แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Chính trị - xã hội แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Chính trị - xã hội แสดงบทความทั้งหมด

วันศุกร์ที่ 11 กันยายน พ.ศ. 2552

No452: Báo chí lề bên trái: Màn trình diễn ngoạn mục chưa từng có.




Ảnh: Con người dưới chế độ XHCN tươi đẹp.



Chúng ta ai cũng biết trong một chế độ do nhưng kẻ nhân danh cộng sản lãnh đạo như Việt nam hiện nay, phương tiện truyền thông dưới bất kỳ hình thức nào: báo viết, báo hình , báo nói v.v.. đều bị nhà nước độc quyền quản lý và sử dụng trong việc tuyên truyền theo đường lối của họ. Lý do chính của việc độc quyền thông tin này là những kẻ lãnh đạo của các quốc gia cộng sản họ muốn bưng bít thông tin, bưng bít sự thật. Họ sợ rằng nếu cho tự do tìm hiểu thông tin thì họ khó có thể lừa dối, chính vì vậy họ đã coi dân chúng chỉ là những cái máy không hơn không kém vì họ cho rằng dân chúng của họ là một lũ ngu dốt, nói gì cũng tin.

Hiện tượng nó trên lâu dần đã trở thành một sự đương nhiên và là nguyên tắc của một xã hội cộng sản cai trị, khi mà người dân chỉ được phép nghe mà không được phép bầy tỏ ý kiến hay chính kiến của cá nhân mình, nếu những ý kiến hay suy nghĩ ấy không phù hợp với đường lối của đảng và chính quyền. Ngược lại những kẻ lên tiếng hay có các hành động phản ứng đều bị coi là hành vi chống đối và được quy tội chống đối chính sách chủ trương của đảng và nhà nước.

Trước kia, khi chưa có thông tin trên mạng internet, sự bưng bít thông tin vô cùng có hiệu quả. Người dân trong nước hầu như chỉ biết các thông tin theo một kênh duy nhất của nhà nước thông qua các tờ báo in, đài truyền hình , đài phát thanh do nhà nước thống nhất quản lý. Những tin tức trước khi được truyền tải tới người dân đã bị kiểm duyệt, lựa chọn hết sức khắt khe với mục đích phù hợp với chính sách của đảng và nhà nước nghĩa là có lợi cho sự cai trị của họ. Nhiều thông tin bị bóp méo 180 độ, nói trắng thành đen hay nói không thành có, bất kể thế nào người dân chỉ có một quyền duy nhất là nghe , xem và tin các thông tin đó là sự thật.

Ngày nay thông tin đến với người dân không chỉ còn nhà nước độc quyền như trước, nhất là từ khi cuộc cách mạng về tin học bùng nổ với hệ thống internet toàn cầu, người dân đặc biệt là những người có khả năng truy cập thông tin trên mạng đã nắm bắt kịp thời các thông tin về chính trị, xã hội ...đầy đủ và đa chiều hơn. Ngoài ra họ có quyền nói lên các suy nghĩ của mình thông qua các mạng XH, các tờ báo trong và ngoài nước, các blog cá nhân bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, kể cả nhà nước Việt nam dùng tường lửa để chặn các trang mạng, các blog mà theo họ đã truyền tải các thông tin bất lợi cho chế độ dù cho các thông tin ấy là có thực 100%.

Kể từ đó, bức màn đen bưng bít thông tin của chính quyền đã bị xé toạc, các phương tiện truyền thông độc quyền của chính quyền hết khả năng tự tung tự tác,khả năng nói một mình, nói bưng bít đã bị vô hiệu hóa khi mà người dân đã có các tin tức khác để so sánh. Dần dần người dân đã hiểu ra rằng những điều báo chí của đảng nói hầu hết là không đúng sự thật, mức độ tin cậy rất thấp vì họ được chứng kiến qua các sự việc người thật việc thật như vụ Tòa Khâm sứ Hà nội, Giáo xứ Thái hà, hay các sự kiện liên quan đến vận mệnh đất nước liên quan đến cuộc sống của họ thông qua các sự kiện HS-TS hay gần đây nhất là vấn đề khai thác bauxite Tây nguyên.

Sự mất lòng tin vào báo chí của đảng được thể hiện rõ thông qua số lượng các tờ báo in ngày càng sụt giảm, một số tờ phải đình bản vì báo in ra không bán được. Điều này thể hiện rất rõ nếu so sánh trên các trang web, các blog giữa truyền thông lề bên phải và lề bên trái. Ví dụ:

Ngày 3/4/2006, khai trương trang tiếng Trung Quốc của báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, báo này khoe rằng: “Bình quân mỗi tháng, báo có trên dưới 25 triệu lượt người truy cập.” (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30106&cn_id=1953). Trang mạng báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam được cấp giấy phép ngày 01/12/2005, tức có hơn 3 năm rưỡi hoạt động, nếu số lượng người truy cập không đổi, thì đến nay số lượng truy cập lên đến hơn 1 tỷ!!!

Nếu quả thực báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam thu hút “đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước” như thế thì thật đáng mừng cho sự nghiệp tuyên giáo của Đảng, cho nền báo chí nước nhà.

Nhưng thực tế không phải như vậy, ngày hôm nay, 11 tháng 9, alexa.com – trang mạng chuyên xếp hạng các website trên thế giới – cho biết báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đứng thứ 116.901 trên thế giới. Còn bauxitevietnam.info, đến nay, sau chưa đầy 5 tháng, tuy chỉ có tổng số 6,5 triệu lượt người truy cập, nhưng đã chiếm vị trí thứ 54.235, cao gấp đôi báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam! (1).

Hay đau đớn hơn một số tờ báo online của chính quyền có số lượng truy cập hàng ngày còn thấp hơn nhiều một số blog cá nhân lề bên trái, ví dụ như theo bảng xếp hạng ngày 29/8/2009 của Alexa.com thì trang anhbasam.wordpress.com này đang đứng thứ 358.795 trên toàn thế giới trong khi Đại Đoàn Kết thứ … 847.807(2). Hiện tượng này đã trở thành phổ biến vì người dân đã hiểu rằng, báo chí nhà nước với hơn 700 tờ báo dưới các dạng truyền hình, tiếng , báo giấy, báo online v.v.. nhưng đều có chung một tổng biên tập cho phép nói một giọng và một tin y như nhau nhưng cái quan trọng hơn là người dân đã cảm giác truyền thông nhà nước coi thường khả năng hiểu và phân tích của họ.



Gần đây nhất, sự hình thành và vai trò của báo chí lề bên trái với các trang website của một số nhóm người hay các blog cá nhân đã thể hiện rõ vai trò báo chí đối lập với chính quyền nhà nước qua các sự kiện "Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng lỡ lời" và đặc biệt sự kiện trang điện tử Đảng cộng sản VN mắc "sơ suất kỹ thuật" khi đăng tin hải quân Trung quốc tập trận trên hai quần đảo HS-TS của Việt nam,mà không đi kèm lời nình luận đã bị cho rằng đó là một hành động thừa nhận chủ quyền của Trung quốc trên hai quần đảo này.



Ngay sau khi được đăng, bài báo nói trên đã bị nhiều người phát hiện và đã gây phẫn nộ trong dư luận, trong bối cảnh mà một số nhà báo và blogger ở Việt Nam dám lên tiếng chỉ trích Trung Quốc thì lại bị chính quyền câu lưu, bắt giam như những kẻ tội phạm.

Điều làm cho độc giả bất bình đó là báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đưa bài báo đó lên, mà không hề có một bình luận nào kèm theo để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời họ đưa tin như thể hải quân Trung Quốc là hải quân ta.

Trước những phản ứng phẫn nộ của dư luận, ban biên tập trang điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lặng lẽ rút bài báo đó đi sau 4 ngày tồn tại, nhưng cũng không hề có một lời giải thích.(3)

Sự kiện này được đánh giá như là một màn trình diễn ngoạn mục chưa từng có của truyền thông Việt nam kể từ năm 1930 tới nay, khi mà vị GS nổi tiếng Nguyễn Huệ Chi đã lên tiếng " Đòi cách chức lãnh đạo báo Đảng"(4), ông GS Nguyễn Huệ Chi đã gay gắt: "Đây là lỗi về chính trị và do đầu óc ngu muội của con người gây ra chứ sao lại đổ cho kỹ thuật...Nếu một trang phục vụ một đảng mà đảng ấy đang cầm quyền, đảng ấy tự nhận là mình gánh trách nhiệm bảo vệ đất nước thì một trang mà để xảy ra sơ suất như thế thì phải cách chức ông Tổng Biên tập, đấy là nhẹ nhất."

Gay gắt nhưng rất dứt khoát, hành động này chỉ gặp ở một đất nước có đa nguyên về chính trị và tiếng nói đối lập được công nhận, nhưng ở Việt nam hôm nay, dầu chưa có đa nguyên , chưa chấp nhận tiếng nói đối lập nhưng báo chí lề bên trái đã làm tốt vai trò của mình.

Đó là một bước tiến dài và một thành công lớn của báo chí lề bên trái.

Mỗi ngày tiến thêm một bước, càng ngày chúng ta đã thấy rõ, lực lượng báo chí đối lập với chính quyền đã dần hình thành rõ nét, có sự liên kết và hoạt động có hiệu quả rõ rệt. Những ngày này khi vào các trang website lề bên trái trong và ngoài nước của các tổ chức và cá nhân ưa chuộng công lý và tôn trọng sự thật như bauxite.info, danluan.org, x-cafevn.or ...hay các blog cá nhân của các nhà văn, nhà báo, các trí thức có tên tuổi như: Bùi Thanh Hiếu, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập v.v.. chúng ta có thể đọc được rất nhiều ý kiến đa chiều bày tỏ sự bức xúc và trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân trước vận mệnh của tổ quốc và dân tộc mình. Những ý kiến đó không ngoài với mong muốn chỉ ra cho đảng CSVN và các cấp chính quyền những sai phạm và khiếm khuyết trong việc chỉ đạo và điều hành đất nước của các quan chức và các cơ quan chính quyền. Đáng tiếc những cái đó báo chí của chính quyền đã không dám đề cập tới và không làm nổi.

Quy luật tự nhiên của sự phát triển của xã hội loài người là sự phản biện xã hội nhằm để tiến tới khắc phục các sai lầm, các tồn tại để thay thế bằng các biện pháp khác tiến bộ hơn, hiệu quả hơn. Bài học về sự tồn tại và phát triển của CNTB mà trước đây những người cộng sản luôn nói rằng nó "đang giãy chết" là do nó luôn luôn không ngừng tự điều chỉnh mình cho phù hợp với quy luật khách quan trong từng thời điểm mà kết quả là nó vẫn tồn tại và ngày càng phát triển, dó là hệ quả và tác dụng của tiếng nói phản biện đối lập mà trong xã hội tư bản họ rất coi trọng và tạo điều kiện cho các cá nhân lên tiếng.

Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, sự hình thành và phát triển của báo chí đối lập lề bên trái đã và đang phát huy tác dụng hiệu quả của nó. Thời gian gần đây các nhà văn , nhà báo, các trí thức...ưu tú họ đã dũng cảm, dám lên tiếng phản biện những thiếu sót hay sai làm của chính quyền với mục đích giúp cho đảng và chính quyền thấy sai để sửa, để khắc phục những tồn tại, dó chính là họ đang giúp chính quyền giải quyết các mâu thuẫn.

