đã xảy ra với Hà Sĩ Phu, Vũ Cao Quận, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Hoàng Hải, Trần Khải Thanh Thuỷ, Phạm Thanh Nghiên và tất cả những ai đang lên tiếng vì một Việt Nam dân chủ và tốt đẹp hơn cho thấy rằng ngay cả những điều vô lý đến không thể tưởng tượng nổi cũng vẫn có thể xuất hiện đường hoàng dưới ánh mặt trời của xứ sở thiên đường XHCN Việt Nam.

Liệu có nên mỗi người một chút, “góp gió thành bão”, để chia nhỏ sức tấn công của con quái vật đang trong cơn gầm gừ say máu?

Và những mưu ma chước quỉ

Kiểu tấn công thí mạng, không thèm đếm xỉa tới ngay cả thứ “chính nghĩa” mà chính quyền từng ra rả rao giảng còn cho ta thấy rằng họ đang trong cơn điên loạn cùng quẫn. Cái đích xa hơn mà họ đang nhắm tới chính là cái gai trong mắt họ từ hơn một năm nay: Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt.
Những ngày vừa qua, xem ra mối tương quan giữa chính quyền và vị Tổng giám mục Hà Nội đang được cải thiện. Nhưng thiết tưởng đó chỉ là thời gian biển lặng trước trận cuồng phong. Mặt biển càng phẳng lặng thì cơn giông tố sẽ càng khủng khiếp. Lời tuyên bố của ông Nguyễn Thế Thảo với ngoại giao đoàn tại Hà Nội hé mở cho ta thấy rằng “chủ trương lớn của đảng và chính phủ” là tìm mọi cách đẩy Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. Họ đã dùng tới nhiều biện pháp như đấu tố, tạo dư luận quần chúng, ngay cả tìm cách đi đêm với Vatican, nhưng dường như mọi nỗ lực vẫn còn như muối bỏ bể. Khi các phương pháp êm thấm không xong, con thú sẽ hiện nguyên hình với tất cả bản chất bất nhân khát máu. Thời gian hẳn đã đủ để ta nhận thấy rằng họ sẽ không từ bất cứ thủ đoạn bỉ ổi và xấu xa nào.

Hơn một năm qua, nhà cầm quyền đã làm tất cả mọi chuyện để minh chứng cho “chủ trương lớn của đảng và chính phủ” là họ không bao giờ, không hề có thiện chí, cũng không bao giờ có khả năng giải quyết những tranh chấp, do chính họ đã tạo ra, bằng một con đường đàng hoàng theo luật pháp của chính họ.

Dẫu sao, người xưa có câu “hồi đầu thị ngạn”, lại cũng có câu “phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”.

วันศุกร์ที่ 13 มีนาคม พ.ศ. 2552

No359: Khi người luật sư trực diện hệ thống luật pháp nghịch thường!

Luật sư Lê Trần Luật (bên phải) cùng giáo dân Thái Hà

Anh hùng là người dám làm một hoặc nhiều công việc mà người bình thường không dám làm. Công việc vừa đề cập phải là công việc được xã hội tri ân. Tin tức thời sự trong thời gian gần đây cho thấy một nhân vật anh hùng đang được dư luận ngày càng ngưỡng vọng. Nhân vật anh hùng kia chính là Luật Sư Lê Trần Luật.

Lê Trần Luật là một luật sư rất trẻ, không vướng mắc gì tới chiến tranh Việt Nam trước 1975. Nội dung giáo dục mà Lê Trần Luật hấp thụ là chương trình giáo dục do đảng CSVN thiết kế. Trong đó học tập điều được goi là “đạo đức bác Hồ” là môn học bắt buộc. Tốt nghiệp đại học, hậu đại học và tự nghiên cứu thêm trong đủ loại sách báo, Lê Trần Luật là một luật sư có hiểu biết cao cấp về luật pháp, có tài kinh doanh. Luật sư Luật đặt văn phòng chính tại Ninh Thuận và hai văn phòng chi nhánh tại Saigon. Số lượng nhân viên toàn thời gian cho cả ba văn phòng là 20 người. Nhìn chung luật sư Lê Trần Luật là người có đủ kiến thức và tài năng để có thể có được cuộc sống vinh hoa phú quý trong xã hội Việt Nam dưới quyền cai trị của người Cộng Sản. Tuy nhiên, tâm thức của vi luật sư trẻ tuổi này lại đòi hỏi: phục vụ lẽ phải cần được xem là mục đích tối thượng của đời sống. Mọi quyền lợi khác đều là thứ yếu. Đó là lý do giải thích tại sao thân chủ của luật sư Lê Trần Luật đa số là dân oan, những người đấu tranh cho tự do dân chủ, những người sẳn sàng chết để tự do tôn giáo được sống… Mỗi hồ sơ là một bài biện hộ nồng nhiệt. Thế nhưng biện hộ nồng nhiệt không thể làm cho xã hội Việt Nam khởi sắc. Muốn mang lại công bằng và thịnh vượng cho quê hương, luật sư Lê Trần Luật không thể không tấn công thẳng vào hệ thống pháp luật đầy dẫy nghịch lý của CSVN.

Ngày 29/12/2008, tại Hà Nội, nhân một hội nghị của ngành tư pháp nhằm chuẩn bị cho công tác tư pháp năm 2009, ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN có đưa ra nhận định như sau:

“Việc điều hành của chính phủ phải tuân theo luật pháp, người dân, các doanh nghiệp cũng phải làm theo luật pháp, nhưng luật pháp còn nhiều vướng mắc. Nếu chúng ta không quyết liệt tháo gỡ, sẽ khó khăn trong điều hành. Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện tốt công tác tư pháp năm 2009 của bộ Tư Pháp sẽ góp phần cùng chính phủ giải quyết tốt khâu điều hành, giải quyết những khó khăn của đất nước”.

Nói ngắn và gọn, nhận dịnh của Nguyễn Tấn Dũng gồm ba điểm:

1) Luật pháp nắm giữ vai trò tối quan trong công cuộc điều hành việc nước.
2) Luật pháp Việt Nam có nhiều vướng mắc.
3) Chúng ta phải quyết liệt tháo gở vướng mắc.

Câu hỏi đặt ra là: vấn nạn “vướng mắc” của luật pháp nên giải quyết như thế nào?

Ngày 02/02/2009, trả lời cuộc phỏng vấn của phóng viên Hiền Vy, đài Á Châu Tự Do, luật sư Lê Trần Luật cho biết ý kiến của ông về hai chữ vướng mắc:

“Hệ thống luật pháp Việt Nam rất lộn xộn chứ không phải vướng mắc. Nếu hiểu ở cấp độ pháp lý thì vướng mắc có nghĩa là những điều luật bị mâu thuẩn lẫn nhau… Nói như thủ tướng là vướng mắc thì chưa chính xác mà phải nói là luật pháp Việt Nam còn rất nhiều lộn xộn. Hay nói là một hệ thống luật pháp còn rất là mông muội, sơ khai.”

Như vậy, theo cách diễn đạt của luật sư Luật, luật pháp chỉ gọi là vướng mắc chừng nào luật pháp đã có hướng tiến rõ rệt, tuy nhiên, một vài mâu thuẫn nào đó đã làm cho bánh xe luật pháp bị khựng lại. Con người chỉ cần giải gở những mâu thuẫn kia, những vướng mắc kia, là luật pháp có thể vận hành êm ả.

Luật pháp Việt Nam không vướng mắc mà là lôn xộn, là không có hướng tiến, là nay thế này mai thế kia. Luật sư Lê Trần Luật giải thích với phóng viên Hiền Vy về hai chữ lộn xộn như sau:

“Cái căn nguyên của sự lộn xộn đó là ở trong tư tưởng của những nhà lãnh đạo. Đó là tư tưởng tham quyền và một cái bề ngoài cần một hệ thống pháp luật dân chủ.”

Nhằm mô tả tình trạng lộn xộn của luật pháp Việt Nam một cách cụ thể, luật sư Lê Trần Luật dẫn chứng:

“Ví dụ như khi họ làm luật doanh nghiệp thì lại giao cho bộ Kế Hoạch Đầu Tư làm, như thế thì theo nguyên lý, cơ quan hành pháp tự tạo ra một dự thảo luật thì họ luôn luôn có khuynh hướng là giành lấy quyền luật cho cơ quan hành pháp.”

Kiểu diễn đạt của luật sư Luật đã cho thấy: bộ Kế Hoạch Đầu Tư viết dự thảo luật đầu tư sau đó lại chuyển đến quốc hội của CSVN để quốc hội gật đầu thông qua thành luật. Sự việc này có hai lộn xộn:

1) Hành pháp làm luật chứ không phải lập pháp làm luật.

2) Hành pháp, lập pháp hay tư pháp đều là con cái của đảng CSVN. Tất cả đều phải trung thành với đảng, thay vì trung thành với quốc gia.

Hai cái lộn vừa nêu tao ra tình huống: bánh xe luật pháp Việt Nam phải đối diện với hai dấu hỏi: Có nên hay không đầu hàng quyền lực của đảng CSVN? Có nên hay không nghiêm chỉnh tuân hành nguyên tắc tam quyền phân lập của thể chế dân chủ? Dĩ nhiên hai dấu hỏi kia nếu được trả lời bằng cách nhập chung CS va luật pháp dân chủ vào một nồi như CSVN hiên đang làm thì luật pháp Việt Nam chỉ là một nồi cám heo. Cám heo chỉ dành cho gia súc, không thể áp dụng cho xã hội loài người. Đó là nội dung cốt lõi của hai chữ lộn xộn mà luật sư Lê Trần Luật đã dùng để diễn tả trung thực tính chất của luật pháp Việt Nam. Lộn xộn có nghĩa là không thể đi hàng hai giữa độc tài và dân chủ. Lộn xộn có nghĩa là CSVN không thể tiếp tục dối gạt dư luận bằng cách dùng chiếc áo luật pháp dân chủ để che đậy chân tướng độc tài và tham ô của CSVN.

Mặt khác, trên quan điểm của môn triết học về luật pháp, goi tắt là triết pháp, luật sư Lê Trần Luật mạnh mẽ xác định:

“Về mặt nội dung, pháp luật phải tôn trọng những qui luật khách quan, hay nói đúng hơn là trong tư tưởng của các nhà lãnh đạo phải nghĩ rằng pháp luật là một nhu cầu khách quan. Pháp luật không có mục đích tự thân của mình mà pháp luật phải tương thích và phù hợp với những nhu cầu khách quan, chứ pháp luật không thể là ý chí của giai cấp cầm quyền được.” (Đài Á Châu Tự Do 2/2/2009)

Nói dễ hiểu hơn “Ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp”. Vì vậy luật pháp phải thường hằng chạy theo xã hội, phục vụ xã hội. Luật pháp không thể, không bao giờ có thể là ý muốn riêng của nhà cầm quyền. Ngày nào đảng CSVN còn duy trì tham vọng dùng luật pháp tiền chế của chế độ Hà Nội để cưỡng bách toàn dân phải phục vu quyền lợi của đảng CS, ngày đó luật pháp Việt Nam vẫn là một guồng máy trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.

Nhìn chung:

Về thực tiễn sinh hoạt của xã hội: luật pháp Việt Nam đang “vướng mắc”. Nó là tảng đá nằm chắn ngang con đường điều hành công việc quốc gia.

Về mặt kỹ thuật pháp lý: tam quyền phân lập giả vờ đã và chắc chắn sẽ làm cho luật pháp Việt Nam tê liệt. Tam quyền phân lâp là một kỹ thuật pháp lý thiếu nó xã hội không thể vươn mình lên.

Về mặt triết pháp: mang luật pháp tiền chế của đảng CS để áp đặt vào xã hội Việt Nam là một hành động chống lại nhân dân, chống lại qui luật vận hành xã hội. Hành động này hiển nhiên sẽ bị lịch sử đào thải.

Vậy thì giải pháp thích nghi cho luật pháp Việt Nam là gì? Luật sư Lê Trần Luật trả lời:

“Trong điều kiện Việt Nam, chỉ có cách thức là cho đa nguyên, đa đảng thì khi đó mới có thể thực hiện được sự phân quyền một cách rõ rệt.”

Đa nguyên đa đảng có nghĩa là điều 4 hiến pháp 1992 của CSVN phải bị dẹp bỏ. Đa nguyên đa đảng có nghĩa là người dân dùng lá phiếu để yêu cầu đảng CSVN độc-tài-vô-hạn, tham-ô-dày-đặc phải rời bỏ sân khấu chính trị Việt Nam.