Tuy các tiếng nói phản biện này còn chưa nhiều nhưng nó là một tín hiệu đáng mừng của công cuộc cải cách để xây dựng một xã hội dân sự sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, người dân thực sự làm chủ vận mệnh đất nước và cá nhân của họ. Cái quan trọng hơn cả là tiếng nói đối lập phản biện xã hội đã buộc đảng CSVN và chính quyền bước đầu lắng nghe và tiếp thu, đó là một bước tiến khá xa.

Tiếp tục việc làm đó, chúng ta mỗi nhà báo, nhà văn, mỗi trí thức có trách nhiệm với dân tộc, hãy dũng cảm lên tiếng trước các phát biểu, các hành động của các vị lãnh đạo đảng và chính quyền chưa đúng và chưa tốt bằng các bài viết, bằng các ý kiến phản biện trên các trang website, blog cả lề bên phải và bên trái để thể hiện các suy nghĩ và quan điểm của cá nhân mình. Đó là những hành động thiết thực để xây dựng và phát triển hệ thống báo chí đối lập với đảng CSVN và chính quyền và quan trọng hơn cả là tiếng nói cổ vũ cho phong trào đấu tranh vì dân chủ và xây dựng xã hội dân sự.

Đối lập hoàn toàn không có nghĩa là chống, mà ngược lại phải coi báo chí và tiếng nói đối lập là phương tiện không thể thiếu để kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nước và các cá nhân quan chức các cấp trong các hoạt động. Trong giai đoạn đảng CSVN chưa chính thức chấp nhận tiếng nói phản biện công khai hay nói cách khác là tiếng nói đối lập của các tổ chức và cá nhân khác, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục duy trì và phát triển hơn nữa trạng thái hiện tại, để chuẩn bị sẵn sàng để có thể lập tức làm vai trò chính thức khi tình thế thay đổi.

Nhìn lại quá khứ, nhất là trong vấn đề xây dựng một xã hội dân sự, báo chí lề bên trái tiếng nói phản biện đối lập đã đạt được những thành quả không nhỏ trong công cuộc đấu tranh vì dân chủ và xây dựng xã hội dân sự, đó là do sự đóng góp của mỗi cá nhân chúng ta,những người tôn trọng công lý và tự do.

Dùng đấu tranh bất bạo động để đòi hỏi xây dựng một xã hội dân sự, người dân thực sự làm chủ thì vai trò của truyền thông lề bên trái hết sức quan trọng để tuyên truyền và giải thích cho đông đảo quần chúng hiểu và ủng hộ. Xây dựng một xã hội dân chủ, tự do coi trọng luật pháp, mọi người bình đẳng trước pháp luật là quy luật tất yếu của xã hội loài người. Không có bất kỳ ai, bất kỳ thế lực nào có thể cưỡng lại được quy luật tất yếu đó.

Ngày đó tất sẽ đến, nhanh hay chậm một phần cũng phụ thuộc vào vai trò của báo chí truyền thông lề bên trái, báo chí đối lập. Hôm nay báo chí và truyền thông đối lập đã hình thành và bước đầu đã phát huy hiệu quả rõ rệt làm cho chính quyền phải quan tâm xem xét.

Mỗi chúng ta hãy cùng nhau đóng góp sức của mình có thể để làm cho báo chí lề bên trái, tiếng nói phản biện đối lập với chính quyền ngày càng vững mạnh hơn nữa.


Hà nội, ngày 11/10/2009.



----------------------
Theo nguồn:
(1)http://bauxitevietnam.info/c/8286.html "Giá alexa.com biết nói dối"
(2)http://anhbasam.wordpress.com/2009/08/29/tin-30-8-2009/
(3)http://www.rfi.fr/actuvi/articles/117/article_4907.asp
(4)http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/09/090910_party_site.shtml

วันพุธที่ 2 กันยายน พ.ศ. 2552

No451: Chuyện Đảng ta và lũ Chó dại.

Kami.



Súc vật mang mầm bệnh dại dễ truyền sang cho người (Ảnh: aphis.usda.gov)



Hôm vừa rồi vô tình đọc được một bài báo cũ trên báo An ninh thủ đô oline nhan đề "Bệnh dại lan rộng tại các tỉnh.."(1), làm tôi liên tưởng tới các hành động bắt bớ điên cuồng của chính quyền Việt nam đối với các nhà bất đồng chính kiến, các nhà báo và các bloggers trong thời gian qua.

Ai cũng biết mùa hè là mùa của bệnh dại, đây là một bệnh rất nguy hiểm nếu không biết mà chạy chữa sớm có thể nguy hiểm tới tính mạng,ở Việt Nam, trong nhiều năm qua bệnh dại vẫn là một vấn đề y tế quan trọng gây ảnh hưởng lớn về kinh tế và sức khỏe con người. Đối tượng dễ gây nên bệnh dại nhất là loại chó hay mèo dại, một khi bị chó hoặc mèo dại cắn chỉ có một con đường duy nhất là nhanh chóng đến bác sĩ tiêm vacxin phòng chống, còn chó hay mèo dại cách xử lý duy nhất là đập chết bởi để lâu sẽ có hậu họa khôn lường.


Theo các tài liệu về bệnh dại thì giai đoạn đầu bệnh nhân cảm thấy bồn chồn, thổn thức, chán nản vô cớ ... Sau đó xuất hiện các triệu chứng của bệnh là: co cứng, co thắt, co giật, run các cơ kể cả cơ ở mặt, tiếp đó ở gia đoạn cuối những biểu hiện lâm sàng đặc trưng của đối tượng bệnh dại dễ nhận thấy đó là: bệnh nhân có biểu hiện sợ nước, sợ gió, sợ ánh sáng (2).

Bây giờ ở Việt nam đang là mùa thu không phải là mùa hè, xong chuyện chó dại hay bệnh dại ở Việt nam hôm nay vẫn cần được nhắc tới. Bởi trong thời gian gần đây chúng ta được nhận nhiều các tin tức liên quan đến việc chính quyền nhà nước Việt nam bắt giữ hàng loạt các nhà bất đồng chính kiến, các nhà báo, các bloggers vì đã lên tiếng phản biện hay góp ý đối với chính quyền trên các bài viết của họ trên báo chí, blog trong nước.

Tin nhiều và liên tiếp tới mức có người phải thốt lên rằng "chán không buồn đưa tin".

Nếu để ý so sánh với các biểu hiện lâm sàng "đặc trưng" của bệnh dại là " bệnh nhân có biểu hiện sợ nước, sợ gió, sợ ánh sáng.." thì cũng cho phép ta có quyền hiểu rằng virut bệnh dại không chỉ truyền từ chó , mèo..sang người mà virut dại hình như còn có khả năng truyền sang một tổ chức đảng chính trị cầm quyền ở Việt nam mà bây giờ ta có thể gọi nó là một loại bệnh mới, đó là bệnh đảng dại.

Từ "đảng dại" có thể hiểu theo nhiều nghĩa, nếu chỉ đơn thuần nói là đảng dại thì người ta dễ liên tưởng tới câu mà nhiều người nói về đảng CSVN là bọn "khôn nhà dại chợ" vì trước các hành động hèn nhát, nem nép cúi đầu dâng đất, dâng biển cho Trung quốc, không dám có bất kỳ phản ứng để phản đối bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước sự gia tăng của các hành động lấn chiếm trên biển Đông. Nhưng ngược lại với người dân trong nước thì đảng CSVN và chính quyền của họ sử dụng các hành vi đê hèn bất chấp đạo lý và luật pháp nhằm đàn áp, bịt miệng, bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí, các hành động và tiếng nói phản biện của người dân dã man hơn cả thời thực dân, đế quốc trước đây.

Nhưng không đơn thuần như vậy, trước những diễn biến của tình hình đàn áp gần đây nhất đã cho thấy đảng CSVN đã bộc lộ rõ các biểu hiện của kẻ mắc bệnh dại , đó là họ sợ (Người buôn)gió, sợ (người yêu)nước và đặc biệt là sợ ánh sáng của công lý và sự thật. Những nhân vật bất đồng, các nhà báo, các bloggers họ dùng quyền của mình theo Hiến pháp và Luật pháp cho phép để nói lên các suy nghĩ và cá ý kiến góp ý chân thành mang tình phản biện với mong muốn góp phần cùng đảng CSVN và chính quyền Việt nam xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn tại sao lại phải điên cuồng đàn áp, bắt bớ và bịt miệng họ?

Không có cá nhân hay tổ chức nào có thể hoàn thiện tuyệt đối, những kẻ luôn tự vỗ ngực xưng mình là "đỉnh cao của trí tuệ loài người" hay "đại biểu ưu tú của giai cấp" này nọ v.v..hãy thử soi lại mình xem đã hoàn thiện đủ như một người dân bình thường hay chưa mà ngăn cấm tiếng nói phản biện của các tổ chức và cá nhân khác góp ý cho mình?

Đừng quên rằng, sự thật các vị lãnh đạo chỉ là những kẻ đầy tớ thực thụ, ăn tiền thuế của dân để làm cái việc lãnh đạo đất nước, mà ngay cái quyền lãnh đạo của các vị hôm nay cũng không phải do ý nguyện thực sự của nhân dân thông qua một cuộc bầu cử dân chủ và công bằng mà ra. Mà do các vị lừa bịp đánh cắp quyền của dân chúng.

Đừng quên rằng, sự thật dân phải là người chủ có toàn quyền lựa chọn và đồng thời phế truất các kẻ đầy tớ như các vị, bất kẻ lúc nào nếu các vị có các hành động vi phạm Hiến pháp và Pháp luật hoặc không thực hiện những lời cam kết của các vị trước quốc dân đồng bào. Thử hỏi rằng có bao giờ các vị lãnh đạo hôm nay đã từng hứa sẽ làm việc gì tốt đẹp cho dân cho nước để họ lựa chọn các vị vào các vị trí các vị đang nắm giữ hay chưa?

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:"“Một Đảng mà dấu diếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn và chân chính”.(3)

Ngoài mồm thì các vị lãnh đạo đảng CSVN và chính quyền ra rả kêu gọi mọi người, mọi tầng lớp mọi tổ chức trong nước học tập tư tưởng của Hồ Chí Minh nhưng cá nhân họ ngược lại lại sợ sự thật và những lời phê bình góp ý.

Phải chăng đến hôm nay Đảng CSVN của các vị đã thực sự hỏng, đã bị mắc bệnh dại như lũ cầm thú kia chăng?

Phải chăng các hành động điên cuồng đàn áp bắt giữ các nhà bất đồng chính kiến, các nhà báo, các bloggers thời gian qua là biểu hiện của con bệnh dại đang giãy chết chờ ngày xuống mồ. Càng gần ngày chết nó càng dữ, nó càng giãy giụa, nó sẵn sàng cắn bất kể ai mà nó không vừa lòng cho đến lúc nó tận số. Càng đàn áp điên cuồng bao nhiêu càng chứng tỏ cái Đảng CSVN mắc bệnh dại nó đã tới ngày cáo chung.

Thú vật như con chó, con mèo... mắc bệnh dại chỉ có một cách duy nhất đập chết nó đi không còn cách nào khác, bởi nếu ta còn xót thương nó, để nó còn tồn tại ngày nào thì sẽ gây biết bao nhiêu thảm họa chết người cho những người dân vô tội khác.

Chính vì vậy, một đảng cầm quyền như đảng CSVN hôm nay, khi họ đã bộc lộ rõ các biểu hiện của kẻ mắc bệnh dại , đó là họ sợ (Người buôn)gió, sợ (người yêu)nước và đặc biệt là sợ ánh sáng của công lý và sự thật. Họ ngày càng điên cuồng đàn áp bắt bớ gây bao nhiêu đau đớn cho những người dân khác thì số phận dành cho họ cũng không thể khác được lũ thú hoang mắc bệnh dại.

Chúng ta phải kiên quyến đập chết nó đi.(4)


Ngày lễ Độc lập 02/9/2009

---------------------
Nguồn dẫn theo:
(1)http://www.antd.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=7845&ChannelID=100
(2)http://www.tuyenquang.gov.vn/Yte/Phongbenh/tabid/105/postid/88/Default.aspx
(3)http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30456&cn_id=171130
(4)Nhại lời Hồ Chí Minh " Nếu còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải chiến đấu quét sạch nó đi"

วันอังคารที่ 1 กันยายน พ.ศ. 2552

Bai 451: Hấp hối vinh, chết nhục, ngắc ngoải thơm tho (phần 2)

(xem phần 1)

Trên đây tôi trình bầy sơ qua về những nhu cầu sơ đẳng, như nhân quyền, dân chủ, nhu cầu làm chủ bản thân, nhu cầu người dân làm chủ nhà nước. Từ những điều rất sơ đẳng này, tôi sẽ nói tới ý chính của bài viết.

Thực ra, mục đích của bài viết này cũng không nhằm vào những gì đao to búa lớn như dân sinh, nhân quyền, tự do, dân chủ. Ngược lại, nó bàn đến một vấn đề, nhỏ thôi, nhưng đang là thời sự.

Trước hết, hãy quay lại nhân vật đầu tiên: Lê Công Định bị bắt và rưng rưng tỏ tình đọc bản thú tội rất lâm li mùi mẫn và cũng không kém xót xa.

Sau khi Lê Công Định xuất hiện trên truyền hình đọc bản nhận tội, thi sĩ Bùi Chát nhắn tin cho tôi: “Anh thất vọng về LCĐ quá” (tôi và Bùi Chát vì ai cũng tranh làm anh nên đều xưng anh với nhau). Tôi nhắn tin trả lời: “Em không nên bắt ai cũng là anh hùng. Vì anh hùng luôn là của hiếm. Chưa kể vụ việc đầu cua tai nheo ra sao ta còn chưa hề biết. Và quan trọng hơn nữa, ta là ai, là cai thá gì mà đòi hỏi người này phải thế nọ, người nọ phải thế kia?”. Chát lại nhắn: “Ừ, Anh cũng công nhận điều đó, nhưng anh ước gì Công Định được như Công Nhơn (Nhân), hay một phần Công Nhơn thì hay biết mấy” (Chát thích phát âm theo phương ngữ Nam Bộ mặc dù trong huyết quản hắn còn đầy máu chiêm trũng Thái Bình trên tầu há mồm). Tôi nhắn lại: “Em ạ, dân ta hiện có khoảng tám sáu triệu ngưởi. Anh không cần ai cũng giống, cũng khí phách như Công Nhân, thậm chí chỉ là một phần nhỏ, rất nhỏ thôi. Anh chỉ cần chừng 2%, nhắc lại nhé: hai phần trăm con người có tư tưởng và khí phách tương đương như Công Nhân, thì khiêm tốn nhất cũng có thể khẳng định rằng Việt Nam chúng ta là đất nước tự do, văn minh và giầu mạnh vào loại nhất nhì khu vực ĐÔNG-NAM-BẮC Á - tất nhiên không sánh với mấy ông Tây Á – Trung Cận Đông – Vùng Vịnh, chuyên móc bùn móc đất lên đổi Bảng Anh với USD. Nhưng đó chỉ là vấn đề kinh tế. Còn dân trí, văn hóa, chúng ta sẽ vượt họ xa lắc. Ta chẳng hề chủ quan mà nói thế.

***

Cũng trong thời gian đó, trên talawasblog xuất hiện một bài viết của một tác giả lớn tuổi, ông lớn gấp đôi tuổi tôi - tiếc rằng tôi cũng có quen biết ông ta mà không góp ý được cho ông. À, mà suy cho cùng, mình là cái thá gì mà góp ý với góp tứ kia chứ? Tôi tôn trọng ông về tuổi tác. Tôi cũng nên tôn trọng chính kiến của ông ta. Thậm chí, tôi nên tôn trọng ngay cả sự ngây ngô bốc đồng của ông ta nữa. Ông khoe ông đã hoàn tất một bài thơ để ca ngợi Lê Công Định, nhưng khi thấy LCĐ đọc bản nhận tội, xin khoan hồng, ông đã nổi giận đùng đùng vo viên bài thơ ném đi và ông cảm thấy như ông đã bị phản bội. Ông viết ra giấy trắng mực đen như thế. Thật lòng, tôi thương ông. Ông đã quá nhiều tuổi đời, mà bản lĩnh đối nhân xử thế cũng như bản lĩnh chính trị ông còn (nói thì bảo xấc, bảo mách qué, nhưng sự thật là như vậy) kém thằng con trai tôi.

Cũng cần nói thêm. Tôi ham vui, “xong sớm nghỉ sớm” nên con tôi năm nay đã sắp hết năm hai đại học. Nói cho công bằng, đến cử nhân ở Việt Nam còn chẳng hơn lợn con bao nhiêu, năm hai đại học mang ra khoe chẳng bõ xấu mặt. Ấy thế nhưng mà thằng ku này nó lại có cái đáng để khoe, bởi nó khác chúng bạn ở điểm: nó quan tâm tới vấn đề xã hội, chính trị, văn hóa hơn các trò bắn đì đùng như StarCaft, Halflife, Audition hay chatchit với show hàng qua webcam. Và (khổ thân nó) lại rất thích triết. Làm thơ thì vào loại khá hay (càng khốn nạn thân nó). Từng lọt vào tới chung khảo (1 trong 5 tác phẩm lọt vòng chung kết) một cuộc thi thơ coi như lớn nhất Viêt Nam hiện nay - năm 2008 (lẽ ra, cháu phải ăn giải nhất, bởi những người biết thẩm thơ đều công nhân điều đó, vì độ chênh với 4 cuốn còn lại… hơi bị xa xôi. Híc. Nhưng cháu nó không ăn giải vì “can tội” trong thơ cháu hơi nhiều “phân bò”, “tử cung”, “huyệt mộ”…v.v. Thôi thì bắt chước nói theo kiểu bác Hoàng Ngọc Hiến: Cái Việt Nam mình nó thế.

Đến lần này, sau khi cháu đọc bài: Những nhà dân chủ thích sống nhục thì cháu trở nên trẻ con thật sự, cháu không hề đáng mặt trang nam tử 19 tuổi tí nào khi mà cháu bừng bừng đỏ mặt tía tai, đá thúng đụng nia rồi hét lên: “Ông ta ngồi khểnh, gãi… ấy bên Ba Lan, uống bia Bỉ, rồi ông vỗ ngực (sorry- VVQ) vỗ mông, ông kết án ai, sỉ nhục ai, mạt sát ai thế nào mà chả được. Ông anh hùng thế sao ông không về Việt Nam mà dấn thân? Sao ông không về Việt Nam mà làm dân chủ để chết vinh, để khi dựa cột phút giây thiêng anh còn gọi Bác ba lần , rồi còn tranh thủ mà thò chân vào lịch sử để thơm cho con cháu? Cho con cháu được dịp đánh bóng lư đồng mỗi khi giỗ Tết”

Thú thật, tôi không nghĩ cháu nói sai, nhưng tôi phải mắng át đi. Rằng đây không phải chuyện của con. Rằng đây không phải vấn đề con quan tâm (tuy rằng tôi coi cháu như bạn, chẳng mắng mỏ to tiếng bao giờ), vì dẫu sao, cháu cũng đã 19 tuổi. Tôi không muốn cháu bức xúc vì những chuyện không đáng. Nhưng thật bất ngờ, đợi cho tôi hùng hổ quát lác xong xuôi, cháu điềm đạm hỏi tôi: Vậy theo bố, đây là chuyện dành cho ai quan tâm? Là chuyện của ai? Của người Hàn Quốc chăng?

Tôi ớ người. Ớ thật sự ( bởi tôi phải thú nhận chân thành là một dòng nước dãi từ từ khẽ khàng và duyên dáng chảy rớt bên khóe mép tôi - vì đôi môi tôi há hốc một cách vô thức). Và, tôi còn có thể nào thốt lên dù chỉ là nửa lời? Trong đầu tôi hiện lên một hình ảnh vô cùng bi đát, thằng con tôi, đẹp giai ngời ngời, mắt kính cận lòi tói đang dán vào những viên gạch sỉ to vật vã có tên, nào Hiện tượng học tinh thần, nào Phê phán lí tính thuần túy…, rồi những viên gạch thẻ nhè nhẹ hơn về trọng lượng từ các lò có tên J.Satre đến M.Heidegger, rồi Freud, K.G.Jung, chán chê thì la liếm sang Kierkegaard, EdMund Husserl, rồi lang thang vật vờ qua M.Foucault, Roland Barthes…. Cỡ gạch thẻ 2 lỗ như Bàn về tự do của J. Stuart Mill hay Thế giới như tôi nhìn thấy của A.Einstein thì nó ngấu nghiến như ăn phở bò Bát Đàn hay bánh dầy Quán Gánh. Nói nó thông làu là ngoa ngôn, là bốc phét, có thể đọc 10 nó chưa hiểu 1, nhưng oái oăm thay, đó lại là ý thích của nó. Cứ những cục gạch to tổ bố mang tên “philosophi” là nó vồ lấy gặm lấy gặm để. Hiểu đọc đã đành, không hiểu cũng đọc luôn. Mà tai quái là càng không hiểu nó lại càng đọc! Đấy, một thanh niên như vậy, (nói dại và trộm vía) chính là một hình mẫu đầy tiềm năng vào một ngày đẹp trời nào đó sẽ lên ti vi, cầm tờ giấy nhận tội và xin tha đét đít , và lại đỏ mặt thỏ thẻ xin nhà nước CHXHCNVN khoan hồng để sớm trở về đoàn tụ gia đình.

Mắt tôi chợt cay xè và mồm đắng như uống nhầm nhựa đường. Tôi có phải con người đúng nghĩa không? Và tôi đang sống ở đâu đây? Xứ phù thủy độc ác trong truyện thần thoại chăng?

Đấy là tôi còn chưa muốn kể ra một series những lập luận của cháu, những lập luận hoàn toàn tự biện nhưng vô cùng thuyết phục, nó cũng khiến một thằng già vừa ngu vừa bựa như tôi thầm cảm phục. Và kết luận của cháu là gì: Là cái tình hình làng xã Việt Nam, với những người đấu tranh, rồi bị bắt, bị đưa ra làm hề, theo cách nhìn, cách đánh giá của các “chuyên gia phân tích trời Tây” và các nhà tiên tri phỏng đoán trời Ta thật không hình ảnh so sánh nào đắc địa hơn cái hình ảnh, ếch ngồi đáy giếng và phán rằng, trời xanh kia to đúng bằng cái vung.