Tại Việt Nam ngày nay, người dân có thể tự do rong chơi trong xã hội đen, tự do sinh sống vô trật tự. Thế nhưng có một số điều tối kỵ. Đó là đừng bao giờ nói hoăc làm bất kỳ điều gì có liện hệ tới việc gây nguy hại cho quyền lực thống trị của CS. Đừng bao giờ đòi bỏ điều 4 hiến pháp. Đừng bao giờ nêu bật tính phi chính thống của chế độ Hà Nội. Luật sự Lê Trần Luật đã hiên ngang vi phạm các điều cấm kỵ kia bằng cách dùng thực tiễn đời sống cộng với triết pháp cộng với kỹ thuật pháp lý để minh chứng một cách khoa học và bình tĩnh rằng: Việt Nam không thể có chọn lựa nào khác hơn là con đường dân chủ đa nguyên. Dĩ nhiên luật sư Lê Trần Luật thừa biết rằng giấy phép hành nghề luật sư có thể bị bộ tư pháp CS thâu hồi bất kỳ lúc nào. Văn phòng luật sư có thể bị công an CS phá tan với ngàn lẻ một lý do. Cá nhân của luật sư sẽ bị giam bó trong ngục tù biệt giam. Sau cùng vợ con của luật sư Lê Trần Luật sẽ nhanh chóng rơi vào cảnh túng thiếu cơm áo. Những cái biết vừa kể không làm luật sư Luật khiếp sợ. Ông vẫn lừng lững bước vào con đường đả phá độc tài, áp bức. Đó là tính anh hùng của Lê Trần Luật, vị luật sư rất trẻ, rất tài ba và rất yêu nước.

Đỗ Thái Nhiên
Nguồn: Thông Luận

วันพฤหัสบดีที่ 12 มีนาคม พ.ศ. 2552

No357: VIỆTNAM: PHÁP QUYÊN VÔ LUẬT PHÁP

Đảng Cộng sản Việt Nam tự khoe “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền”, của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhưng người dân lại bị hạn chế nhiều quyền và thường xuyên phải sống bên lề luật pháp để nhìn cán bộ, đảng viên lọan quyền.

Ngang trái hơn , khi Nguyễn Văn Yểu,Phó Chủ tịch Quốc hội đòi phải “Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền ” (Tạp chí Cộng sản số 1-2007), thì nhà nước lại để cho đảng viên tự do xâm phạm các quyền của dân đã được Hiến pháp công nhận. Quan trọng hơn cả là các quyền làm chủ đất nước, quyền tự quyết định lấy thể chế chính trị và quyền chọn người đại diện cho mình tại các Hội đồng Nhân dân và Quốc hội.

Lề lối tổ chức nhà nước, bầu cử , chọn người do đảng duy nhất cầm quyền quyết định trọn gói đã vi phạm các nguyên tắc “của dân, do dân” , và phản bội lời thề của đảng nói rằng “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

Vậy mà Nguyễn Văn Yểu vẫn có thể vo tròn, bóp méo : “ Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng". Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Nhà nước đã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.”

Thứ “dân chủ” mà Yểu nói “không ngừng phát huy” là thứ dân chủ gì ? Hiến pháp công nhận dân có đủ mọi thứ quyền, nhưng đảng và nhà nước không cho dân hưởng bằng cách lập ra đủ mọi thứ Luật để nhiễu hóa và hạn chế các điều ghi trong Hiến pháp.

Bằng chứng như quyền tự do ngôn luận ghi trong Điều 69 viết rằng : “ Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” , nhưng nhà nước lại cấm tư nhân ra báo và buộc các báo được phép xuất bản phải tuyên truyền cho đảng là điều không hề ghi trong Hiến pháp thì có phải nhà nước đã vi phạm Hiến pháp không ?

Cũng như quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo đã viết rất rõ trong Điều 70 rằng : “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” thì hà cớ gì nhà nước lại chỉ cho phép các tổ chức tôn giáo họat động theo các điều kiện của nhà nước, và thường xuyên khủng bố những tổ chức tôn giáo không cho nhà nước xen lấn vào sinh họat nội bộ để kiểm sóat ? Nhà nước còn ngăn cấm việc tự do truyền đạo, in kinh sách và các tài liệu tôn giáo.

Như vậy thì nhà nước của đảng CSVN có còn chút giá trị gì là “nhà nước pháp quyền” nữa không, hay tính vô luật pháp của hành động là nhằm xóa đi Hiến pháp ?

Khổ nỗi Hiến pháp vẫn còn đó mà nhà nước CSVN vẫn tiếp tục vi phạm bằng cách viết ra đủ mọi thứ Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, Nghị định, Kết luận, Quyết định v.v... chồng tréo lên nhau để giới hạn tuyệt đối các quyền của công dân.

Hãy nghe Nguyễn Viết Thực, Ban Dân vận Trung Ương “giảng giải” thêm về ý nghĩa cao siêu của nhà nước pháp quyền : “ Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ công chức nhà nước và các thành viên khác của xã hội phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh tự giác. Nhà nước phải quản lý xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật. Mọi vi phạm pháp luật phải được pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời, thực hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật.” (Báo Điện tử đảng, 4-02-2009)

THAM NHŨNG-LỌAN QUYỀN

Nhưng trong thự tế nhân dân có được hưởng như thế không ? Hãy lấy “quốc nạn” Tham nhũng của cán bộ đảng viên để chứng minh cho tình trạng liên tục vi phạm pháp luật của cán bộ đảng viên.

Trong cuộc phỏng vấn của Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng ngày 06-03 (2009), Trương Vĩnh Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung Ương về Phòng chống Tham nhũng (PCTN) nói : “ Tình hình tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, hiệu quả công tác PCTN còn thấp. Công tác PCTN trong hai năm qua còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém biểu hiện ở:

Việc chuyển biến từ nhận thức thành hành động trong công tác PCTN còn nhiều hạn chế. Một số cấp ủy chưa nhìn thẳng vào thực trạng tham nhũng, lãng phí diễn ra ở địa phương, đơn vị mình. Việc thực hiện các quy định của Ðảng và Nhà nước về công tác PCTN ở không ít địa phương, đơn vị chưa nghiêm túc; việc vận dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn vướng mắc, lúng túng. Tính tiên phong, gương mẫu của một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có chức quyền còn yếu kém. Công tác kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở nhiều nơi còn yếu, thiếu chủ động, chưa thường xuyên; việc phát hiện tham nhũng của cơ quan quản lý cấp trên; phát hiện thông qua hoạt động giám sát và tự kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn rất hạn chế. Số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý chưa tương xứng với tình hình tham nhũng diễn ra trên thực tế. Hoạt động của Ban Chỉ đạo và Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN ở nhiều nơi còn lúng túng. Sự phối hợp của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, ở một số lĩnh vực chưa chặt chẽ.

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là: Thứ nhất là, do cơ chế, chính sách còn nhiều sơ hở, bất cập, thiếu đồng bộ, nhất là đối với các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng nhưng chưa được rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời. Thứ hai là, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn yếu kém; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chưa được phát huy trong công tác PCTN. Tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ cũng như điều kiện vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ PCTN. Thứ ba là, đối tượng tham nhũng hoạt động với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp.”

Như vậy thì có “pháp quyền” không hay cán bộ, đảng viên đã “lọan quyền” để thu vén tiền của mồ hôi, nước mắt của nhân dân ?

Có điều nên biết là những lời thú nhận của Trương Vĩnh Trọng được đưa ra ra sau 2 năm cả đảng thi đua chống tham nhũng, theo Nghị quyết Trung ương 3 năm 2006.

Hồi đó, Nghị quyết Hội nghị 3, họp từ 24 đến 29-7-2006, đảng CSVN đã nhìn nhận: “ Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta...”

“... Nhiều tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính nghiêm trọng, sự nguy hại của tệ tham nhũng, lãng phí, nên lãnh đạo không chặt chẽ, thiếu kiểm tra, đôn đốc, thậm chí còn nể nang, né tránh, dung túng, bao che cho tham nhũng, lãng phí; chưa thực sự dựa vào dân và chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.

Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn nhiều yếu kém. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm.”

Như vậy có phải công tác Phòng, Chống Tham nhũng đã thành “ Dã Tràng xe cát biển đông” hay nhà nước gọi là pháp quyền của đảng CSVN đã biến thành nhà nước vô kỷ luật nên cán bộ, đảng viên mới có thể lộng quyền để hành hạ, bóc lột dân như thế ? -/-


Phạm Trần
(03/09)

วันศุกร์ที่ 6 มีนาคม พ.ศ. 2552

No346: Nông Đức Mạnh và nhóm cầm đầu ĐCSVN hãy coi chừng !

Nhân sự kiến Omar al-Bashir, Tổng thống Sudan bị Toà án hình sự quốc tế ICC truy tố tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại.
Nông Đức Mạnh và nhóm cầm đầu bạo tàn, gian ác của Đảng Cộng sản Việt Nam hãy coi chừng !


Ngày 3/3/2009 vừa qua,Omar al-Bashir,Tổng thống Sudan đã trở thành nguyên thủ quốc gia đương nhiệm đầu tiên trên thế giới bị Toà án hình sự quốc tế ICC truy tố tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại.

Ngày 4/3/2009,tại cuộc họp báo ở Hague, Hà Lan, , phát ngôn viên Toà án hình sự quốc tế Laurence Blairon tuyên bố nghi can bị nghi có trách nhiệm hình sự về những vụ tấn công có chủ mưu chống lại một số lớn những người dân sự ở Darfur, Sudan.

Cáo trạng còn buộc Tổng thống Bashir những tội giết người, thủ tiêu, hãm hiếp, tra tấn, cường bách di dời một số lớn gia đình để cướp phá tài sản của họ.

Cáo trạng còn buộc Tổng thống Bashir những tội giết người, thủ tiêu, hãm hiếp, tra tấn, cường bách di dời một số lớn gia đình để cướp phá tài sản của họ.

Chưởng lý Luis Ocampo của Toà hình sự quốc tế ICC, lên án quân đội Sudan và các lực lượng Hồi giáo trợ giúp đã tàn sát người dân tại các trại tị nạn, giày vò thi thể họ, và dùng cách hãm hiếp tập thể để phụ nữ phải chạy trốn ra sa mạc và chết đói.Tuy nhiên Hội đồng thẩm phán ba người của toà ICC kết luận là không đủ bằng chứng để kết tội diệt chủng cho nghi can Omar al-Bashir.

Quyết định này của Toà hình sự quốc tế ICC đặt nền móng cho những cáo trạng sau này đối với những nguyên thủ quốc gia từng được coi là mục tiêu khả dĩ của những cuộc đìêu tra về tội ác chiến tranh. Trong số đó có một số lãnh đạo ở châu Phi, và cả Israel.

Chưởng lý Luis Ocampo của Toà hình sự quốc tế ICC, lên án quân đội Sudan và các lực lượng Hồi giáo trợ giúp đã tàn sát người dân tại các trại tị nạn, giày vò thi thể họ, và dùng cách hãm hiếp tập thể để phụ nữ phải chạy trốn ra sa mạc và chết đói.

Phát ngôn viên Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch Reed Brody tuyên bố án quyết cáo buộc và truy tố Omar al-Bashir là lời xác định rằng không một nhân vật nào, dù là nguyên thủ quốc gia, phạm tội mà có thể trốn thoát công lý.

Vụ án Bashir-Darfur lần này có nhiều ý nghĩa hơn vì là do Toà án hình sự quốc tế thường trực ICC xét xử.

Quyết định này của Toà hình sự quốc tế ICC đặt nền móng cho những cáo trạng sau này đối với những nguyên thủ quốc gia từng được coi là mục tiêu khả dĩ của những cuộc đìêu tra về tội ác chiến tranh. Trong số đó có một số lãnh đạo ở châu Phi, và cả Israel.

Tuỳ viên báo chí toà Bạch ốc Robert Gibbs tuyên bố Washington ủng hộ phán quyết của Toà ICC, và tin rằng những ai gây tội ác chiến tranh thì phải gánh trách nhiệm.Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói "những kẻ gây tội ác phải được mang ra trước công lý". EU cùng một số tổ chức nhân quyền cũng hoan nghênh quyết định ra lệnh bắt.

Ông Richard Dicker thuộc tổ chức Human Rights Watch nói: "Với lệnh bắt này, Tòa Hình sự Quốc tế đã đặt tên Omar al-Bashir vào danh sách truy nã".

Amnesty International thì kêu gọi các nước mà ông Bashir đặt chân tới bắt giữ ông.

Nhóm phiến quân Phong trào Công lý và Công bằng (Jem) ở Darfur gọi trát bắt là "chiến thắng của pháp luật quốc tế" và kêu gọi ông Bashir ra đầu thú.

Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon yêu cầu Sudan "hợp tác hết mức" với các tổ qchức của Liên hơp quốc .

Chiến tranh ở vùng Darfur phía tây Sudan bùng nổ năm 2003 khi những thành phần sắc tộc châu Phi nổi lên chống lại chính sách kỳ thị và ngược đãi của chính phủ Khartoum với thành phần đa số là người Á Rập. Gần 300 ngàn người Darfur chết trong sáu năm chiến sự, vì giao tranh, bị hành quyết tập thể, và chết đói, chết bệnh.