***

Có một tâm lý ăn vào thâm căn cố đế, ăn vào cốt tủy tế bào dân tộc Việt, rằng, phàm đã là việc lớn, phải có minh chủ. Đành rành, minh chủ là quan trọng, đôi khi là quyết định. Nhưng thử nhìn một lượt xung quanh thiên hạ mà xem. Một dân tộc có nội lực mạnh mẽ lại thường tự tạo dựng nên cho mình những khối óc vĩ đại, hoặc họ tự nhào nặn nên một minh chủ đâu ra đấy. Họ tạo ra minh chủ. Bởi họ, tập thể dân tộc ấy, cộng đồng dân tộc ấy chính là minh chủ trước đã. Cái minh chủ A,B,C …cụ thể kia đôi khi (mà cũng có thể là phần lớn) chỉ mang tính danh nghĩa.

Chẳng phải ngẫu nhiên, từ thời phong kiến, vua chúa phương Tây muốn “tòm tem” phải thì thà thì thụt đi “ăn vụng phở” đấy ư? Đã vậy đi không khéo bị phát hiện còn ăn đòn ghen bét xác. Làm gì có tam cung lục viên, làm gì có chuyện vua bụng phệ thở vắn than dài: “Hậu cung ta ba ngàn sáu trăm mĩ nữ, mà vẫn chưa vừa ý một người nào” Tuy tôi trích dẫn câu nói lối trong Chèo cho vui, nhưng đây là điều hoàn toàn có thật ở xứ phương Đông. Tất cả những điều đó không nói lên tính DÂN CHỦ sẵn có trong máu mủ người châu Âu, thì nói lên cái gì đây.

Nhưng ngày nay là Kỉ nguyên mạng, là Thế giới phẳng. Phương Đông và phương Tây không nên quá khác nhau mới là hợp logic.

Ngắn gọn thôi, nhưng chúng ta hãy nhớ lấy điều này. Vì nó gần chân lí hơn cả:

+ Người ta chỉ thật sự là con người khi người hiểu rõ giá trị con người và người ta khát khao làm người.
+ Tương tự, người ta chỉ có dân chủ, khi họ thực sự hiểu về giá trị của dân chủ, và dân chủ chỉ tới khi người ta thật sự có nhu cầu và vô cùng khao khát nó.

***

Riêng trường hợp của Nguyễn Tiến Trung thì quả là một trò hề. Trò hề vừa vụng vừa nhạt. Và hơn hết, nó tỏ ra vô cùng rẻ tiền. Cực kì rẻ tiền. Rẻ tiền, nhạt nhẽo, tựa như những trương trình hài vẫn phát trên TV nhà nước vậy. Thứ hài mà khi xem khiến ta nổi da gà, vì … xấu hổ. Đây là xấu hổ thay. Nói theo các cụ là: “Người dại để lồn người khôn xấu hổ”. Sự thật trăm phần trăm, không ngoa ngôn, dù chỉ một chút.

Thật vậy. Với một đầu óc tư duy loại bình thường, ta thử suy diễn một chút nhé: một thanh niên có trình độ, cộng với bản tính khá điềm đạm, vậy mà trong hơn một năm quân ngũ, anh ta luôn phải “bật như tôm” (từ lóng, chỉ hành vi chống lệnh), kiên quyết từ chối không đọc 1 trong 10 lời thề của Quân đội nhân dân Việt Nam, chính là lời thề đầu tiên, lời thề thứ nhất: Thề trung với Đảng [Cộng sản]. Tôi tin chắc rằng, trên thế giới này, không có một thứ quân đội nào lời thề đầu tiên là thề trung thành với 1 đảng phái chính trị. Quân đội nào cũng vậy thôi, kể cả quân đội trên sao Hỏa, tôi tin chắc như thế! Lời thề đầu tiên là phải trung thành và bảo vệ đất nước. Đây là một lí lẽ không thể chối cãi. Không thể và không có cơ sở tranh luận. Chưa kể, đây là lời thề mà đảng CSVN tự tiện thay đổi so với nội dung 10 lời thề của QĐNDVN do đích thân Hồ Chủ tịch soạn thảo. Và nó luôn là như vậy: Trung với nước/Hiếu với dân…. Trong khi đó, giờ đây, người ta bắt Quân đội của một quốc gia cất lên lời thề đầu tiên là thề trung thành với 1 đảng phái chính trị.

Vô hình chung, người ta đặt đảng phái của một thiểu số người cao hơn Tổ Quốc, cao hơn Đất nước, cao hơn Dân tộc. Điều này có thể lọt tai ai đây?

Và Trung đã bị kỉ luật lên kỉ luật xuống, hành lên hành xuống (chính đồng đội của Trung kể), mà kỉ luật của Quân đôi nhân dân Việt Nam thì biết rồi. Ai đã từng đi lính, từng xem lính bị kỉ luật thì mới biết đủ trò… vui. Vui một cách cay đắng. Vui một cách khốn nạn. Ví dụ: Vi phạm kỉ luật (bất kể tỗi gì, nhưng chắc chắn là thứ “tội” nho nhỏ trở xuống: gánh nước giếng từ chân đồi lên đỉnh đồi (Qủa đồi đât đỏ cao chừng 20m, trời mưa, đường lép nhép khó đi, dép cao su sút quai liên tục, thùng loại 20 lít. 2 thùng =40 lít = 40kg. Và việc tất yếu là anh lính nọ “vồ ếch” liên tục. Vồ ếch là té, là ngã, là đổ nước tóe tòe loe. Lại quay lại múc) sau đó lại gánh lên đỉnh đồi để đổ cho đầy… một rổ nước. Tôi, kẻ viết bài này đã từng được xem một “xen” như vậy. Đó là vào năm 1988, đơn vị lính nọ đóng tại Ba Vì (Hà Tây cũ), tôi đi cùng thằng bạn, lên thăm anh nó đóng quân tại đó. Chuyện thật trăm phần trăm, không đùa bỡn chút nào. Tất nhiên, rổ nước cũng sẽ đầy, đó là khi B hay C trưởng (thường là C trưởng) ngồi chán quá, phẩy tay phán: Đầy rồi.

Hơn một năm được tôi luyện trong môi trường quân đôi, mà không chỉ tôi luyên “suông”, Trung còn “bật như tôm” để liên tục lãnh án kỉ luật, và những lời hăm dọa: “tao có thể cho mày biến khỏi trái đất này trong tíc tắc” vẫn hoàn toàn không làm anh chàng này không khuất phục. Vậy mà chỉ vài ngày, vài ngày thôi, vào cơ quan an ninh, Nguyễn Tiến Trung ta bỗng trở nên yểu điệu thục nữ, liễu yếu đào tơ, đài các thanh tao, thỏ thẻ oanh vàng tỏ tình nhận tội ngọt xớt.

Liệu đây có phải là một kiểu logic? Và chúng ta nên hiểu logic này như thế nào đây?

***

Trở lại vụ Lê Công Định. Khi đó, ngoài người bạn hiền lớn tuổi của tôi, sau khi làm một bài lục bát để ca ngợi anh Tô Vĩ Dọ lấy thân chèn pháo, nhưng chưa kịp công bố trên tờ Văn Nghệ thì anh đã bị phản bội phũ phàng. Tên LCĐ tuổi trẻ tài cao đẹp giai như sĩ điều đã vội phản bội mà không nhận lấy bài thơ do anh sáng tác bằng tất cả tâm huyết, thật phí ! Trong cái bản Symphony khá dở và ồn ào đó, tôi thấy nổi lên giai điệu cung M minor của cây Cello vô cùng liêu trai huyền hoặc, nhưng cũng không kém phần… đanh thép, cây Cello cung Mi thứ mang tên Phạm Thị Hoài. Chữ tỏ tình là tôi “thuổng” trong cái cung Mi thứ huyền hoặc ấy của chị ta (mà trong bài viết này tôi cũng có dùng)

Tôi không muốn bình luận gì nhiều cái mệnh đề: Những nhà dân chủ thích sống nhục. Bởi giữa tôi và anh Đức có đôi chút thân tình. Hơn nữa, bình luận nó, tôi e rằng chỉ phệt không tới ba dòng thì cái luận điệu đầy bồng bột và mách qué mang đậm chất bé thơ kia sẽ không thể đứng vững. Nôm na: luân điểm của anh Đức như thển quả tạ đặt trên cọng bún vậy.

Nếu muốn “sống nhục”, Tiến Trung hoàn toàn vẫn là một nhà “dân chủ nhớn”, oai phong đường bệ, “sếp xòng” của THTNDC, đàng hoàng tiếp kiến từ tổng thống Mỹ, tới thủ tướng Canada, lại bắt tay đá chân chủ tịch liên hiệp EU, đồng thời với tấm bằng thạc sĩ, Trung hoàn toàn có thể sống và làm việc thoải mái tại Paris. Với từng đấy cái gạch đầu dòng, sao anh ta phải sống nhục nhỉ? Qủa là khó hiểu!

Về anh Lê Công Định. Anh là một tri thức sáng giá, một luật sư tiếng tăm, nếu thật sự anh là thứ “…ấu trĩ, nông nổi về tư duy cách mạng, ngựa non háu đá, ảo tưởng, thích nổi tiếng vớ vẩn, bạc nhược,” thì quả thật, anh chẳng cần thêm bất cứ chút cố gắng nào, anh đã đầy đủ những cái gọi là “nổi tiếng”. Văn phòng riêng hoành tráng, vợ hoa hậu, nhà nằm trong khu quistoc đất Sài thành, thỉnh thoảng buồn tình quẳng lên BBC những bài viết cực kì sang trọng, cực kì chất lượng (anh Đức có thể tìm, và đọc lại)… nào, sự “nổi tiếng” chẳng cần làm thêm trò gì anh cũng đã có. Thậm chí có… hơi bị nhiều. Một tri thức học vấn đầy mình như anh mà còn ấu trĩ, nông nổi, ngựa non háu đá ư? Điều này e rằng mang ra kể với học sinh vùng sâu vùng xa cấp tiểu học chúng nó cũng khó mà tin nổi.

Khi sự việc anh Lê Công Định tỏ tình với nhà nước Việt Nam, xin tha đét đít, rất, rất nhiều người cay đắng, phẫn nộ. Họ đòi hỏi LCĐ phải như Phù Đổng Thiên Vương, hay chí ít cũng là Sơn Tinh núi Tản với dương vật vắt vai thì họ mới hài lòng. Tại sao chúng ta không dành vài giây để nghĩ rằng, chúng ta đều là người, người trần mà thôi ?

Ngược chút thời gian, một nhân vật cũng lên TV tỏ tình xin tha đét đít, nhưng có vẻ như công luận không mấy quan tâm tới nhân vật này. Bởi vậy họ chưa bắt bà cưỡi mây hay cưỡi hạc. Đó là Trần Khải Thanh Thủy. Sau khi tỏ tình rất đỗi nồng nàn, vài tháng sau, chàng nhà nước cũng rộng lòng buông háng thả bà, đặng để bà đi bộ về đoàn tụ với chồng con. Nhưng chỉ không lâu sau đó, cửa nhà bà trở thành cái hố xí công cộng, cái chuồng chồ hai lỗ (So sorry - tôi dùng toàn từ Bắc nghe cho nó gợi). Gia đình bà cứ dùng cơm với những thứ mùi đó, đảm bảo sẽ khỏe, sẽ mang đầy tính giai cấp, đỡ tốn tiền mua thức ăn. Trường hợp của bà Thanh Thủy, anh Đức có làm thơ tặng không? Và anh gọi trường hợp này là gì đây?

KẾT LUẬN: Thật lòng, tôi sẽ không mất công gõ tới từng này chữ, nếu cái tựa đề bài viết của anh Đức xuất hiện trên báo CAND, hay ANTG. Nhưng cơ khổ, nó lại ưỡn ẹo nằm chình ình trên talawas, cho nên tôi đành lòng mà cầm… ấy vậy

SG 23/08/09

No450: Hấp hối vinh, chết nhục, ngắc ngoải thơm tho (phần 1)

Buổi sáng hôm tôi nghe tin Lê Công Định bị bắt, chưa hiểu đầu cua tai nheo nó ra hình thù gì, chỉ biết rằng một tình cảm lập tức ùa vào ngập tràn hồn tôi: đó là sự bàng hoàng! Bàng hoàng đền rã rời. Ngũ chi cùng đổ đốt. Trời ơi, tại sao, tại sao, tại sao… Tại sao người ta lại có thể táng tận lương tâm đầy ải con người như vậy vào chốn lao tù? Một con người ưu tú, một đại diện của giới “intelligentsia” trẻ, một con người rất, rất có thể là một nhân tố thúc đẩy đất nước này sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Hồ Chủ tịch dậy thiếu niên nhi đồng năm xưa kia chứ!?

Đấy là những ý nghĩ rối bời và tức thời ban đầu, nhưng chỉ sau ba khắc, bình tĩnh lại, tôi chợt nhớ tới lời của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “Bọn làm chính trị là lũ giả hình, chúng nhân danh lương tâm, nhân danh trật tự ổn định xã hội, đạo đức, mỹ học, thậm chí chúng nhân danh cả dân tộc nữa”. “Còn điều này, đã nói thì nói cho xong. Thời loạn dứt khoát phải có một nền chính trị bá đạo. Còn thời bình, đường lối chính trị bá đạo sẽ đưa dân tộc tới thảm họa. Thời bình thì chỉ một nền chính trị dân chủ, tín nghiã, đạo đức văn minh mới có thể làm cho dân tộc, đất nước phồn vinh”(1).

Nhưng đấy là ông Thiệp đang nói tới thứ chính trị của lũ ăn trên ngồi trốc, lũ phe phẩy chính trị, làm ăn chính trị, đầu cơ chính trị, mánh mung chính trị để vinh thân phì gia và cai trị đồng thời hút máu một đám đông bầy đàn con dân mông muội.

Chính trị, về bản chất không thối tha như người ta vẫn nghĩ. Nó không phải và không thể như vậy nếu được vận hành trong một xã hội tốt, cơ chế tốt. Hiểu chính trị như vậy là mới hiểu chính trị một vế. Một nền chính trị, mà nói theo nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là nền chính trị bá đạo. Cái thứ chính trị đó không giúp gì cho xã hội mà ngược lại, nó tàn phá xã hội, nó kéo lùi bánh quay của lịch sử, nó phá phách mọi giá trị nhân văn tốt đẹp của con người. Nó là thứ chính trị biến người với người thành chó sói. Đấy là thứ chính trị ở những xã hội mông muội lạc hậu, những xã hội mà ở đó con người chưa tiến xa loài khỉ là mấy. Chưa phải xã hội của “homo sapiens”

Ở những xã hội văn minh, dân trí cao, họ - dân tình, được thụ hưởng một nền giáo dục tốt đẹp mang tính sáng tạo do nền chính trị tốt đẹp mang lại, hay nói cách khác, giáo dục chính là con đẻ của chính trị. Cha mẹ sao con cái vậy. Nền giáo dục sinh ra từ nền chính trị tốt đẹp không có đất cho mầm mống giáo dục giáo điều & nhồi sọ, và như vậy, xã hội sẽ tiến lên, con người trở nên người hơn, nhân văn, nhân bản hơn. Và người dân sẽ ý thức rằng, đời sống chính là chính trị, hay nói cách khác, chính trị và đời sống luôn liên quan khắng khít với nhau. Thậm chí có chính trị gia còn nói vui rằng thắt cravat sao cho ngay hay đậy nắp bồn cầu thế nào cũng là một thái độ chính trị kia mà!

Như vậy, một điều như chân lí hiển nhiên rằng: Chính trị không phải món dành riêng cho tầng lớp cai trị, mà chính trị là của mọi người, của toàn dân. Càng quan tâm tới chính trị, càng chứng tỏ anh có một tấm lòng với đất nước.

***

Tôi sinh ra là người, anh sinh ra là người, chị sinh ra là người. Con người chúng ta đều có ngũ quan để cảm nhận thế giới, đều có khối óc để tổ chức, tận hưởng cuộc sống. Hà cớ gì anh định hướng cho tôi đi; chị áp đặt những chuẩn mực để rồi buộc tôi theo; chú đòi đương nhiên có quyền lãnh đạo tôi và cả cộng đồng tôi chỉ vì một lí do xa xôi, mơ hồ và vớ vẩn nào đó? Có quyền sinh quyền sát tôi bằng những chuẩn mực chủ quan của các anh, các chị một cách vô lối, vô lý, vô tổ chức? Đại khái là như thế.

Thủa hồng hoang, con người giải quyết các vấn đề, các áp đặt đơn giản bằng sức mạnh, giờ đây, khi sức mạnh cơ bắp chỉ còn là trò giải trí thì sức mạnh tri thức thức trở thành quyết định. Người ta vận dụng sức mạnh trí não, (có thể hiểu một phần là sức mạnh tri thức) một cách vô cùng biến báo, muôn hính vạn trạng. Người ta dùng mưu mô (cũng là sức mạnh), sức mạnh ma giáo, thứ sức mạnh của quỉ dữ để áp đặt đè nén kẻ yếu. Qui luật xem ra cũng đơn giản, dễ hiểu! Bởi nó cũng tương tự qui luật cá lớn nuốt cá bé.

Nhưng thực tế nó lại chẳng đơn giản và dễ hiểu đến mức khiến ai cũng nhìn ra, khi quan hệ xã hội mỗi ngày một phức tạp. Các ý thức hệ, hệ tư tưởng lừa phỉnh chằng chéo xiên xẹo, những chân lí từ “đẹp” đến “đểu” rồi “ma bùn” sinh ra từng ngày từng giờ, thì sự phức tạp sẽ tăng theo cấp số nhân. Sự rắc rối tăng lên bội phần. Từ đây, một nghịch lí nảy sinh: Dường như con người trở nên ngu dốt và yếu đuối hơn thủa hồng hoang ăn lông ở lỗ!

Ngẫm xem, ngẫm cho kĩ xem có phải vậy không? Và điều này có phải là thậm… thậm vô lí?

***

Một bầy người lầm lũi bước đi, chợt một kẻ dừng lại, tách ra và suy nghĩ. Suy nghĩ giản đơn chứ chẳng cao siêu gì, chỉ cần đứng lại và ngẫm nghĩ KHÁC đi một chút, như tại sao ta lại đi theo hướng này, với tốc độ này? Và vấn đề bắt đầu nẩy sinh. Một số điều tất yếu sẽ xẩy ra. Người chợt thắc mắc, chợt đứng lại và nghĩ xâu xa hơn thế nữa, chút chút thôi, đó chính là mầm mống của con-người-phản-biện. Mầm mống của sự tiến bộ.

Ở đây tôi sẽ nói thật vắn tắt. Văn tắt, tối giản có thể.

Nếu một số người làm giống hắn, cũng đứng lại, và đưa ra câu hỏi, vậy là một xã hội có tính cách mạng ra đời. Kèm theo nó, sự phản - biện cũng manh nha xuất hiện. Và, mọi điều đó, đều tốt.

Đây là những hành vi gây nguy cơ cho thể chế độc tài.

Những có một số người, họ không muốn ai hỏi han, thắc mắc. Họ chỉ muốn đoàn người lầm lũi đều bước. Từ đây sẽ nẩy sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa con người-phản-biện (tiến bộ) và con-người-nguyên-tắc (bảo thủ).

Như đã nói, những người tách khỏi đầy đàn đầu tiên, nhìn và suy nghĩ, đó chính là những con-người-phản-biện (tiến bộ). Họ sẽ phản biện với ai? Tất nhiên là những đầu lãnh, tộc trưởng… nôm na là họ sẽ góp ý cho lãnh đạo. Họ phản đối đi theo đường thẳng vì phía trước có vực sâu, họ yêu cầu tìm hang trú ẩn vì một cơn bão lớn đang tới …v.v. Họ không làm chính trị bằng cách cai quản một tập thể. Nhưng họ quan tâm và làm chính trị bằng cách phản biện với lớp cai trị, lớp lãnh đạo. Họ không làm chính trị, họ không có tham vọng làm đầu lãnh, tộc trưởng, nhưng họ quan tâm một cách sâu sắc tới lợi ích của đoàn người, quan tâm từ đời sống cộng đồng ấy cho tới những hành vi của các đầu lãnh, tộc trưởng, tức là họ đang quan tâm vô cùng sâu sắc tới mọi mặt đời sống chính trị.

Khi xuất hiện một nhóm người không làm chính trị, không có tham vọng làm lãnh đạo, nhưng họ luôn quan tâm một cách rất sâu sắc (trách nhiệm) tới cộng đồng, và họ cũng quan tâm tới nhóm, tầng lớp cai trị, lãnh đạo với tinh thần tương tự như thế.

***

Như vậy, một xã hội có càng nhiều con-người-phản–biện, tức những con người quan tâm tới chính trị, xã hội ðó sẽ là xã hội tốt đẹp. Tất nhiên phải kèm theo điều kiện: Nhà nước ấy có tạo điều kiện để lớp người ưu tú này phát huy khả năng (ở đây là khả năng phản biện, giám sát), hay là nhà nước ấy, với công cụ là công an, mật thám trong tay, dùng đủ mọi mưu ma chước quỉ để tiêu diệt lớp người ấy!

Với con-người-phản-biện, bất kể hình thức nhà nước nào cũng là đối tượng phản biện của họ. Bởi loài người chưa tìm ra một mô hình nhà nước tối ưu. Chưa có thiên đàng trên mặt đất, nên ngài thủ tướng “xì gà” Sir Winson Churchill, đã phát biểu một câu đầy chất hài hước, nhưng vô cùng chính xác: “Dân chủ là một hình thức chính quyền tồi, nhưng các hình thức chính quyền khác mà nhân loại đã từng nghĩ ra và thử nghiệm còn tồi tệ hơn nhiều”.

Một xã hội văn minh, một xã hội phát triển ở trình độ cao là một xã hội mà người dân trong đó tuyệt đại đa số là những người luôn túc trực ý thức phản-biện. Những công-dân-phản-biện. Và cái nhà nước của xã hội ấy, cũng luôn tự giác, tạo điều kiện tối đa cho họ phản biện

Đây là những công dân lý tưởng cho những xã hội dân chủ, văn minh; nhưng lại là tai họa cho những thể chế độc tài.

Chính chàng lùn người Đức gốc Áo, Adolf Hitler phải hoan hỉ nhận xét: “Thật may phước cho nhà cầm quyền nào có người dân không biết suy nghĩ!”