Liên hợp quốc ước tính có gần 2 triệu rưởi người Darfur bị cưỡng bách phải bỏ nhà cửa chạy đi lánh nạn chiến sự. Chính phủ Bashir bác bỏ cáo buộc về việc cho lệnh tàn sát tập thể, nói con số nạn nhân thấp hơn nhiều so với con số do Liên hơp quốc và phương Tây công bố.

img
Người dân xã Trương Yên bị ngất xỉu vì lựu đạn cay và roi điện công an công sản Việt Nam

img
Ngày 4/3/2009 hàng trăm công an với roi điện, lựu đan cay đàn áp nông đân xã Trường Yên (ngoại thành Hà Nội) chống lệnh cưỡng chế thu hồi ruông đất

Sự kiến Omar al-Bashir ,Tổng thống Sudan bị Toà án hình sự quốc tế ICC truy tố tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại là một lời cảnh báo đối với Nông Đức Manh và nhóm cầm đầu Đảng cộng sản Việt Nam đại gian, đại ác đang thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đòi tự do dân chủ, vạch trần bộ mặt phản đan, hại nước của chúng dâng hiến đât đai biên giới cho nhà cầm quyền Trung hoa cộng sản.

Toà án hinh sự quốc tế ICC được thành lập năm 2002 để xử các tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh. Tòa này đã được hơn 100 quốc gia công nhận.

วันจันทร์ที่ 23 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No324: Biểu Tình –từ góc nhìn luật lệ và văn hoá

”... nhân dân VN không phải là một loại người riêng rẽ khác biệt với nhân loại. Đặc thù nổi bật của VN được quốc tế ghi nhận và cần phải làm nhạt đi chính là ở chỗ “Mỗi công dân VN là một người tù dự khuyết”...”


(cảm nghĩ từ bài viết của nhà báo Xuân Bình cho Bé Phim)

Có phải đó là hào khí?

Hẳn là chưa ai quên những cuộc xuống đường rầm rộ được nhà nước tổ chức chu đáo cho các trường vào những thập kỷ trước, đặc biệt là trong những dịp “Chào mừng Đại hội (nào đó) thành công”? Từ sáng sớm, lũ học trò đói mét mặt đã được cẩn thận chăm sóc những khăn quàng đỏ cùng những lá cờ sao vàng nho nhỏ cầm tay, xếp hàng hai đi từ trường ra địa điểm tập họp theo đội hình diễu binh, với đội trống danh dự của trường dẫn đầu cùng ban giám hiệu, các giáo viên đi kèm từng lớp, lớp trưởng và lớp phó được phát sẵn mẩu giấy viết tay các khẩu hiệu và cách hô vuốt để cùng hét cho đồng nhịp: “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” - “sống mãi, sống mãi, sống mãi!”. Rồi “Đảng cộng sản Việt Nam muôn năm” - “muôn năm, muôn năm, muôn năm!”. Chẳng cần biết ý nghĩa của sự trọng thể hay trọng thị thế nào, lũ học trò bé con thời đó thích lắm, bởi vì, để đảm bảo sự đồng nhịp, học trò không cần học văn học toán mà được nghỉ lớp để dành hết thì giờ cho sự nghiệp học tính tuân phục và tập dượt nhiều ngày trước ngày chính thức xuống đường.

Với sự trợ lực hữu hiệu và tận tình của công an chìm nổi các loại, gần như mọi thứ đều ăn khớp theo mô thức tổ chức rập khuôn cả nước (và có thể rập cả khuôn Liên Xô-TQ?). Nhưng đã lắm người tự hỏi: Có phải đó là hào khí của một cuộc biểu thị tình cảm? Không ai chắc! Điều nắm chắc trong tay chỉ là: “Thép” đã tôi thế đó! Và người ta rùng mình theo ước mơ của đảng: sống mãi với muôn năm, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Gần hơn nữa, có lẽ càng ít ai quên các cuộc biểu tình trước cổng những đại sứ quán để chống các chính phủ Tây phương, đặc biệt là lần chống Mỹ đưa quân đội vào nước bạn Iraq để loại bỏ nhà cầm quyền độc tài bầu bạn Saddam Hussein? Từ cả tuần trước đó, hệ thống loa phường đã cạnh tranh tối đa với báo chí, đồng loạt mở hết công suất để tuyên truyền liên tục cho mục tiêu, chỉ tiêu, và cách thức biểu tình. Đến đúng ngày, đích thân dân quân và các tổ dân phố đã dồn sức huy động mọi giai cấp nhân dân vào cuộc, tiêu chí là phải có đủ mặt đại diện các thành phần công nhân, nông dân, thanh niên xung phong, sinh viên học sinh, phụ nữ, bô lão, thiếu nhi, cựu chiến binh… và tất nhiên là không thể loại trừ bộ đội, cán bộ công chức (thời đó rất hiếm tư chức), xích lô, xe ôm (thời đó cũng hiếm taxi), cả đầu gấu, hình sự, du côn… Tất cả đều được sắp hàng hai đi bên lề phải, tay cầm cờ xí, miệng hô khẩu hiệu theo những mẫu viết sẵn và phát trước. Lộ trình diễu hành đã được công an vạch sẵn, lại còn được cảnh sát giao thông hụ còi môtô mở lối. Đó đây lại có những băng-rôn cách khoảng đều đặn, xen kẽ tiếng ta lẫn một vài thứ tiếng khó đọc (và khó nghe): “Pítsờ Pho Irắc”, “Giăngki Gô Hôm”, “GioócBút dơkinlờ”, “Rút quân ngay, đồ khốn!”… Đến khi những đoàn người từ nhiều ngả đường đã tập họp đúng giờ tại địa điểm mít tinh thì lập tức nơi đó biến thành một hiện trường đấu tố khiếm diện bọn đế quốc, phản động, thù địch nước ngoài. Nếu địa điểm là cổng một đại sứ quán cần chống nào đó thì sẽ có cán bộ đứng phát cà chua thối cho nhân dân (không có trứng, hoặc cà chua tươi, vì lý do kinh tế bấy giờ). Xong xuôi, một tiếng còi hiệu vang lên để đồng bào bày tỏ sự căm tức cực điểm bằng cách đồng loạt ném cà chua vào cổng sứ quán. Máy ảnh của các phóng viên chỉ đợi ngần đó để nháy, cộng thêm cảnh tượng nhân dân cùng hát bài Như có bác Hồ… Thế là nguyên dàn báo, đài và loa phường hôm sau đã có đầy đủ tin tức hình ảnh, âm thanh cuộc biểu tình cao điểm của lòng căm hận bọn đế quốc đã thành công tốt đẹp vượt chỉ tiêu v.v.

Dù vậy, vẫn lắm người hỏi nhau: Có phải đó là hào khí? Có phải đó là biểu tình? Và lắm người, kể cả người nước ngoài, lắc đầu thay cho lời đáp.

Vậy thì Biểu Tình là gì?

Theo Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý – nxb VH-TT): “Biểu tình, đgt.: Tụ họp với nhau lại hoặc diễu hành trên đường phố để biểu thị ý chí, nguyện vọng hoặc biểu dương lực lượng, thường nhằm mục đích gây sức ép gì đó”.
Photobucket - Video and Image Hosting
Theo Từ điển Tiếng Việt (Trung Tâm Từ Điển Học – nxb Đà Nẵng): “Biểu tình, đg.: Đấu tranh bằng cách tụ họp đông đảo để bày tỏ ý chí, nguyện vọng và biểu dương lực lượng chung”.

Theo Encyclopedia Americana: “biểu tình là hành động ôn hoà của một nhóm người, nhằm mục đích bày tỏ đến cộng đồng một quan điểm hay cách nhìn của họ về một vấn đề nào đó trong xã hội”.

Theo Wikipedia: “biểu tình là một hình thức hành động bất bạo động thường diễn ra trong lịch sử được thực hiện bởi một nhóm người. Thuật ngữ này chỉ đến sự trưng bày một cách công khai những ý kiến chung của nhóm người này… Các biểu tình có thể có mục đích bày tỏ quan điểm hoặc ủng hộ hoặc phản đối một vấn đề công cộng, nhất là về một vụ bất công xã hội... Các biểu tình thường có liên quan đến vấn đề chính trị, kinh tế, và xã hội, thường nhằm mục đích gây sức ép cho một thay đổi nhất định.

Theo Kinh tế gia Nguyễn Trần Bạt: Biểu tình chính là quyền thể hiện những bức bách, mâu thuẫn và tình cảm của sinh hoạt xã hội.

Theo một độc giả ở Arizona: Biểu tình là công cụ duy nhất của người dân thể hiện tiếng nói và nguyện vọng của mình với chính quyền.

Theo Đại biểu QH Dương Trung Quốc: Biểu tình là cái hàn thử biểu giúp ta đo được độ nóng của cuộc sống.

Theo Luật gia Phan Thanh Hải: Biểu tình là sự thống nhất biểu đạt một ý chí tình cảm nào đó của (một số) đông người.

Theo một độc giả BBC: Người dân biểu tình là cách cuối cùng để nói lên nguyện vọng của mình khi cuộc sống bị bóc lột và không còn lối thoát.

Còn theo giáo án môn chính trị ở cấp trung học phổ thông VN: “Quyền biểu tình là quyền được tự do biểu lộ tình cảm đối với Đảng và Nhà nước”. Cũng chính là nguyên nhân của những cái lắc đầu kèm theo tiếng thở dài nêu trên.

Quyền biểu tình được thể hiện thế nào?

Về mặt hình thức: Tiến sĩ Gene Sharp sơ kết cả thảy 198 phương thức phản đối và thuyết phục ôn hoà bất bạo động, có thể liệt kê một vài hình thái tập họp số đông thường thấy, bao gồm: gửi kháng thư, giương biểu ngữ, thắp nến cầu nguyện, đêm không ngủ, diễn kịch, diễu hành, tuần hành bằng xe, tọa kháng, để tang chính trị, đình công, đình công ủng hộ công nhân bạn đình công, đình công luân phiên, tổng đình công, tuyệt thực, tống táng giả… Và cả những phương cách phản đối không cần tụ tập ở một nơi: bãi khoá, bãi thị, lãn công, làm nghẽn mạch điện thoại cơ quan, không tụ tập theo lệnh của nhà nước, tẩy chay báo chí trong luồng, tẩy chay các dịch vụ quốc doanh, tẩy chay bầu cử, tổ chức “tuần im lặng”, tổ chức “tuần cáo bệnh”, tổ chức “tuần áo trắng”, đồng loạt rút tiền ra khỏi các ngân hàng, thống nhất động tác chào nhau, chuyền tay cập nhật sổ đen các công an ác ôn, đồng loạt rời bỏ khu vực công, tuân hành miễn cưỡng trước khi từ chối mọi chỉ thị, từ chối các loại lệ phí bất chính, trì hoãn hay cản trở hệ thống chỉ huy và thông tin của nhà nước, bất cộng tác… Tức là, biểu tình không nhất thiết phải đi đôi với tụ họp một nơi, mà là sự đồng loạt bày tỏ ý nguyện thống nhất của số đông, dù là ở khắp nơi.

Về mặt đích nhắm: Tại Philippines, nhân dịp kỷ niệm 20 năm cuộc lật đổ cựu Tổng thống độc tài Marcos, người dân Phi đã xuống đường biểu tình đòi bà Gloria Arroyo phải từ chức vì những khuyết điểm điều hành guồng máy nhà nước. Ngược lại, tại Đài Loan, người dân đã nhiều lần xuống đường nhiều lần bày tỏ sự ủng hộ cho Tổng thống Trần Thuỷ Biển, người chủ trương không thống nhất với Trung Hoa lục địa. Tức là Nhân dân không chỉ biểu tình phản đối. Họ tự biểu tình ủng hộ nữa.

Còn về mặt ý nghĩa, hãy thử liệt kê một vài trường hợp tiêu biểu:

Tu Chính Án số Một trong bản Hiến pháp Mỹ bảo vệ quyền biểu tình ôn hoà của người dân thông qua quyền tự do ngôn luận và quyền tự do hội họp. Tu Chính Án số Một cũng nghiêm cấm Quốc Hội Mỹ soạn thảo bất cứ điều luật nào có tiềm năng xâm phạm đến các quyền tự do vừa kể.

Tại Thái Lan, bản Hiến pháp thứ 16, được thông qua năm 1997, có các quy định cơ bản về các quyền về tự do hội họp, tự do ngôn luận, tất cả có liên hệ đến quyền tự do biểu tình. Bất cứ hạn chế nào đối với các quyền đó cũng không được trái với quyền cơ bản mà người dân Thái Lan được hưởng là tự do tụ họp, tổ chức biểu tình, tham gia biểu tình. Luật chỉ cấm họ không được mang theo vũ khí.