Vậy mà đau đớn thay, chỉ gần đâu đây thôi, người ta tỉnh bơ ra một thông tư hay sắc lệnh gì đó “cấm phản biện” (2). “Người ta” ở đây chính là chính quyền nước Việt Nam “giầu đẹp” của chúng ta chứ không phải những bộ tộc săm trổ đầy mình, vẽ mặt, cởi truồng sống trong rừng sâu Amazon

Ấy vậy mà có một vị giáo sư “quốc doanh” hùng hồn tuyên bố (ông Tô Duy Hợp), rằng một nhà nước mạnh, tự tin, “nắm chánh nghĩa sáng ngời” (3) thì không có lí do gì e ngại đối thoại với mọi tầng lớp nhân nhân, kể cả tầng lớp ưu tú nhất, và kể cả những ý kiến trái chiều.

Ta nghĩ về lời phát biểu của ngài giáo sư, rồi liên hệ sang cái thông tư nghị định tươi roi rói giẫy đành đạch mà không khỏi băn khoăn. Và thật khó để không đặt câu hỏi: logic là ở đâu?

Đến cách thức suy nghĩ về chính trị của một nhà văn lớn còn đơn sơ như vậy, trách gì trên vầng trán ngắn của hơn tám mươi sáu triệu dân Việt ta hằn sâu hai chữ “Latin”: Le NoLe.

Có lẽ chẳng còn là quá sớm khi mà một nhóm hay một vài nhóm, mà tốt hơn là thật nhiều nhóm elite, celeb cần dừng lại, tách ra khỏi bầy đàn, suy nghĩ, đặt câu hỏi, như là ta đang đi về đâu, phía trước kia có gì mà ta đi về đó …v.v. Vậy là chúng ta đã tập tành phản biện đi (hay gọi là cãi giả cho dễ hiểu, nhỉ?), là vừa, nếu không nói là đã quá muộn. Còn lại tám sáu triệu dân, gồm tôi, anh, chị, ông, bà, tất tật cũng nên đã tới lúc đừng lầm lũi bước đi nữa, mà cần ngừng lại một giây, một phút và tự vấn, ta đã thật sự phải con người, ta đã thật sự được sống một chút nào với những phẩm chất cao đẹp cũa con người mà Đấng tối cao ban tặng cho chúng ta chưa? Và cái dấu bằng tiếng “Latin”: Le Nole trên trán chúng ta, thực chất có ý nghĩa gì?

Chúng ta có nên dùng công nghệ lade để vứt bỏ nó đi chưa? Có cần phải nghĩ rằng, phải “quán triệt sâu sắc” rằng, mình là người, mà đời sống con người phải gắn liền với chính trị! Chúng ta không lật đổ ai, chúng ta không xách động bạo loạn, chúng ta không chém giết tranh giành, chúng ta phản đối và ghê tởm chiến tranh, nhưng chúng ta nhất quyết vứt bỏ dấu ấn trên trán chúng ta, bằng mọi giá. Làm được điều đó, chúng ta là những con người tự do đích thực. Nhưng lại cần nói ngược lên một chút, rằng chúng ta đã thực sự có nhu cầu vứt bỏ dấu ấn ấy chưa?

Tự do nhất định sẽ đến, nếu chúng ta có nhu cầu, chúng ta khao khát nó.

Chúng ta phản biện nhà nước là chúng ta hoàn thiện cho chính chúng ta, và hơn hết, chúng ta là những con người đầy trách nhiệm và đầy lòng yêu nước. Những luận điệu mà nhà cầm quyền lâu nay tuyên truyền, nhồi sọ cho chúng ta, như Đảng thiên tài sáng suốt, mọi việc đã có Đảng, chống Đảng, chống chủ nghĩa Mark, chống XHCN là phản động vân vân và vân vân, không thể nói khác hơn, đó là những luận điệu tuyên truyền, lòe bịp, mị dân. Vậy mà đau đớn thay, tám mươi sáu triệu dân ta, phần lớn vẫn còn tin vào điều đó. Chính vì vậy, ta cần những Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung …v.v hơn bao giờ hết. Chúng ta cần họ không phải cần những “minh chủ”, mà chúng ta cần họ, hy vọng vào tri thức, đức độ, tài năng của họ đánh thức được đám đông u tối vẫn đang lầm lũi bước di trên con đường vạch sẵn mà chưa một lần hỏi tại sao (chứ đừng nói chuyện đứng lại).

Yêu nước không phải là ngoan ngoãn nghe lời lãnh đạo. Trung thành với lãnh đạo - Quân xử thần tử thần bất tử bất trung - Yêu nước không phải là vote cho rừng Cúc Phương, Vịnh Hạ Long, cho người đẹp, hoa hậu trên mạng. Yêu nước không phải treo quốc kì trên Avatar mỗi dịp quốc khánh, yêu nước không phải quấn quốc kì vào người rồi nẹt pô chạy xe lạng lách hết tốc độ trên đường sau mỗi kì bóng đá.

Và, nếu yêu nước là như vậy, thì động từ “Yêu nước” là động từ đáng ghét nhất. Một hot blogger với nick name Bulldog (từ thời blog Yahoo360) từng viết một entry khá dài về tình yêu nước, trong đó có đoạn:

“…Động từ "yêu nước" sẽ thật đáng ghét khi người ta nhân danh nó, lợi dụng nó để biện minh, tuyên truyền cho những việc khuất tất không hề liên quan gì tới tình yêu nước.

Thật đáng ghét khi mồm hô yêu nước mà tay bòn rút của công!

Thật đáng khinh khi luôn cho rằng mình yêu nước hơn người khác, và những người có tư tưởng khác mình là không yêu nước.

Thật đáng ghê tởm và phỉ nhổ khi chém giết đồng loại nhân danh yêu nước”.

***
Một đảng viên đảng Cộng sản Đức, ông Rosa Luxemburg (1871-1919), ðã tuyên bố thế này: “Tự do, nếu dành riêng cho những ai ủng hộ chính phủ hay dành riêng cho đảng viên của một đảng – dù đảng ấy đông đảo đến mấy – thì ðó không phải là Tự do. Tự do luôn phải là Tự do của những người bất đồng chính kiến”. Trong trường hợp chúng ta ngày hôm nay, chúng ta coi “những người bất đồng chính kiến” của Rosa Luxemburg chính là những con người phản biện. Nói cho vuông vắn, nhanh nhẩu, đó chính là những người dân thường chúng ta – những thường dân biết nhận thức.

Một danh nhân sống vào thế kỉ 18, ngài Claude Audrien Helvétius (1715–1771) phán rằng: “Hạn chế tự do báo chí tức là lăng mạ toàn thể quốc dân. Cấm đoán những cuốn sách này nọ chẳng khác nào tuyên bố rằng nhân dân hoặc là ngu si hoặc chỉ là một bầy nô lệ”. Vâng, chúng ta đâu có hạn chế báo chí, chúng ta chỉ hạn chế tổng biên tập thôi (hơn 700 tờ báo chỉ với 1 tổng biên tập) Còn việc cấm cuốn sách này, ngãn cuốn sách kia thì rõ ràng, hiển nhiên là (nhà nước) chúng ta vô cùng chăm chỉ. Tại sao tới giờ này, đầu thế kỉ XXI rồi mà người dân Việt Nam vẫn bị lãng mạ, vẫn bị coi là một bầy nô lệ? Chao ôi! Ðau đớn thay!

Vậy là không còn nghi ngờ gì, nếu không thay đổi ngay, đứng ra khỏi hàng và suy nghĩ ngay mà vẫn cặm cụi ở cái lề bên phải (dù biết nhưng sợ, hay hoàn toàn không biết) thì ý nghĩa của dòng chữ “Latin” trên trán tám mươi sáu triệu đồng bào: Le Nole! Vẫn mờ mờ nhân ảnh.

Và nếu chúng ta đồng lòng đi sang lề trái, đi ra giữa đường, đi bất kể đâu chúng ta muốn, coi cái lề phải chỉ là cái đinh mục, miễn là tách khỏi hàng và đi tứ tung, vừa đi vừa suy nghĩ với niềm hân hoan thơ thới cực độ. Làm được như vậy, chúng ta sẽ khá lên rất nhanh. Và quan trong hơn, trong cõi đời ngắn ngủi này, chúng ta sẽ thực sự được làm người. Và đương nhiên, dòng chữ “Latin” cổ kia sẽ tự nhiên biến mất mà không cần nhờ tới công nghệ lade.

Phần 2

© Đàn Chim Việt Online

Ghi chú:

[1] Trích truyện ngắn Những bài học nông thôn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp - trích theo trí nhớ nên có thể chỉ chính xác tới 95% về câu chữ. Nhưng chắc chắn đúng 100 % về ý tứ.
[2] Dân Luận
[3] Lời ông Nguyễn Minh Triết nhân dịp thành lập 50 năm ngành ngoại giao VN

วันจันทร์ที่ 24 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No448:Câu chuyện thời sự: Ai tự thú vậy? Ai cần xin ân xá?

Gần đây công an và tuyên giáo Hà Nội bày ra trò các nhà dân chủ bị bắt vào tù lần lượt xuất hiện trên vô tuyến truyền hình và trên báo của nhà nước, với những lời thú tội theo như ý muốn của họ là: đã hoạt động chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chế độ hiện hành, vi phạm pháp luật, do non nớt, dại dột, bị lôi kéo, nay hối cải, xin được khoan hồng và ân xá để trở thành công dân tốt(!), người lương thiện(!). Họ đều đọc như máy, nói như vẹt !

Đây là trò hề rất cũ, đã được thi thố quá nhiều, bị thất bại nặng nề, nhưng trong bế tắc họ vẫn cứ đưa ra dùng, vì nhân dân ta vẫn còn có người lầm lẫn.

Họ học ở đâu? Công an cộng sản, tuyên giáo cộng sản học từ nguồn phát xít Hitle, với những mưu thâm của Gơben, tuyên truyền lắp đi lắp lại mãi gây vết hằn sâu trong não, điều giả dối nhất rồi cũng thành y như thật.

Họ học chủ yếu là ở đâu những thủ thuật ma giáo ấy? Ngay từ năm 1950, từng đoàn cán bộ công an và tuyên giáo nô nức sang Nga sang Tàu, theo dõi các trại cải tạo, các lớp chỉnh huấn, các cuộc đấu tố "phản cách mạng", thụ huấn trong các trường, lớp cao cấp, trung cấp, tiếp thu tận gốc những lý luận của các tổ sư Béria và Khang Sinh trong cái nghề đàn áp và khủng bố nhân dân, với những kho kinh nghiệm được tổng kết chuyên sâu và còn cho thực hành thử nghiệm.

Cái nghề an ninh và tuyên giáo cộng sản chính hiệu có thể tổng kết trong các thủ thuật - đánh vào cuộc sống. Từ đơn giản. Không cho uống nước, không cho ăn, không cho nằm (đứng suốt ngày), không cho đi lại (phòng quá chật), không cho ánh sáng, hoặc quá nhiều ánh sáng (đèn pha cực mạnh chiếu vào gáy) ...