Tại Việt Nam ta, khẩu hiệu giăng đầy cả nước là: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Đọc lại các bản Hiến Pháp xứ nhà, ta có những gì?

Hiến Pháp VN 1946: không có từ biểu tình.

Hiến Pháp VN 1956: Điều 25 - Công dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.

Hiến Pháp VN 1980: Điều 67 - Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Hiến Pháp VN 1992: Điều 69 - Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam ta vẫn chưa có luật biểu tình. Đại biểu QH Dương Trung Quốc đã từng nêu một câu hỏi không lời đáp: “Vì sao trong Hiến pháp đã nêu rõ quyền biểu tình của người dân mà chúng ta chưa có luật biểu tình cho dân được thể hiện cái quyền đó theo khuôn khổ của pháp luật?”.

Mà đã gọi là “Quyền” thì không phải đi xin, bởi lẽ: Theo nguyên tắc pháp quyền, Nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép, đối lại, người dân được làm tất cả những gì luật pháp không ngăn cấm.

Như vậy, mọi hình thức đấu tranh ôn hoà và không gây hại trực tiếp đến các cá nhân khác đều được coi là hợp pháp, và sinh hoạt biểu tình không nhất thiết phải chờ đến khi có luật biểu tình mới được hoạt động.

Cho đến nay cụm từ “theo qui định của luật pháp” vẫn được chính quyền giải thích một cách gian trá, theo sự cho phép hay cấm đoán tùy tiện của chính quyền.

Đó chính là biểu hiện rõ nhất của một thể chế công an trị.

Phản ứng của chính quyền đối với Biểu Tình?

Người ta còn nhớ, vào trước thời điểm 30/04/1975, mọi cuộc tổ chức và kêu gọi biểu tình (ở Sài Gòn) đều được (Hà Nội) ca ngợi là các hoạt động tiến bộ và thường được khuyến khích ngầm để trở thành những phong trào rộng lớn.

Còn sau 1975? Có lẽ ấn tượng còn đọng lại là cuộc biểu tình tự phát của khoảng 2000 SVHS ở Sài Gòn ngày 4-7-1989 để phản đối tờ Sài Gòn Giải Phóng đưa tin vu khống rằng SVHS đập phá nhà hàng Kỳ Hoà II (của ai đó). Theo gương của Bắc Kinh đối phó với vụ Thiên An Môn một tháng trước đó, công an thành phố đã hỗ trợ cho đại gia Kỳ Hoà II xua chó cắn sinh viên.

Đối sách của nhà nước có phần đổi khác ít nhiều ở các vụ biểu tình của người dân Thái Bình (1999), vụ biểu tình Tây Nguyên (2004), và gần đây là các vụ biểu tình tại Sài Gòn của người dân oan các tỉnh miền Nam, hay của thanh niên sinh viên phản đối lời tuyên bố ngạo mạn của Bắc Kinh nhằm thành lập huyện Tam Sa bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa. Đó là đối sách cô lập - phân tán - giải tán - bắt nguội – khép án vu vơ. Trường hợp điển hình: nhà Dân báo Điếu Cày bị kết án… thiếu thuế! Ngay cả những người làm đơn xin phép biểu tình như các công dân Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Cao Quận, để “Yêu cầu Chính phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát”, cũng đã bị nhà nước giam giữ bằng nhiều tội danh vớ vẩn. Nhiều người khác bị ghép vào tội danh hình sự ghi ở Điều 5 Nghị định 38/CP: “Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật…” và “các hành vi khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cuộc sống bình thường của nhân dân…”.

Trên thực tế, nghị định này quy định về một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng; nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành, Ủy ban Nhân dân các cấp và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm trật tự công cộng. Tức là, phạm vi điều chỉnh của nghị định này không phải về việc biểu tình.

Cũng trên thực tế, thanh niên sinh viên mặc áo đỏ hát quốc ca, ôn hoà hô khẩu hiệu phản đối hành vi xâm lăng của Trung Quốc, hay, tập họp để yêu cầu chính phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát, thì đã phạm tội gì? Hoặc giả, nông dân mặc áo trắng đi bộ 30 cây số về thủ đô đội đơn kêu oan, hay, giáo dân chỉ cầu nguyện và hát thánh ca, thì đã phạm tội gì? Ngược lại, phải hỏi cho ra lẽ rằng nhà nước ra tay vũ lực ngăn chận họ thì phạm tội gì? Còn nếu nhà nước vẫn muốn kết tội tự động bày tỏ lòng yêu nước, thương dân, mến đạo của họ thì phải đưa ra toà xét xử minh bạch.

Không nhất thiết phải hỏi rằng: Khi chúng ta chưa có Luật biểu tình thì việc biểu tình có vi phạm pháp luật hay không? Nhà nước VN đã tỏ rõ cho cả người VN ở trong và ngoài nước lẫn dư luận quốc tế thấy rằng Hà Nội đã trắng trợn vi phạm hiến pháp và luật pháp của chính họ. Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã phân tích rất rõ điều này trong bài viết “Nhà Nước Việt Nam Liên Tục Vi Phạm Hiến Pháp”.

Về phía Bộ Công An, bản tin trên báo Công An TP HCM ngày 15-12-2007 đã hăm dọa: “Trong những ngày gần đây, Công an TP Hồ Chí Minh phát hiện âm mưu, ý đồ và kế hoạch của các thế lực thù địch, phản động, trong đó có tổ chức phản động khủng bố ‘Việt Tân’, trang web ‘Tập hợp Thanh niên Dân chủ’, diễn đàn X-cafe và một số trang blog trên Yahoo 360o… lợi dụng mạng internet để kích động thanh niên, sinh viên, học sinh xuống đường tuần hành, biểu tình phản đối Trung Quốc. Việc lợi dụng kích động tuần hành, biểu tình gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố là vi phạm pháp luật Việt Nam”.

Qua đó, nhà cầm quyền Hà Nội đã dồn sức trên mặt truyền thông để đe nẹt nhân dân bằng những bài báo gán ghép hành động biểu tình với tội danh khủng bố, trong lúc chính họ đã vừa cất công giới thiệu các tổ chức kêu đòi dân chủ đó, vừa phải nhổ-liếm các quyết định bắt khẩn-thả khống những người mà họ cực lực tuyên truyền rầm rộ là khủng bố bằng hàng chục bài báo. Một điều đáng ngẫm cho dàn lãnh đạo nước ta, ngày nào mà họ còn chưa hết niềm tự hào VN được làm thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, là Luật chống khủng bố của Thái Lan vừa được thông qua, tương tự như rất nhiều nước khác, đã cấm chính quyền không được coi các cuộc biểu tình là hoạt động khủng bố. Không một ai có thể chấp nhận người phát ngôn một chính quyền đang là thành viên HĐBALHQ lại nhận định về các cuộc biểu tình của sinh viên thanh niên phản đối vụ Tam Sa rằng “đó là việc làm tự phát, chưa được phép của các cơ quan chức năng VN”.

Trên thực tế, chính các kiểu vu khống trên mặt báo vừa dẫn đã là những hành động vi hiến và phạm luật. Ngay cả nhận định đó của Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Lê Dũng cũng đầy tính hàm hồ cố hữu của một nhà nước công an trị.

Lại càng khó lòng chấp nhận văn bản của một số trường đại học cao đẳng ở Hà Nội cấm sinh viên tụ tập biểu tình đông người trước đại sứ quán Trung Quốc. Đó là các công văn hoàn toàn không có giá trị pháp lý, ngược lại, chỉ là loại văn kiện vi hiến, vi luật, lột tả lề thói công an trị thấm nhuần vào tận đầu óc ban giám hiệu (đầy học hàm học vị) các cơ sở giáo dục cấp cao của ta.

Ngay cả toà án cũng như cơ quan nhà nước cũng không thể tự mình cho phép quyền sáng chế ra luật cấm, tội phạm và hình phạt. Lại càng không thể đưa cả sự độc quyền toàn trị đó vào hiến pháp.

Phản ứng của người dân về những đối sách vi hiến và vi luật đó, ngược hẳn sự chờ đợi của giới cầm quyền, lại là một thái độ vô cùng tích cực: Không sợ đi tù – Sẵn sàng đi tù cho những người bị bắt vì cầu nguyện - Đòi đi tù thay cho những người bị áp án vô lối, ngay trước cổng toà án… Đó chính là hình thái đấu tranh cao điểm của nhân dân. Trong lịch sử loài người, đó cũng là biểu hiện sinh động nhất về mức độ “uy tín” cuối đời của những nhà độc tài.

Còn ở mặt tư duy, không ít người đã định nghĩa cực kỳ chính xác: “Phản động là hành động phản lại hay đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc”.

Trong tình thế hiện nay, rõ ràng là đảng và nhà nước CSVN mới đích thị đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc và Dân tộc, thông qua hành vi dâng đất-biển-đảo cho ngoại bang trong lúc đàn áp các cuộc biểu tình phản đối của nhân dân trong nước.

Công cụ của Phát Triển & Tiến Bộ

Bản chất cốt lõi của các cuộc biểu tình chính là những tiếng chuông cảnh báo cho nhà nước biết rõ lòng dân, hầu quan tâm và hành xử trách nhiệm giải quyết một vấn đề nào đó khiến nhân dân bức xúc, không chỉ trong lãnh vực chính trị, mà ngay cả kinh tế, xã hội…

Ở cấp độ thấp hơn, các cuộc biểu tình giúp cho giới chủ nhân xí nghiệp biết rõ ý nguyện của công nhân, giới điều hành đô thị biết cư dân muốn gì… nói chung là những người “hữu trách” hiểu được nguyện vọng của tập thể để điều chỉnh dự kiến, cải thiện kế hoạch và đổi mới công việc của họ sao cho hợp lý, vẹn tình.

Như vậy, ở một chừng mực nhất định, biểu tình không tự nó là giải pháp, nhưng đích thị là phương cách góp phần vào tiến trình hoàn thiện, cải tiến, canh tân mọi góc cạnh sinh hoạt của xã hội đúng theo khát vọng của nhân dân, và làm thăng tiến mọi cá nhân lẫn tập thể trong xã hội đó.

Vậy, hà cớ gì lại tồn tại những mức độ chấp nhận biểu tình khác nhau giữa các chính phủ, thậm chí trong cùng một khu vực, trong cùng một Hiệp Hội các quốc gia láng giềng? Tại sao bên cạnh những chính quyền điều hành quốc gia bằng các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền theo luật quốc tế và nhân dân họ được thoải mái biểu tình, lại còn đó một vài nhà cầm quyền cố dùng những luật lệ trí trá, lấy cớ là vì an ninh xã hội hoặc ổn định chính trị v.v… để đàn áp tiếng nói và bắt bớ nhân dân? Tất cả tùy thuộc vào tính chất của thể chế chính trị, kể cả những thứ trá hình mị dân mà từ thời thượng gọi là bản sắc.

Nước Mỹ chỉ mới vượt ngưỡng 200 tuổi mà đã khẳng định vị trí hàng đầu nhân loại là nhờ giới lãnh đạo của họ liên tục chủ trương và thực sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền của công dân Mỹ; cùng lúc, người dân Mỹ cũng biết rõ và tận dụng tối đa quyền phê phán, quyền biểu tình và quyền lựa chọn lãnh đạo của họ.

Ngược lại, ở các chính quyền độc tài núp bóng “bản sắc dân tộc”, họ chủ trương cướp chính quyền (bằng vũ lực) nên chú tâm vào việc giữ rịt quyền (bằng bạo lực) và chăm chút lợi riêng hơn hẳn bất cứ một điều nào khác, kể cả sự tụt hậu của cả dân tộc, hay đất nước bị mất đất mất đảo về tay ngoại bang. Họ coi thường nhân dân (lập luận dân trí thấp). Họ đứng trên pháp luật và cùng lúc nhân danh pháp luật (lập luận giữ yên trật tự xã hội). Họ tham nhũng, phát động và phát huy tập quán hối lộ (lập luận “bôi trơn” cho được việc) và thẳng tay đàn áp những ai tố cáo tham nhũng. Họ bóp nghẹt mọi tiếng nói của quần chúng nhân dân (lập luận “ổn định chính trị”). Họ tạo ra cơ chế xin-cho, đồng thời, xiển dương ý niệm cha-con / bác-cháu để trị dân theo kiểu ban ơn cho gì được nấy như lũ trẻ nít chập chững trong nhà (lập luận “noi theo tư tưởng” nọ kia, cộng thêm phong trào treo chữ Nhẫn). Họ chống biểu tình tới nơi tới chốn… Lãnh đạo Việt Nam ta thuộc chủng loại này, cho nên, mặc dù cứ huênh hoang tự hào đã gần 5000 tuổi, Việt Nam vẫn bị xếp hạng phải mất hơn 150 năm nữa mới bằng được Singapore non choẹt mới vài chục tuổi, nếu nó đứng yên.

Người ta rút ra được điều gì từ những góc nhìn này?

Một là: Càng cảm thấy bất an, người ta càng củng cố hoá nền công an trị. Đại biểu QH Dương Trung Quốc uốn lưỡi cách khác: “Ở các nước càng văn minh, càng phát triển thì quyền biểu tình càng được nhà nước bảo hộ”.

Hai là: Khi công dân không tôn trọng pháp luật, họ bị chế tài. Còn khi nhà nước không tôn trọng pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng công dân nước đó mất tin tưởng và khởi sự Bất Tuân Phục nhà nước.

Ba là: Kỹ thuật “tìm cho dân một kẻ thù” không còn là thứ vũ khí củng cố chế độ của các nhà độc tài. Đặc biệt là ở Việt Nam, khi đảng và nhà nước khiếp nhược trước kẻ thù ngoại xâm, đồng thời, dung dưỡng kẻ thù nội xâm là chính cơ chế quan liêu hành dân cùng hệ thống tham nhũng huyết mạch của đảng.

Bốn là: Tình trạng ổn định chính trị của một quốc gia không phải là được phản ánh bằng sự thiếu vắng các cuộc biểu tình, ngược lại, sự đè nén ngăn chận biểu tình mới đích thị là mầm mống của bất ổn định bùng nổ.

Năm là: Chính chế độ dân chủ về chính trị và sự công bằng hài hoà của xã hội mới mang lại ổn định đích thực và bền vững cho đất nước.

Thước đo trình độ Dân Chủ của quốc gia

Tập quán “Nói Lấy Được” của đảng và nhà nước Việt Nam không còn chút hiệu quả nào trong thế giới truyền tin chớp nhoáng ngày nay. Bức ảnh bịt miệng công dân trước toà đã truyền khắp năm châu trong vòng vài phút. Nội dung thẩm vấn bức cung những người bị giam giữ vô cớ không còn nằm yên trong bốn bức tường nhà lao VN. Bản án dành cho nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến đã trở thành nguyên liệu cho hàng trăm bản tin quốc tế về tình hình tham nhũng tại VN trong vòng 24 tiếng. Gần nhất là vụ tàn phá Phố Ông Đồ mấy ngày đón Xuân Kỷ Sửu này chỉ trong phút chốc đã bay ra khắp thế giới với đầy đủ hình ảnh, video, tên tuổi của các quan chức công an chỉ tay xỉa xói giành địa bàn. Dưới mắt nhìn thế giới, cách đối phó với những cuộc biểu tình ôn hoà chính là một trong các thước đo về trình độ dân chủ của một chế độ. Bất kể trình độ tuyên truyền của chế độ đó rộng hẹp thế nào. Bất kể những ngụy luận của chế độ đó nhiều ít ra sao:

Ngụy luận 1: “Nước mình dân trí còn thấp...” chính là biểu hiện rõ nét nhất về trình độ “quan trí” cực thấp và “quan đức” cực tồi của giai cấp thống trị đã tự cho phép mình coi dân như rác.

Ngụy luận 2: “Các cuộc biểu tình đó làm phức tạp thêm tình hình” phản ánh nhược tính cực khiếp của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đối với quan thầy TQ, một khi họ trước sau vẫn giữ cung cách ngoại giao chư hầu khấu tấu với TQ. Trên thực tế, nhà nước không phải chịu trách nhiệm ngoại giao về các loại sinh hoạt dân sự như là biểu tình, một khi nó không chủ trương kích động chiến tranh giữa hai nước (ví dụ điển hình đến mức cực đoan là những chiếc giày ném vào TT Geoge W. Bush vừa qua, chẳng hạn).

Ngụy luận 3: “Gây mâu thuẫn với đường lối ngoại giao đối thoại hoà bình hiện hành của Nhà nước” tự nó đã mâu thuẫn, khi các cuộc biểu tình đều tuyệt đối tôn trọng tính ôn hoà bất bạo động và chỉ chờ đợi từ chính quyền một giải pháp hoà bình, công bằng và danh dự.

Ngụy luận 4: “Không nghe theo âm mưu kích động của các thế lực thù địch, phản động” chỉ là lề thói suy nghĩ kém cõi của công an nhìn đâu cũng thấy địch, tự vẽ ra hình ảnh địch để được giải ngân hoạt động, hoặc tùy tiện chụp mũ cho bất kỳ ai khác là thù địch. Điều đó không thể và không nên trở thành lề thói tư duy của lãnh đạo đất nước. Đặc biệt là ở cấp lãnh đạo chính phủ, lẽ ra Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không nên bày tỏ tinh thần bất an và tâm lý bất ổn của đảng và nhà nước ta bằng loại “phát biểu chỉ đạo” tại Hội nghị Công an toàn quốc hôm 22-12-2008 là: Phải chủ động “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố” trong năm 2009.

Ngụy luận 5: “VN có đặc thù riêng” không thuyết phục cho các lệnh ngăn chận biểu tình, bởi nhân dân VN không phải là một loại người riêng rẽ khác biệt với nhân loại. Đặc thù nổi bật của VN được quốc tế ghi nhận và cần phải làm nhạt đi chính là ở chỗ “Mỗi công dân VN là một người tù dự khuyết”.

Ngụy luận 6: “Đảng có công giành độc lập và vẫn đang làm tốt nhiệm vụ của mình” là một ý niệm trí trá. Đảng không một mình giành độc lập cho VN. Nhân dân VN đã làm việc đó. Còn tình trạng tụt hậu hàng trăm năm so với làng giềng chính là bởi khả năng yếu kém bên cạnh tập quán tư túi của đảng và nhà nước VN (ví dụ điển hình và gần nhất là dân ta không ai làm cho Nhật cắt bỏ viện trợ ODA).

Ngụy luận 7:nhân danh nghị định 38 /CP, rằng “Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật…” và “các hành vi khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cuộc sống bình thường của nhân dân…” chính là cách tốt nhất để xoá hiến pháp bằng …nghị định, đặc biệt là dùng nó để từ khước hay ghép sẵn tội cho những người đang xin phép biểu tình. Không một nghị định, sắc lệnh, thông tư, chỉ thị hoặc công văn nào có hiệu lực một khi nó vi phạm hiến pháp nước đó hay vi phạm các công ước quốc tế về nhân quyền.

Ngụy luận 8: “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” chính là một phiên bản khác của ý niệm “làm chủ một cái rỗng không”, hay, hãy tự hào về cái “không có gì”.

Ngụy luận 9: “Làm xấu hình ảnh đất nước, bôi nhọ quê hương trong mắt bạn bè quốc tế”. Hình ảnh đất nước không thể nào xấu hơn được nữa, sau những sự kiện sứ thần quốc gia làm nhục quốc thể xưa giờ, gần nhất là trong các vụ buôn lậu sừng tê ở Nam Phi; tham nhũng thị thực visa ở Tiệp; thứ trưởng chơi cá độ bằng nhiều triệu USD tiền viện trợ; đại biểu QH tuyên bố ở Âu Châu rằng dân ta không cần tự do ngôn luận; tổng giám đốc hãng bia ăn cắp kính mát ở Thái; giám đốc bệnh viện ăn cắp rượu ở Singapore; phi công và tiếp viên VNA chuyển vận ngoại tệ và hàng ăn cắp ở Úc, Đức, Nhật v.v… Biểu tình chống tham nhũng, chống ăn cắp… mới chính là cách làm photoshop cho hình ảnh đất nước đa dạng hơn.

Ngụy luận 10: “chưa được sự cho phép” biểu lộ toàn bộ nếp tư duy ơn huệ, ban phát, đặc lợi, xin-cho… và cách hành xử đối với dân theo kiểu gia trưởng, cha chú, ân nhân, “trên”… đã nhiều năm lưu cữu trong đầu lãnh đạo xứ ta: Cho gì mới được nấy, kể cả miếng ăn, kể cả hiểu biết. Nó chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp của một Việt Nam lụn bại.

Thước đo dân chủ của một quốc gia đôi khi tỷ lệ nghịch với tổng số ngụy luận của chính quyền ở đó. Riêng ở VN, vụ việc cấm đoán biểu tình phản đối những tuyên bố thiếu thiện chí của Bắc Kinh trước đại sứ quán và tổng lãnh sự quán TQ còn là thước đo mức độ khiếp nhược đớn hèn của nhà nước VN.

Rõ ràng đảng và nhà nước ta cố tình ru nhân dân “…ngủ trong giường chiếu hẹp, giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.

Biểu Tình là một phần của nếp sống văn Minh

Tại Thái Lan, nếu một công dân muốn tổ chức biểu tình và có thông báo với cảnh sát nhưng sau đó bị cấm không được biểu tình thì người đó có thể: một là kiện ra tòa sơ thẩm bình thường, hai là kiện lên tòa án hành chính, ba là nếu việc cấm cản không cho tổ chức biểu tình bị coi là vi hiến thì người ta có thể đặt vấn đề với các dân biểu QH, đồng thời, yêu cầu các tổ chức phi chính phủ đưa vấn đề ra trước tòa án Hiến pháp của Vương quốc Thái Lan.

Ở Mỹ, tin tức hàng ngày cho thấy dân Mỹ biểu tình thường xuyên, có khi mục tiêu là đòi hỏi cho cả quyền được đối xử tử tế của loài vật (nông trại bò phải rộng thoáng, chuồng gà phải đủ chỗ cho gà xoay trở, lò mổ không được kéo dài nỗi đau đớn cho con vật khi giết thịt v.v…). Có lẽ cũng chưa có nơi nào trên thế giới có cuộc tụ hội tự ý của gần hai triệu người trong cơn giá lạnh giữa mùa Đông (trong đó có hơn 200 ngàn người ngủ lều giữ chỗ qua đêm), chỉ để chứng kiến tại chỗ lễ nhậm chức của một tân tổng thống như trường hợp ông Barack Obama tuần trước.

Ở Pháp, các cuộc đình công ôn hoà và thường xuyên đã làm thay đổi sinh hoạt và cả bộ mặt quốc gia, lâu dần đã được mặc nhiên xếp loại thành một nếp sống có tên là “văn hoá biểu tình”.

Đó là một nếp sống không chỉ thể hiện trình độ văn minh (đi tìm giải pháp bằng cách nêu vấn đề, tạo sức ép, và tranh luận tìm đáp án tối hảo), nó còn là một sinh hoạt lưỡng lợi: Người dân gióng tiếng cảnh báo về những bức xúc tập thể của họ. Chính quyền hoặc các giới hữu trách liên hệ động não tìm giải pháp tốt nhất trong điều kiện và khả năng cho phép, thường là một cuộc họp tranh luận phương thức dàn xếp sao cho sự việc đạt được kết quả tốt hơn, khiến nhân dân hài lòng và chính phủ được thêm uy tín. Kết quả sau cùng là đất nước phát triển liên tục trong một nền văn hoá hoà đồng (quyền lực cân bằng, được kiểm, không áp đảo, không tranh thắng, chỉ mưu cầu sự hài hoà và tiến bộ của xã hội).

Biểu Tình vừa là quyền, vừa là một sinh hoạt bình thường của Công Dân

Rõ ràng, biểu tình chỉ có nghĩa là nhiều người bày tỏ công khai một quan tâm chung. Do đó mà có cả biểu tình phản đối và biểu tình ủng hộ một vấn đề (và theo định nghĩa đó thì nhiều người kéo nhau xuống đường mừng chiến thắng bóng đá là đang biểu thị tình cảm vui mừng, biểu lộ niềm tự hào dân tộc, tức là đang biểu tình).

Rõ ràng, biểu tình không đồng nghĩa với bạo động, hay làm mất trật tự xã hội. Ngược lại, nó còn làm tăng thêm sự an bình khi xã hội sinh hoạt hài hoà không bức xúc. Riêng ở Việt Nam ta, trong các cuộc biểu tình gần đây thì hình ảnh bạo động và sử dụng vũ lực hoàn toàn thuộc về phía công an. Chẳng đâu xa, và chẳng cần đến biểu tình, hãy coi lại hình ảnh Phố Ông Đồ mấy ngày trước khắc rõ.

Rõ ràng, biểu tình không làm mất ổn định chính trị. Ngược lại, gióng tiếng về các nỗi bất công để chính phủ có giải pháp mới chính là cách tốt nhất để giữ ổn định chính trị. Nhìn từ một góc khác, ổn định chính trị không có nghĩa là buộc nhân dân câm miệng mặc cho chính quyền tham nhũng, cửa quyền, tư túi, hành dân, tạo ra oan ức đầy trời… để dung dưỡng những mầm mống của nổi loạn nay mai.

Rõ ràng, biểu tình không chỉ là quyền (về mặt luật lệ), mà còn là một sinh hoạt ở đẳng cấp văn minh của một dân tộc (về mặt văn hoá), tương ứng với chuẩn mực sinh hoạt của nhân loại.