- Tùy từng tính cách cá nhân đối tượng mà lập phương án tấn công: Yêu vợ con mong tin vợ con (phao tin nhảm, vợ ngoại tình, con hư hỏng, bố mẹ ốm nặng ...) để gây lo nghĩ, hoang mang; tuỳ sở thích cá nhân, ưa thuốc lá gì (Cotab hay Philip Morris hay thuốc lào) ; rượu gì (Cognac hay bia, hay rượu đế) để mua chuộc, "khuyến khích" khi cần;

- Tuỳ tính tình mà đánh vào chỗ yếu - như ưa xu nịnh, ưa danh vọng, ưa hưởng lạc, tiền bạc, so sánh người này với người khác, khơi dậy những suy tính, kèn cựa nhỏ nhen ...

- Giăng bẫy, như trong chỉnh huấn cán bộ cao cấp, họ đưa ra vài anh được bồi dưỡng kỹ rồi đưa lên báo cáo điển hình ( kể lể lu bù : con địa chủ, ăn chơi trác táng từ nhỏ, tàn ác với người ở, lừa thày phản bạn, dâm ô hủ hóa, kèn cựa địa vị, cầu an bảo mạng, mỗi tội đều có tình tiết giật gân như trong tiểu thuyết, trong phim ảnh, hay như bản nhận tội với cha cố; cuối cùng bao giờ cũng khóc, khóc nấc lên, cả hội trường cùng sụt sùi; và kết luận : tôi là đồ rác rưởi trong xã hội, đồ sâu bọ, đồ bỏ đi, đồ ăn hại, đồ phản động, đáng tội chết, may nhờ có đảng giang tay ra cứu, tôi đội ơn suốt đời và tự nguyện lập công chuộc tội ....)

- Cho đi tàu bay giấy : để tác động đến mọi người, ban chỉ đạo chỉnh huấn, cải tạo liền ca ngợi, biểu dương, tâng bốc những điển hình trên là : cải tạo rất tốt, gương mẫu trong phản tỉnh, thành khẩn để tự chiến thắng, thắng lợi quyết định trong cả cuộc đời, rồi ca ngợi là "Chân Anh hùng" - anh hùng chân chính, không phải ngụy-anh hùng (!), "Chân Quân tử", thế mới là đảng viên CS chân chính, tin ở đảng vĩ đại (!), tin ở các lãnh tụ Mác, Lênin, Staline, Mao, Hồ ...Thế rồi họ được tặng "ảnh Bác", được "Bác" gửi lời ban khen, được quàng vòng hoa, được mời lên ngồi ghế danh dự!

Thế là cả lớp học lên đồng tập thể, tự "vỗ ngực đôm đốp", cố lập công về "phản tỉnh", cố đạt kỷ lục về "thành khẩn". Không có cũng cố nghĩ ra, tưởng tượng ra, sáng tạo ra tội giật gân nhất, thường là tội về "hủ hoá": tán tỉnh cô này, sờ vú cô nọ, rủ gái nông thôn ra bãi dâu, bên đụn rạ; có khi còn ly kỳ hóa phịa ra ý định đầu hàng địch, bỏ ngũ để vào địch hậu, nói xấu lãnh đạo và lãnh tụ...

Tôi còn nhớ hồi 1953-1954, trong quân khu V giải ra quân khu IV ở Vinh viên tư lệnh phó quân khu cấp tướng; ông ta là trí thức, trong chỉnh huấn, trót tự đấm ngực để cố tỏ ra thành khẩn, tự khai có "ý tưởng"(!) đem một số quân vào vùng địch đầu hàng. Chỉnh huấn xong, ông ta bị an ninh và bảo vệ đảng tra hỏi, tra tấn cực hình, không khai nổi vì chuyện thật ra không hề có, thế là cứ thế mà ngồi tù không án, chết rụi trong một xó xỉnh nào không ai hay! Chuyện có thật 100%.

Cái trò hề tự thú và xin ân xá mới đây vẫn là chung một nguồn trăm nghìn trò hề đã diễn ra, từ an ninh và tuyên giáo cộng sản, chỉ khác là khi đảng CS đã suy tàn, hết linh thiêng, từ gốc gác, cội nguồn, từ "thuỷ tổ" đến các "thần linh" và lãnh tụ thảm hại tuốt luốt của họ. Lẽ ra phải xếp những trò hề ấy vào chỗ kín.

Thời buổi văn minh hiện tại, khi minh bạch công khai trở thành nếp sống của mọi công dân lương thiện và chính quyền lương thiện, cuộc tự thú và xin khoan hồng chỉ có giá trị khi các đương sự được hoàn toàn tự do và tự chủ - không có bất cứ một sức ép nào - tuyên bố công khai trước đại biểu chính quyền, trước đại biểu gia đình, bạn bè, trước các nhà báo (báo nói, báo viết, báo ảnh ...) trong và ngoài nước. Chỉ khi ấy mỗi lời tự thú và xin khoan hồng nếu có mới có giá trị hoàn toàn.

Việc xử án cũng vậy. Nhất thiết phải công khai, minh bạch, có đại biểu nhân dân, gia đình, các nhà báo trong và ngoài nước, có luật sư biện hộ, cho các đương sự phát biểu hết ý kiến, như ở mọi phiên toà bình thường ở mọi nước dân chủ. Hãy chờ xem. Họ chúa sợ ánh sáng của công khai, sự thật.

Các cuộc tự thú và xin ân xá tiền chế rất dơ dáng và lạc lõng vừa qua xin trả lại để cho vào kho tàng tội ác của chủ nghĩa CS hiện thực đang bị cả loài người văn minh lên án.

Nó chỉ có ý nghĩa duy nhất là sự tự thú trên thực tế của một chính quyền cộng sản toàn trị lạc lõng đã "quá đát ", đã thuộc về dĩ vãng của loài người , nhưng vẫn còn cố tồn tại như một thách thức láo xược với lương tri và lẽ phải.

Lẽ ra chính quyền toàn trị tệ hại phải tỏ lời ăn năn hối cải rồi xin ân xá với nhân dân, với lịch sử, với tiền nhân, với các nhà dân chủ ... về vô vàn đau khổ, mất mát, bất công họ đã gây ra! Chỉ có vậy mới là công bằng, là đúng đắn, là tối ư cần thiết và cấp bách!

Paris, 24-8-2009

วันอาทิตย์ที่ 23 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No447: Bức Tường Berlin

http://www.blogosin.org/?p=993

August 23 2009



Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.



Huy Đức

วันเสาร์ที่ 22 สิงหาคม พ.ศ. 2552

Np445: Bài phát biểu của một du sinh trong lễ hiệp thông cầu nguyện cho giáo xứ Tam Tòa tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ

Là một người sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, được nuôi dạy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, trong suốt mười chín năm đó, tôi không hề biết đến những bất công, đàn áp ở Việt Nam mà trong lòng luôn tin rằng mình sống trong một đất nước tôn trọng tự do nhân quyền như những điều luật trong hiến pháp Việt Nam. Đó cũng chính là những điều tôi được dạy dỗ trong suốt mười hai năm cắp sách đến trường.

Khi đặt chân đến đất Mỹ và lần đầu tiên được nghe nói đến những bất công, bạo quyền ở Việt Nam, việc Việt Nam đã và đang đàn áp tôn giáo và tước đoạt tự do nhân quyền, tôi đã chuyển từ bất ngờ, kinh ngạc sang căm phẫn và chợt sực tỉnh nhận ra rằng cái chế độ tôi luôn tưởng rằng hòa bình, êm ấm bấy lâu nay chỉ là cái vỏ bọc không hơn không kém của sự dối trá mà nhà nước đã tạo ra. Những sự thật khủng khiếp luôn luôn được che đậy và bóp méo một cách tài tình để phần phải luôn luôn thuộc về những kẻ làm luật và thi hành luật còn phần lỗi luôn thuộc về những người dân vô tội, những con người thấp cổ bé họng mang trong mình khát vọng tìm lại tự do và công lý.

Một điều đáng buồn là ở Việt Nam, chỉ có những người trực tiếp bị đàn áp mới hiểu được những áp bức, bất công; còn những người dân khác thì làm sao có thể biết được sự thật một trăm phần trăm khi mà những thông tin được tung lên các phương tiện thông tin đại chúng đã bị bóp méo đề phục vụ cho lợi ích của nhà nước Việt Nam và cũng là để tránh kích động lòng dân. Đơn cử là việc vừa xảy ra tại giáo xứ Tam Tòa. Mọi thông tin được đưa ra về giáo xứ Tam Tòa đã bị bóp méo một cách trắng trợn. Những cha, những sơ, những con người đang ra sức bảo vệ giáo xứ, bảo vệ những giáo dân và phần hồn linh thiêng của mình lại trở thành những kẻ phản nghịch trên mặt báo Việt Nam.

Khi theo dõi tin tức của giáo xứ Tam Tòa, nếu việc các cha và những người giáo dân lương thiện bị đàn áp khiến tôi phẫn nộ thì có một sự việc khiến tôi đau xót vô cùng. Đó là việc một cô bé mười mấy tuổi mặc áo trắng đi học về bị một lũ công an đội lốt côn đồ không chỉ đánh đập em bầm tím mà còn trấn lột điện thọai của em vì nhầm tưởng rằng em là một trong những người đi lễ. Đã từ lúc nào việc một người dân đi lễ lại trở thành một cái tội? Đã từ lúc nào một người dân tỏ lòng thành kính tín ngưỡng của mình lại trở thành một kẻ tội phạm để đến nỗi bị đánh đập dã man? Đó không phải những gì được nêu ra trong hiến pháp Việt Nam vì Việt Nam luôn tự nhận rằng mình là một đất nước tôn trọng dân chủ và nhân quyền. Những sự thật kinh khủng đó khó có thể đến được hết với tất cả những người dân đang sinh sống ở Việt Nam.

Trong sự áp bức đó, những người dân ở Tam Toà đang cùng nhau hợp sức đấu tranh. Và chúng ta, những con người đang sống trong một đất nước tự do, không bị bó buộc bởi những đạo luật phi lý như ở Việt Nam phải cùng nhau làm một cái gì đó để cất tiếng nói, giành lại công bằng và chân lý cho đồng bào mình ở Việt Nam đang bị tước đoạt quyền sống của một con người theo đúng nghĩa. Tôi hy vọng rằng những ngọn nến chúng ta thắp lên hôm nay sẽ thắp sáng cho con đường đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền cho những người dân ở Tam Toà nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung.

Ngoc Lan

I was born and raised under a communist regime in Vietnam for 19 years before I came here. What was related to me about the communist system which I was taught in school was completely different from what really happened in my hometown. In my mind, I never thought that the Vietnamese government restricted freedom of expression, association and religious practice because these are stated in the Vietnamese law. 4 years ago, when I heard about human right, freedom in speech, religion, I did not know those problems were happening inside of Vietnam. What I have learned does not paint a clear picture about what happened to my beautiful land until I came to America, where I had a chance to have the appropriate view about the Vietnamese society. It was the first time I had known the battlefield between the Vietnamese government and the people who were fighting for their freedom of religion. I was really disappointed knowing that freedom of religion and human right, the right for people to live as human beings does not exist in Vietnam. And I was really disappointed finding out that the Vietnamese government has been distorting the facts in the newspapers and TV channels so that millions of people in Vietnam do not know what really happen in their country.