Rõ ràng, biểu tình là chuyện bình thường; không biểu tình mới là chuyện bất bình thường.

Rõ ràng, cấm biểu tình càng là chuyện bất thường đối với thế giới ngày nay, bởi đó chính là sự mặc nhiên công nhận rằng chính quyền đích thị là nguồn gốc của bất công nên không dám, không muốn, không để cho người dân nêu ra sự thật đó.

Rõ ràng, chấp nhận lệnh cấm biểu tình cũng chính là chấp nhận tự bịt miệng mình; chấp nhận xoá bỏ khát vọng sống cho ra người của chính mình; chấp nhận mọi áp bức vây bủa và bóp nghẹt sinh hoạt hàng ngày; chấp nhận cúi đầu và đồng loã với cái ác; chấp nhận cho một nhúm người tự tung tự tác khiến đất nước chìm đắm trong đói nghèo, tụt hậu; chấp nhận cho cả thế giới khinh rẻ giống nòi; và chấp nhận khoanh tay đứng nhìn “vận nước nổi trôi” trong tay lãnh đạo và ngoại bang.

Chúng ta có chấp nhận vậy không? Tuổi trẻ Việt Nam có chấp nhận vậy không?

Như câu đối Tết năm nay của TS Hà Sĩ Phu:

Lúc cháy nhà, ngàn tay chỉ sẽ ra mặt Chuột!
Trời nổi giông, triệu tiếng đàn mới lọt tai Trâu!

Phải chăng đã đến lúc toàn dân ta cùng gióng cao tiếng nói của mình? Bằng ý chí bất khuất và niềm tự hào dân tộc? Bằng niềm tin đổi mới cho đất nước cất cánh? Bằng khát khao một bước tiến cho đồng bào? Bằng bước chân rộn rã xuống đường? Bằng nghị lực và những bó hoa rợp trời ngợi ca tổ quốc?

วันเสาร์ที่ 14 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No306: Huỳnh Ngọc Sĩ và màn biểu diễn “pháp chế XHCN”

Sự kiện Huỳnh Ngọc Sĩ bị bắt đã được phát lại trên các phương tiện truyền thông ở Việt Nam. Màn trình diễn này cố khoe với công chúng quyết tâm chống tham nhũng nhưng muc đích chính là biểu diễn riêng cho Hoàng Thái tử Nhật thưởng thức về tính nghiêm minh của tuồng hát có tên là: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

Bước ra từ nhà số 350 đường Võ Văn Tần (Trần Quí Cáp cũ), ông Sĩ đi giữa rừng máy ảnh. Máy quay phim của giới truyền thông và hàng rào cảnh sát, giống hệt một đoạn phim do Hollywood làm. Ông Sĩ mặc áo trắng dài tay, tề chỉnh, dáng dấp vẫn bệ vệ vì không bị còng, hơn hẳn tư thế các phóng viên và số công an chìm nổi vây quanh. Qua tivi, nhìn phong thái đầy quyền lực của tay tư bản đỏ này, một ông tổ trưởng dân phố ở quận Tân Bình nói: “Tay này tướng ngon. Vậy mới xứng đứng sui gia với bí thư Lê Thanh Hải. Biểu diễn màn sáng bắt, tối thả này ai mà tin”.

Lý do chính được cơ quan điều tra thông báo về việc bắt Huỳnh Ngọc Sĩ là ông ta đã đem căn nhà công vụ tại số 3 đường Nguyễn Thị Diệu, quận 3 cho công ty tư vấn xây dựng quốc tế Thái Bình Dương (PCI) của Nhật thuê làm văn phòng, với giá 5,000 USD một tháng. Tổng số tiền phía Nhật phải trả cho chuyện thuê nhà trong thời gian từ 2001-2002 là 80,000 USD, đã được ông Sĩ giữ lại rồi chia chác với thuộc cấp. Cũng theo cơ quan điều tra, tổng số tiền ông Sĩ được chia trong vụ này chỉ có 52 triệu đồng Việt Nam. Có nghĩa là ông Sĩ chỉ “liếm láp” chút chút, có một tội nho nhỏ để bắt và trở thành ngôi sao, thật sướng.

Tất nhiên cơ quan điều tra cũng hứa xem xét mở rộng vụ án, mà trọng tâm là vụ nhận hối lộ hàng triệu đô la ở công trình đại lộ Ðông Tây. Ở Việt Nam, ai cũng biết, một khi những trọng án về tham nhũng được... mở rộng thì sẽ có các show diễn tập 2, tập 3, trong đó cao trào của sự bi hài sẽ vượt quá phạm vi công lý.

Một nhà thơ ở vỉa hè Sài Gòn bảo rằng: “Việc tạm giam vài ngày rồi tha bổng, phục hồi quyền lợi cho Huỳnh Ngọc Sĩ chắc là đã có kịch bản. Cứ nhìn trường hợp Nguyễn Việt Tiến, thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải qua vụ PMU 18 thì rõ. Chỉ có điều người ta không biết chắc lần này, công an có qua bên Nhật bắt mấy tay công tố viên người Nhật đã phanh phui vụ PCI như đã từng bắt bỏ tù hai nhà báo ở Việt Nam hay không.”

Hôm Huỳnh Ngọc Sĩ bị bắt, đài truyền hình Việt Nam đưa tin Hoàng Thái tử Nhật đang thăm Hội An. Lúc vị thái tử này thăm cây cầu do các thương nhân người Nhật xây dựng cách nay mấy trăm năm mà vẫn còn vững, không hiểu vị hoàng thái tử đó có nghĩ gì đến chuyện chính phủ Nhật rục rịch mở lại gói tiền thuế của dân Nhật, từng bị chia chác ở dự án đại lộ Ðông Tây, theo sự vật nài của chính phủ Việt Nam? Lúc này, viện trợ Nhật không chỉ là hỗ trợ cho Việt Nam phát triển mà trọng tâm còn là những công trình cầu đường được xây nhờ sự giúp đỡ của người Nhật có bảo đảm an toàn cho sinh mạng của người Việt Nam hay không, khi chúng bị tham nhũng rút ruột như vậy.

Ở một quán cà phê, cô sinh viên đang theo học Nhật ngữ nói với bạn trai: “Nếu em gặp hoàng thái tử Nhật, em sẽ dịch cho ổng biết chuyện tiền hỗ trợ người nghèo ăn Tết bị chính quyền các cấp ở Việt Nam ăn chặn như thế nào. Tiền hỗ trợ người nghèo ăn Tết thực ra là tiền mà nhà nước bố thí, có mấy trăm ngàn mà còn bị ăn chặn thì làm sao tránh được chuyện ăn chặn viện trợ.”

Nhiều người đồng tình với sự bất bình đó của cô sinh viên nhưng hình như chưa có ai cho cô biết rằng, ông Trương Vĩnh Trọng, ủy viên Bộ Chính Trị phụ trách chống tham nhũng, vừa chỉ đạo cấm đăng những tin về chuyện ăn chặn tiền bố thí...

Khi cán bộ tham nhũng được chế độ bảo kê bằng quyền lực thì chuyện bị bắt, bị kết án tù theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng chỉ dành cho những kẻ phanh phui, đưa tin, viết bài về hệ thống tội phạm này.

วันจันทร์ที่ 9 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No298: Luật về quyền được thông tin của người dân.

Ngày đăng: 2/10/2009

Luật về quyền được thông tin của người dân.

Quyền được thông tin là một quyền hiến định của công dân. Điều 69 của Hiến pháp hiện hành (1992) của Việt Nam nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật”.

Các quyền hiến định này phải được quy định bằng các luật cụ thể. Hàng chục năm sau khi hiến pháp được thông qua vẫn chưa có các luật như vậy về các quyền được hiến định này. Đã có luật báo chí, nhưng đấy không phải là luật về quyền tự do báo chí được nêu trong hiến pháp. Các luật và quy định liên quan đến các quyền khác cũng như vậy. Đấy là một món nợ lớn của cơ quan lập pháp với nhân dân, với đất nước. Để xây dựng nhà nước pháp quyền, để đạt mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” cơ quan lập pháp phải tập trung làm ra các bộ luật cơ bản tạo môi trường pháp lý cho sự phát triển bền vững của đất nước. Nhiều người, trong đó có người viết này, đã đề xuất phải sớm có các luật về các quyền được hiến định. Nghe nói đang có dự án xây dựng luật về quyền được thông tin của người dân. Đã quá muộn, nhưng muộn còn hơn không.

Thông tin là tài sản, là nguồn lực. Quyền sở hữu thông tin là một quyền tài sản. Có thông tin riêng tư thuộc về một người, một tổ chức, do họ sở hữu. Quyền sở hữu thông tin cũng như tính riêng tư của thông tin phải được pháp luật bảo vệ. Cũng có những thông tin mà chủ sở hữu công bố công khai và tất cả mọi người đều có thể sử dụng.

Công dân (kể cả các tổ chức có tư cách pháp nhân) phải có quyền nhận được thông tin liên quan đến, có thể ảnh hưởng tới cuộc sống, hoạt động của họ. Thông tin đó có thể là về một công ty, về một tổ chức, thậm chí về một cá nhân (như lai lịch tư pháp, lai lịch tín dụng của một người). Có những thông tin mang tính riêng tư mà không ai có quyền xâm phạm nếu không được người chủ cho phép. Nhưng có những thông tin về một tổ chức, một cá nhân có thể ảnh hưởng đến những người khác thì phải có cơ chế, quy tắc cho những người có thể bị ảnh hưởng có thể tiếp cận đến. Thí dụ người cho vay cần có thông tin về lai lịch tín dụng của người đi vay. Tổ chức tốt một hệ thống thông tin tín dụng như vậy là một điều kiện cần cho một nền kinh tế phát triển lành mạnh. Tuy nhiên, phần tiếp theo trong bài viết này chỉ đề cập đến thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Nhà nước là “của dân, do dân và vì dân” nên công dân phải được thông tin trung thực kịp thời về hoạt động, chính sách, chủ trương của các cơ quan nhà nước, của các cơ quan “của mình”, “vì mình”. Đấy là quyền của công dân, họ có quyền đòi hỏi (chứ không phải xin) cơ quan nhà nước cung cấp thông tin và các cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ cung cấp (chứ không phải ban phát). Đấy là nguyên tắc. Chừng nào người dân, các tổ chức, các cơ quan nhà nước chưa thấu hiểu và thực hành tốt nguyên tắc này thì chẳng bao giờ quyền hiến định được đảm bảo đầy đủ.

Người ta có thể vin vào các lý do an ninh quốc gia, bí mật nhà nước để hạn chế việc cung cấp thông tin. Phải quy định rõ, rành mạch những vấn đề này cũng như thời hạn “giải mật” và các thủ tục rõ ràng nhằm ngăn chặn các quan chức nhà nước và cơ quan nhà nước sự lạm dụng các lý do “an ninh quốc gia” hay “bí mật quốc gia”. Ngoài các thông tin “mật” được quy định rất rõ ràng này, với thời hạn “giải mật” cụ thể mà người dân chỉ có thể tiếp cận được một cách gián tiếp thông qua các đại diện (được bầu hay được bổ nhiệm) có thẩm quyền của mình (các ban của quốc hội chẳng hạn) trước thời hạn “giải mật” thì người dân phải được quyền tiếp cận đến tất các thông tin khác của các cơ quan nhà nước. Cách tiếp cận có thể thông qua các phương tiện thông tin đại chúng một cách công khai (càng nhiều càng tốt) hay được tiến hành theo những thủ tục rất đơn giản, dễ dàng đối với mọi công dân (phạm vi của loại thứ hai này càng hẹp càng tốt).

Có quy định rõ ràng thì việc thực thi mới nghiêm túc và người dân mới có thể giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và quan chức nhà nước một cách hữu hiệu. Phải buộc các quan chức và viên chức nhà nước, cả ở trung ương lẫn địa phương, chỉ được làm những việc mà pháp luật cho phép, đồng thời giáo dục công dân rằng họ có quyền làm bất cứ thứ gì mà pháp luật không cấm. Có sự bất đối xứng (tự do hơn cho người dân, hạn chế hơn đối với quan chức và cơ quan nhà nước) ở đây giữa người dân và quan chức. Có những loại thông tin đối với người dân thường là thông tin riêng tư, nhưng đối với quan chức cũng thông tin ấy lại phải công khai (hoặc phải khai báo và bất cứ ai quan tâm có thể tiếp cận được). Chỉ những người chấp nhận sự bất đối xứng được luật hóa này mới có thể làm việc trong bộ máy nhà nước (tức là nếu vi phạm phải bị kỷ luật và có thể bị sa thải). Làm được vậy thì họ mới thực sự là “công bộc” của dân, mới thực sự “phục vụ” dân. Nhưng nếu thế, ai dại gì mà đi làm quan chức? Đổi lại họ có công ăn việc làm ổn định, thu nhập khá, được coi trọng, được vinh danh, v.v. Tất cả những thứ đó phải được luật hóa. Nếu không được luật hóa một cách rõ ràng và thực thi một cách nghiêm minh thì tham nhũng tràn lan và việc chống tham nhũng không có kết quả, không có nhà nước trong sạch và đất nước không thể phát triển lành mạnh được.

Có loại thông tin mà các cơ quan nhà nước thu thập hay đưa ra về các công dân của mình (kể cả về các tổ chức có tư cách pháp nhân) thí dụ như thông tin về điều tra dân số, nhận xét của công an hay cơ quan thi hành pháp luật khác, v.v. Những thông tin đó phải được công khai, hay chí ít phải cho các đương sự (hay người đại diện của họ như luật sư chẳng hạn) biết và có ý kiến phản hồi một cách công khai nếu họ muốn. Đó cũng là một khía cạnh quan trọng của quyền được thông tin và phải được luật hóa. Chỉ có thế thì thông tin mới chính xác hơn, đỡ méo mó. Chỉ có thế mới hạn chế được sự lạm dụng quyền lực, mới có thể vạch mặt những kẻ “ném đá dấu tay”. Chỉ có thế mới làm cho pháp luật được nghiêm minh và góp phần củng cố niềm tin, đỡ gây tâm lý nghi kỵ. Thông tin chính xác, pháp luật nghiêm minh, niềm tin được củng cố đó là những nhân tố tối quan trọng cho sự ổn định và phát triển của đất nước.

Còn nhiều khía cạnh khác của luật về quyền được thông tin của công dân mà do hạn chế về độ dài nên bài này chưa thể đề cập đến. Hy vọng có thể tiếp tục thảo luận một cách xây dựng và công khai.
Nguyễn Quang A

No297: Về những vụ án đầu Xuân: Chớ có nhầm, rồi hối không kịp!

“... Tình hình thực tế đầu Xuân này cảnh báo nhóm lãnh đạo tài nông, đức mỏng: chớ coi thường sự nổi giận chính đáng của nhân dân ngày càng đông đảo ...”

Nhiều người Việt trong và ngoài nước quan tâm đến vụ PCI, vụ án quan chức Việt nam ăn hối lộ quy mô lớn từ Cơ quan tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (Pacific Consultants International - PCI) có trụ sở ở Tôkyô / Nhật bản.

Vụ án này cực lớn vì nhiều lẽ: số tiền hối lộ lên đến 2 triệu 6 đôla, liên quan đến nhiều dự án cầu đường quan trọng; Nhật Bản lại là nước hào phóng nhất trong viện trợ và cho vay dài hạn với lãi xuất ưu đãi cho Việt Nam, vượt rất xa mọi nước khác.

Vụ án bị tiết lộ từ tháng 7-2008, sang tháng 8 chính phủ Nhật đã thông báo ngày càng tỉ mỉ cho phía Việt Nam, chuyển hàng nghìn trang hồ sơ, lý lịch, khẩu cung, nhận xét, ảnh sao chụp của 4 bị cáo Nhật Bản đều là quan chức cấp cao của PCI, yêu cầu phía Việt Nam khẩn trương hợp tác để sớm kết thúc vụ án; phía Việt Nam bất động, coi như không có chuyện gì xẩy ra, còn yêu cầu phía Nhật không đưa ra công khai vụ án, vì những điều do phía Nhật đưa ra "không có cơ sở thực tế " (!).

Phía Nhật phản ứng ngay bằng cách bắt giam cả 4 bị cáo vào tháng 10-2008, mở phiên toà xét sử gấp và cử nhiều phái viên sang Hà Nội yêu cầu phía Việt Nam phối hợp chặt chẽ. Phía Việt Nam chỉ "hứa hẹn hợp tác", thực tế là vẫn bất động. Phía Nhật đặt ra 23 câu hỏi về vụ án, về ông Huỳnh Ngọc Sỹ, phía Việt Nam vẫn không đáp ứng, lờ tịt.

Thế là "quả bom kinh tế - ngoại giao" Nhật nổ tại Hà Nội; giữa cuộc họp cuối năm về đầu tư và viện trợ quốc tế đầu tháng 12 -2008, đại sứ Nhật M.Sakaba thừa lệnh thủ tướng Nhật tuyên bố đình chỉ lập tức khoản ODA (Official Development Assistance) - Nguồn Hỗ trợ Phát triển Chính thức, lên đến 900 triệu đôla, liên quan đến 6 dự án lớn đang triển khai, "cho đến khi vụ án được phía Việt Nam làm sáng tỏ". Giữa cuộc khủng hoảng tài chính, việc đình hoãn số tiền gần 1 tỉ đôla, ngừng 6 công trình lớn, là một tổn thất lớn cho công cuộc phát triển đất nước.

Những tưởng phía Việt Nam phải giật mình, tỉnh ngộ, để hợp tác với phía Nhật. Nhưng bộ chính trị và cả ban chấp hành trung ương họp đầu tháng 1-2009 vẫn bất động. Các báo, đài vẫn bị cấm không được nói về Huỳnh Ngọc Sỹ, về vụ PCI, về vụ PMU 18, về vụ Tổng cục 2 và vụ T4, về vụ biên giới và hải đảo bị mất, trong khi công luận vẫn bàn tán dai dẳng, càng cấm càng bàn nhiều.

Mồng 3 Tết Kỷ Sửu, phía Nhật lại thúc một nước cờ. Toà án Tôkyô kết án cả 4 quan chức cấp cao PCI từ 1 năm rưỡi đến 2 năm tù giam, cho hưởng án treo trong 3 năm (nghĩa là trong vòng 3 năm nếu tái phạm thì sẽ bị gộp vào án mới để thi hành án). Phía Nhật vẫn yêu cầu phía Việt Nam xét xử những kẻ phạm pháp trong vụ án PCI, còn trên thực tế coi đó là điều kiện để nối lại nguồn ODA mà Việt Nam rất mong mỏi.

Thái độ của đại sứ Nhật ở Hà Nội là rất thẳng thắn và kiên quyết. Đã 3 lần ông nói: "Tôi chờ phía Việt Nam hành động!". Ông còn cảnh báo: "Sau vụ này, rất khó lấy lại sự ủng hộ của công chúng Nhật đối với khoản ODA cấp cho Việt Nam".

Thế nhưng 15 nhân vật trong bộ chính trị Hà Nội mắc bệnh chủ quan, duy ý chí khá nặng. Họ chỉ lo bênh che bằng mọi giá cho những cán bộ tham nhũng trong bộ máy lãnh đạo, sợ rằng vụ PCI đổ bể sẽ phơi bày quá nhiều thối tha ở thượng đỉnh. Trong vụ án lớn Trương Văn Cam (năm 2003) ngoài 4 tên xã hội đen bị tử hình, trung tướng thứ trưởng Công an Bùi Quốc Huy bị 4 năm tù, phó Viện trưởng Kiểm sát Tối cao Phạm Sỹ Chiến 6 năm tù, phó chủ tịch Hội nhà báo Trần Mai Hạnh 9 năm tù... Bộ chính trị cộng sản xưa nay chỉ "đánh từ vai trở xuống", Bùi Quốc Huy và Trần Mai Hạnh là uỷ viên trung ương đảng, cấp này rất hiếm khi bị tù. Vụ PCI này, theo tiết lộ từ Văn phòng Trung ương đảng và từ câu lạc bộ Thăng Long gồm các quan chức cộng sản về hưu, có dính đến một số uỷ viên bộ chính trị đương chức, trước hết là Lê Thanh Hải, nguyên là chủ tịch uỷ ban Nhân dân, nay là bí thư thành uỷ Sài Gòn, rồi đến Trương Tấn Sang, nguyên chủ tịch Sài Gòn, hiện là thường trực ban bí thư trung ương đảng, đến cả Nguyễn Minh Triết là bí thư thành uỷ Sài Gòn khi các vụ hối lộ của PCI xảy ra.

Nhưng vụ án bị bế tắc, "bị chết cứng", "bị đông đặc" - theo cách nói ở Câu lạc bộ Thăng Long, - là vì có liên quan chặt chẽ đến "ông số 1", "ông tổng Nông", "ông Tài Nông Đức Mỏng". Mối quan hệ này rất rối rắm phức tạp. Ông Mạnh chủ trương khoanh vụ PMU18, gỡ tội cho nguyên thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến, lật án nhằm giải hết tội nặng của Tiến, còn trị tội một loạt các nhà báo kiên quyết chống tham nhũng để bịt mồm cả làng báo Việt Nam, theo đúng đường lối "khoanh lại".

Nguyễn Việt Tiến là nguyên thứ trưởng thường trực bộ Giao thông Vận tải (GTVT), bí thư đảng uỷ, trưởng Ban phòng chống tham nhũng của bộ, phụ trách giám sát các dự án PMU, các dự án đường Bắc - Nam, Đông - Tây, trong đó có những dự án dính đến Công ty PCI. Đào Đình Bình nguyên bộ trưởng GTVT cùng thứ trưởng thường trực Nguyễn Việt Tiến là hai đệ tử thân thiết của ông Mạnh. Từ năm 1999, ông Mạnh đã gửi con rể, rồi sau đó là con gái làm việc ở ngay Văn phòng của Bộ GTVT. Ở bộ GTVT, người ta gọi cặp vợ chồng này là "Phò mã Hải" và "Công chúa Liên".

Có thể suy luận rằng 15 bộ óc trong bộ chính trị cùng nghĩ theo ông tổng Mạnh rằng: ta đã khoanh được vụ PMU18, khoanh được theo kiểu giam lỏng, răn đe cả làng báo Việt Nam, khoanh được Vụ án siêu nghiêm trọng Tổng cục 2, ỉm đi bản báo cáo của Ban kiểm tra Liên ngành về Tổng cục 2, thì có gì mà không khoanh nổi!

Quả là căn bệnh chủ quan, duy ý chí của nhóm lãnh đạo cộng sản là không có giới hạn.

Theo não trạng nguy hiểm như thế, một số báo chí Hà Nội gần đây vẫn đưa những tin tức tràn đầy "lạc quan" về quan hệ Nhật - Việt; bộ trưởng kế hoạch và đầu tư Võ Hồng Phúc cũng nói từ cuối tháng 11-2008 rằng: "Tôi tin rằng chỉ 2 tháng nữa ODA Nhật Bản sẽ được nối lại; tôi và Ngài đại sứ Nhật sẽ ký Nghị định thư về việc này" (!).

Hai tháng rưỡi rồi đấy! Chờ xem.

Bộ chính trị ở Hà Nội không muốn, không chịu hiểu rằng "quả bóng đang ở phía Việt Nam", như báo Yomuiri Shimbun nhận xét. Một uỷ ban hỗn hợp Việt - Nhật đã được thành lập để xem xét kỹ các cam kết và việc thực thi các dự án ODA, để đảm bảo vốn ODA của Nhật đưa vào không bị cắt xén, rò rỉ. Chính người phía Nhật trong Uỷ ban này yêu cầu phía Việt Nam phải hợp tác thật sự trong việc xét sử nghiêm tội phạm PCI.

Không đưa ra xét xử và xét xử không nghiêm thì thoả thuận mới về ODA và công việc của Uỷ ban hỗn hợp sẽ bế tắc.
Chẳng lẽ trả lời phía Nhật rằng chúng tôi đã xử lý nội bộ (!) kẻ can phạm, đã xử nghiêm (!) và cho hưởng án treo, và đã thu hồi (!) số tiền hối lộ, vì chúng tôi có cách giải quyết của riêng chúng tôi (!)... thì phía Nhật làm sao chấp nhận được; chỉ khiêu khích thêm dư luận trong nước, làm bế tắc thêm nguồn ODA Nhật Bản và các nước khác, tự bôi xấu thêm chế độ, làm trò cười. Các luật gia trong nước sẽ phản ứng ngay. Vì trong vụ án này, kẻ phạm tội chính là bọn ăn hối lộ ở phía Việt Nam; theo Luật chống tham nhũng hiện hành, tham ô lên đến mức 1 tỉ đồng là đã có thể bị tử hình; trong vụ này số tiền lên đến 2 triệu 6 đôla, tương đương với hơn 40 tỉ đồng, nghĩa là có thể bị rơi rụng hơn 40 cái đầu kia đấy. Làm sao có thể xí xoá kiểu ngang ngược, luật rừng như thế!

Xin nhớ rằng phía Chính phủ Nhật Bản là một chính quyền Quân chủ lập hiến, có pháp luật rất nghiêm. với một Quốc hội kiểm soát chính phủ rất chặt, trong đó mỗi cương vị có trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng minh bạch. Do không hiểu sâu sắc điều ấy, trong tháng 1-2009 khi cựu thủ tướng Nhật Fukuda thăm Hà Nội trong một chuyến du lịch, các quan chức Việt Nam không bỏ qua cơ hội yêu cầu ông "ủng hộ việc nối lại ODA vừa bị cắt", ông già Fukuda vui cười tán thành ngay; báo chí Hà Nội hối hả đưa tin với tít đậm, cố tình hay ngây ngô hiểu lầm một nụ cười ngoại giao không có thực chất nào. Báo Nhân Dân còn hí hửng hão rằng nhân chuyến thăm xã giao từ 9 đến 15-2 của Hoàng Thái tử Nhật Naruhito dịp kỷ niệm bang giao Nhật - Việt, ODA sẽ được nối lại. Vẫn là lấy giấc mơ làm sự thật! Cựu thủ tướng hay Hoàng Thái tử đều không có một quyền lực thực tế nào trong vụ này.

Vẫn theo kiểu cách làm báo ấu trĩ như thế, ngày thứ sáu 6-2-2009 mới đây, phóng viên thường trú đài Tiếng nói VN ở Tôkyô phỏng vấn người phát ngôn bộ ngoại giao Nhật Yasuhisa Kawamura về quan hệ Nhật - Việt, rồi đưa tin: sự hỗ trợ ODA của Nhật cho Việt Nam có 2 phần, phần đầu tiên là viện trợ không hoàn lại và tiền chi cho chương trình hợp tác kỹ thuật; phần thứ hai là cho vay với lãi suất ưu đãi. Nhật Bản chỉ tạm thời ngừng phần thứ hai thôi (!). Còn 2 khoản viện trợ trong phần đầu tiên vẫn giữ nguyên. Thật ra giá trị của phần đầu chỉ bằng 7 tỉ 3 Yên, còn giá trị của phần hai lên đến 97 tỉ 8 Yên, nghĩa là phần bị đình chỉ chiếm đến 94% nguồn ODA của Nhật cho Việt Nam. Người phát ngôn Nhật cho biết: "một số nhân vật chính phủ và Quốc hội Nhật ủng hộ việc nối lại nguồn ODA cho Việt Nam, nhưng để có thể chính thức nối lại ODA vẫn cần một thời gian nữa". Bà nói rõ thêm: "Phía Nhật mong muốn phía Việt Nam có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với hành vi hối lộ trong vụ PCI. Lúc đó chính phủ Nhật mới có thể trả lời chính thức về thời gian cụ thể việc nối lại khoản cho vay dài hạn nguồn ODA cho Việt Nam".

Đó, chỉ 2 câu mà bao nhiêu là điều kiện, những: "nhưng", "để có thể", "vẫn cần một thời gian", "xử lý nghiêm khắc", "lúc đó", "mới có thể"... Mỗi chữ đều có ý nghĩa, bên cạnh nụ cười ngoại giao, bên cạnh 2, 3 cái cúi đầu thật thấp kiểu Nhật, là những yêu cầu cực nghiêm: phía Việt Nam không được, không thể chỉ nói mà không hành động, mà phải hành động nghiêm khắc, chứ không thể qua loa, hình thức, chiếu lệ; sau đó rồi phía Nhật mới có thể xem xét và quyết định... Rõ ràng quả bóng vẫn nằm lỳ ở Hà Nội.

Phía Nhật là phía nhà giàu số một Châu Á, là chủ chi tiền, là nước viện trợ số một cho Việt Nam, là người có quyền ra điều kiện, có quyền mở và đóng vòi viện trợ, có quyền xem xét và đánh giá phía Việt Nam có nghiêm khắc chống tham nhũng hay không, có nên mở lại vòi, bao giờ mở và vòi vẫn lớn như xưa, hay to hơn, hay nhỏ hơn ...Họ còn phải nghe ngóng Quốc hội Nhật, báo chí Nhật, người dân Nhật...

Đầu óc của 15 nhân vật chóp bu còn ngớ ngẩn không chịu hiểu rằng thân phận mình là kẻ chịu ơn, kẻ ngửa tay, không thể trịch thượng, làm cao được. Lạc điệu !

Huống gì công luận Nhật đang vô cùng bất bình, khi báo Asahi Shimbun đưa tin tại hội Tết hoa Xuân giữa Hà Nội, tất cả hoa anh đào công phu chuyên chở từ Nhật sang đã bị tàn phá, cướp giật sạch; báo Yomuiri đưa tin tỉ mỉ về vụ phi công, chiêu đãi viên, người học nghề Việt Nam lập cả một mạng lưới ăn cắp có hệ thống trên đất Nhật.

Muốn nhận tiếp được nguồn ODA, Việt Nam không cần nói nhiều, hứa nhiều nữa, nhân dịp này hãy làm nhiều hơn nói, làm thật nghiêm, không bỏ sót kẻ phạm tội dù kẻ đó là ai, ở chức vụ nào, trong vụ việc nào, ngay bây giờ là trong vụ PCI.
Nếu 15 người tự cho mình toàn quyền cai trị đất nước vẫn đặt việc bảo vệ nhóm tội phạm trong vụ án PCI cao hơn cuộc sống của nhân dân, không mảy may nghĩ đến những thiệt thòi mà đất nước và nhân dân phải gánh chịu, họ sẽ phải trả giá cho lập trường sai lầm ấy. Hãy xem: cả tháng 1-2009, nguồn FDI (Foreign Direct Investment) đổ vào chỉ có 185 triệu đôla, bằng 11% tháng 1-2008, so với ODA Nhật hiện bị treo lên đến 900 triệu đôla.

Họ có thể tạm giữ được ghế ở chóp bu, gây tiếp vô vàn tai hoạ cho đất nước, nhưng nền đất dưới ghế họ bám đã lung lay và còn lung lay dữ dội.

Đầu Xuân này, vụ PCI cay đắng đã gõ cửa xông đất nhóm lãnh đạo chóp bu cộng sản.

Các Vụ án lớn khác đang xếp hàng nối tiếp.

Ngay trước mắt, vụ khai thác bô-xít ở Tây nguyên đang nổ lớn. Tiến lùi đều khó. Ông tướng Giáp đã mang chút sức còn lại của tuổi 99 vào cuộc; nhiều trí thức có uy tín lên tiếng, như ông Nguyễn Trung vừa lên tận huyện Đắc Nông để cảnh báo về thảm hoạ môi sinh, như nhà văn Nguyên Ngọc gắn bó với Tây Nguyên dự báo bùn đỏ bôxít sẽ tận diệt cuộc sống Tây Nguyên. "Vụ bôxít" đang nổ lớn khi có tin hàng mấy trăm công nhân của Bắc Kinh hiện đã có mặt ở Đắc Nông để triển khai đào mỏ, mà quốc hội Hà Nội không hề hay biết. Vụ này đang nổ to thêm từng ngày khi Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh đưa tin: năm 2008, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa gần một trăm mỏ bôxít trong vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây và trong huyện Tĩnh Tây thuộc tỉnh Quảng Tây, "vì quặng bôxít tàn phá môi trường, còn gây nên nhiều bệnh lạ cực nguy hiểm cho con người". Giở lại Tuyên bố chung Trung - Việt (1-6-2008) nhân chuyến Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh, có ghi: "hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như: bôxít Đắc Nông...". Thế là rõ, Đắc Nông là đầu vị của hợp tác. Cái đểu giả kinh khủng của bọn bành trướng là đóng cửa hàng trăm mỏ bôxít trên đất chúng vì tai hoạ môi sinh, rồi bắt buộc bộ hạ ở nước ta khai mỏ để cung cấp nguyên liệu cho chúng phát triển ngành nhôm cho công nghiêp hàng không, tàu chiến, tên lửa... Một kiểu xuất khẩu tai hoạ môi sinh theo tư duy Đại Hán, buộc các nhược tiểu dân tộc gánh thay. Hàng nghìn dân Tàu nữa sắp đến Đăc Nông, theo tôi biết, cầm chắc là số lao động của Tổng cục kinh tế Quân giải phóng, nghĩa là những chiến binh thực thụ. Bộ chính trị đang "rước voi dữ" vào nước ta, mà tổng Mạnh và thủ Dũng tỏ ra hăng hái nhất trong việc mời đón này. Nay mới biết, ông Dũng đã hạ bút ký Quyết định 167, phê duyệt quy hoạch khai thác mỏ bôxít lớn Đắc Nông từ ngày 1-11-2007. Họ đã đi đêm với nhau từ lâu. Không cần súng đạn, quân bành trướng đã cắm chốt trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Vụ án lớn nữa đang nổ bung ra là vụ cắm xong mốc biên giới trên đất liền, khai thác tài nguyên trong vịnh Bắc bộ và chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có gì khiêu khích dư luận nước ta hơn là khi báo Nhân Dân và người phát ngôn bộ ngoại giao báo tin là "hai nước sẽ cùng nhau mở hội ăn mừng Tuyên bố chung (đã ký) và Nghị định thư cùng tập bản đồ (sẽ công bố)". Tiện đây cần chỉ ra luận điệu của Trưởng ban biên giới Nguyễn Hồng Thao nói với BBC rằng phải hơn 1 năm nữa việc vẽ bản đồ tỉ mỉ mới xong. "Còn phải làm vệ sinh quanh các cột mốc (!)". Thật ra việc vẽ bản đồ đã xong hết rồi. Các nhà chuyên môn về đồ bản cho rằng với máy computer chuyên dùng, chỉ cần không đến một tuần lễ là chắp nối xong tập bản đồ đã vẽ theo bất kể tỉ lệ nào. Ông Thao vẫn theo kiểu cách của các ông Lê Công Phụng, Vũ Dũng, Lê Dũng... quanh co, nguỵ biện, dối trá, không dám trả lời nhiều câu hỏi vì trả lời không nổi. Họ rất sợ việc công bố bản đồ biên giới, cố trì hoãn một việc tất phải đến gần, lẽ ra đã xảy ra cuối năm 2008, như đã định.

Phía đồng bào ta có gì vui để mà mở hội, đánh trống, cắm cờ, đốt pháo và múa lân? Xin mời 15 người trong bộ chính trị ra làm những trò ấy nếu như họ muốn.

Tết vừa qua, tuần báo Du Lịch ra số Tết, in đẹp, 10 vạn bản, với nội dung nói nhiều đến Biên giới, Trường Sa, Hoàng Sa, Ải Nam Quan. Các quan chức của Tổng cục du lịch - cơ quan chủ quản của báo - bị trưởng ban tuyên giáo Tô Huy Rứa quở mắng tơi bời. Báo bán chạy. Ra lệnh cấm sẽ quảng cáo cho báo; đành lặng lẽ thu hồi để hủy.

Nhiều trí thức trong nước lên tiếng về chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa. Nhà sử học Nguyễn Nhã giữa Sài Gòn công khai yêu cầu chính quyền đưa gấp vấn đề này ra trước Liên Hợp Quốc, dựa vào Luật quốc tế về Biển.

Một loạt luật sư, nhà giáo, nhà báo cùng lên tiếng, tỏ ý kiên quyết mở rộng thông tin, bền bỉ nêu vấn đề với các bạn đồng nghiệp, với giới trí thức, đánh thức mọi tấm lòng yêu nước để chung sức góp phần bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ đất nước.

Ba vụ án lớn trên đây đang nổ, và nổ dây chuyền. Ba miếng xương cực lớn đang bị hóc. Bị hóc cùng một lúc. Chưa kể vụ án siêu nghiêm trọng Tổng cục 2, tuy nuốt qua cổ vẫn không tiêu nổi, thành ung thư trong ruột của nhóm lãnh đạo độc quyền. Người dân vỉa hè Hà Nội thốt lên: "Thật quá thể đáng!". Đó là sự gộp lại 2 lời than: "Thật quá thể !" và "thật quá đáng !".

Lãnh đạo là phải mẫu mực, làm gương. Lãnh đạo lại đi đầu trong tham nhũng và đi đầu trong bảo vệ tham nhũng thì thật quá đáng. Lãnh đạo là phải đi đầu trong bảo vệ cuộc sống của nhân dân, bảo vệ tài nguyên môi trường quốc gia, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc. Lãnh đạo không làm vậy, lại làm ngược, khuất phục, đi đêm với kẻ bành trướng, nhân nhượng hết biên giới đến lãnh hải, hải đảo, còn vâng lệnh chúng, cho chúng xuất khẩu tai hoạ và còn mời một kiểu "quân ngầm" sang đóng trên đất nước ta, thì lãnh đạo như thế còn có tư cách cầm quyền và lãnh đạo không?

Thật quá thể ! Quá sức chịu đựng của nhân dân. Thật quá thể ! không thể tưởng tượng trong thời đổi mới và hội nhập. Tình hình thực tế đầu Xuân này cảnh báo nhóm lãnh đạo tài nông, đức mỏng: chớ coi thường sự nổi giận chính đáng của nhân dân ngày càng đông đảo.

Paris 10-2-2009
Bùi Tín