The battlefield in Tam Toa was again the land dispute between Tam Toa parish versus the local government. And yes, this happens again after what happened in Thai Ha, Ha Noi last year. The Catholics in Tam Toa were accused and charged for having erected a tent to use as a chapel in front of the ruins of Tam Toa church. Despite the violent attacks of the government, thousands of Catholics in Tam Toa have assembled to pray and urge for their rights making this protest one of the largest ones that the Vietnamese Communist government has had to confront. However, the government has not listened to them. On the other hand, they repeatedly harassed silence protestors by using great mass of police, security forces, and even street gang members. As a result, many of our students, religious demonstrators in Vietnam are imprisoned. My heart was broken hearing the fact that a Vietnamese high school girl in Tam Toa, on the way home after school, was harassed and beaten by the Vietnamese police because they thought she was going to a Catholic mass. Why does going to a Catholic mass become a criminal offense? How come a person who has a religious belief is punished by the government? How can Vietnam while trying by all means to be recognized by the world as a civilized, democratic country, be at the same time denying our basic Human Rights to practice our religion and to own our home and our land?

I hope that together tonight we can light up the candles for Human Right and Religious Freedom for Vietnam as freedom of expression, association and religious practice continued to be restricted by the authorities. We would like to extend our greatest support to thousands of people in Vietnam who are fighting for Human Right and Religious Freedom. Our hope is to enhance your understanding about the current situation in Vietnam so that you can carry on the torch of freedom of speech and the right to own our homes and property in Vietnam where no one is allowed to report any governmental abuse of power and of its people. . The candles that together we are lighting up tonight are also lighting up our hope that will never die about the better future of Vietnam so that our people will not have to live in fear and be able to stand up to fight against injustice in the Communist regime.

No444:Lời Chức Mừng Của Một Thường Dân

Báo Dân Trí, số ra ngày 20 tháng 8 năm 2009, đi tin:

“Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Phương Nga làm người phát ngôn mới của cơ quan này, thay thế cho ông Lê Dũng, được luân chuyển công tác khác. Bà Nguyễn Phương Nga, sinh năm 1963, đã từng theo học ngành báo chí quốc tế tại Nga từ năm 1982-1987. Bà về công tác tại Bộ Ngoại giao từ đầu năm 1989 và hiện giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao.”

“Tại cuộc họp báo với tư cách là người phát ngôn của bộ Ngoại giao Việt Nam vào chiều ngày hôm nay 20/8, bà Nguyễn Phương Nga hi vọng nhận được sự ủng hộ, hợp tác của các cơ quan báo chí Việt Nam, các hãng thông tấn nước ngoài tại Việt Nam và các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam như đối với người tiền nhiệm của bà.”

Tôi thực vô cùng lấy làm tiếc là sẽ không có cơ hội để “ủng hộ” hay “hợp tác” với người phát ngôn mới của bộ Ngoại giao Việt Nam, như bà Nguyễn Phương Nga hy vọng. Lý do (giản dị) chỉ vì tôi không phải là một thành viên của các cơ quan báo hay các hãng thông tấn trong và ngoài Việt Nam. Tôi cũng không làm việc cho bất cứ cơ quan đại diện ngoại giao nào ráo.

Với tư cách là một công dân lão hạng, một người lớn tuổi hơn bà Nga và đã chứng kiến cung cách làm việc của những vị phát ngôn viên tiền nhiệm, tôi cũng xin được gửi lời chúc mừng bà Nga ở chức vụ mới. Và nhân dịp này cũng xin mạn phép được chia sẻ với bà vài câu chuyện (nhỏ) có liên quan đến công tác mà bà sắp đảm đương, vào những ngày tháng tới.

Tôi nghe kể lại là bà Phan Thúy Thanh, khi còn tại chức, nuôi một con két tuyệt đẹp và nói rất sõi. Có hôm, chả may, nó xổ lồng bay mất. Bà ấy nhờ báo đăng tin để tìm lại con vật qúi. Báo chưa in xong, đã thấy có người đến gõ cửa.

Hỏi: Sao anh biết là con vẹt này của tôi.

Đáp: Nó chối leo lẻo suốt ngày nên nhà cháu biết ngay là của bà chứ còn ai vào đây nữa.

Sau đó bà Phan Thúy Thanh rao bán con két để lấy tiền tiêu, bù vào số lương hưu hơi (bị) thấp. Có người mua được, thích lắm, hí hửng mang về giao ngay cho vợ rồi tiếp tục đi làm. Chiều về, đương sự hấp tấp hỏi ngay:

- Con két mua ban sáng đâu rồi.

- Ở trong lò chứ đâu.

- Ối Giời, con két mua cả ngàn đô la mà đem nướng à.

- Vẹt gì mà giá cả ngàn đô?

- Nó nói sõi lắm, và nói được mấy thứ tiếng cơ đấy.

- Thế mà ban nẫy gạn hỏi mãi nó vẫn cứ chối đây đẩy nên ai mà biết!

Dù con con két đã lìa đời và bà Thanh đã hết thời nhưng truyền thống nói dối và chối thì vẫn được kế tục bởi người kế nhiệm. Ngay sau khi nhận chức, khi bị chất vấn con số thương vong của người Thượng tại Tây Nguyên – sau cuộc nổi dậy, vào hôm Lễ Phục Sinh 10 tháng 4 năm 2004 – ông Lê Dũng, Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCNVN đã nói rằng:

“Hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”

Theo truyền thống ở ta, cứ “cực lực bác bỏ” – nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt – như thế là kể như … xong chuyện, và hết chuyện. Khỏi phải nói nhiều.

Riêng chuyện đổ máu ở Tây Nguyên (hồi đó) ngó bộ khó xong. Bởi vậy, mấy bữa sau, ông Phạm Thế Duyệt – Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc – trong một cuộc phỏng vấn dành cho vietnamnet.vn (vào ngày 17 tháng 4 năm 2004) đành phải nhận rằng:

“Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau” thôi. Ít xịt hà!

Ý Yàng ơi, coi kìa: Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, lũ lượt kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang, rồi “ném đá vào nhau” và ” ẩu đả lẫn nhau” cho … tới chết luôn – vậy cà? Nói (đại) như vậy mà nói được sao? Thằng chả, rõ ràng, nói láo!

Con két của bà Thanh đã lìa đời. Bà ấy thì cũng đã hết thời. Ông Phạm Thế Duyệt cũng như ông Lê Dũng cũng không còn tại vị. Kẻ phải đứng mũi chịu sào bây giờ chỉ có mỗi bà Nguyễn Phương Nga thôi. Trước cảnh “hoa lạc giữa rừng gươm,” tôi càng nghĩ lại càng ái ngại. Một lần nữa, ước mong bà Tân Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao gặp ít sự cố hơn, và nhiều may mắn hơn, trong những ngày tháng tới.

Thường Dân Tưởng Năng Tiến

วันจันทร์ที่ 17 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No438: Giới trí thức VN nói về quyết định ‘cấm phản biện’ của nhà nước

Tiến sĩ Nguyễn Quang A ở Hà Nội nói rằng Quyết định 97 của CSVN có thể gây nhiều thiệt hại cho công cuộc nghiên cứu khoa học .

“Ông Nguyễn Tấn Dũng bịt miệng cả nước!” Đó là một trong những lời chỉ trích của một số các nhà trí thức Việt Nam đối với một luật lệ mà chính phủ ở Hà Nội ban hành hồi gần đây nhằm hạn chế việc công bố ý kiến phản biện của các nhà nghiên cứu. Tiến sĩ Nguyễn Quang A của Viện Nghiên cứu Phát triển ở Hà Nội nói rằng Quyết định 97 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể gây nhiều thiệt hại cho công cuộc nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Trong khi đó, giáo sư Đoàn Viết Hoạt của Viện Quốc tế cho Việt Nam ở Virginia cho rằng hành động này nêu bật sự bảo thủ, trì trệ của giới lãnh đạo ở Hà Nội trong lúc đất nước ngày càng phát triển và hội nhập nhiều hơn với thế giới bên ngoài. Mời quí vị theo dõi thêm một số chi tiết về việc này trong tiết mục Nhìn Về Á Châu với Duy Ái sau đây.

Hôm thứ hai (ngày 10 tháng 8), tờ Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, ấn bản trên mạng, đã cho đăng một bài viết với tựa đề “Tổ chức khoa học công nghệ tư nhân: Phản biện phải đúng địa chỉ.” Bài viết này nhằm trình bày về Quyết định số 97 mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ngày 24 tháng 7 và sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15 tháng 9. Theo luật mới này, cá nhân chỉ được thành lập tổ chức nghiên cứu khoa học trong các lãnh vực mà chính phủ cho phép; và các nhà khoa học khi có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước thì phải gởi ý kiến đó cho cơ quan đảng và nhà nước mà không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.

Luật mới này đã nhanh chóng bị nhiều người lên tiếng chỉ trích. Ngay trong ngày bài báo vừa kể được đăng tải, một website qui tụ các chuyên gia kinh tế học Việt Nam, có tên VnEconomist.net, đã đăng tải ý kiến phản đối của một blogger, trong đó nói rằng “việc cho phép phản biện nhưng cấm công bố cũng tương tự như cho phép suy nghĩ nhưng cấm nói ra.” Blogger này nói thêm rằng “nó cũng trái với điều 69 Hiến pháp năm 1992: ‘Công dân có quyền tự do ngôn luận’.”

Một ngày sau đó, nhà bình luận Ngô Nhân Dụng của nhật báo Người Việt ở California cũng đã cho đăng một bài viết chỉ trích điều mà ông gọi là “Ông Nguyễn Tấn Dũng bịt miệng cả nước.” Bài viết có đoạn nói rằng “Cái ông thủ tướng tự xưng mình là người yêu sự thật ra lệnh cho dân rằng ai muốn ‘góp ý kiến với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước’ thì phải đưa ý kiến của họ cho ‘các cơ quan có thẩm quyền’ mà thôi.”

Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà nghiên cứu ở Hà Nội, cho rằng quyết định đó của ông Nguyễn Tấn Dũng không thể có hiệu lực. Ông cho biết như sau trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho đài VOA.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói: “Bản thân cái Quyết định 97 này nó có nhiều điểm sai phạm về luật pháp. Cái thứ nhất là trình tự xây dựng và ban hành của nó vi phạm Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật, vừa bắt đầu có hiệu lực từ ngày mồng một tháng giêng năm 2009. Theo luật đó, những văn bản như là quyết định của thủ tướng này phải đưa ra công khai toàn văn ít nhất 60 ngày trước khi ký để các tổ chức và các cá nhân tham gia góp ý. Điều đó đã không được thực hiện. Thế thì về mặt thủ tục quyết định này vi phạm luật, nên tôi nghĩ rằng nó không thể có hiệu lực.”

Ông Nguyễn Quang A là người đứng đầu một tổ chức nghiên cứu tư nhân có tên là Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, qui tụ nhiều khuôn mặt trí thức nổi tiếng ở Việt Nam như Phan Đình Diệu, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Tương Lai, Phan Huy Lê, Phạm Chi Lan, và Nguyễn Trung. Ông Nguyễn Quang A cho rằng Quyết định 97 có thể gây trở ngại rất nhiều cho công cuộc nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, trong lúc giới lãnh đạo ở Hà Nội đã nhiều lần nói tới ý định xây dựng một nền kinh tế tri thức.

Ông Nguyễn Quang A nói tiếp: “Về nội dung thì nó có rất nhiều điểm trái với nhiều luật. Như cái điểm mà ông nói, là phản biện chỉ được nói cho cơ quan, thì tôi nghĩ nó còn trái với cả hiến pháp hiện hành của đất nước Việt Nam. Ngoài ra nó còn có nhiều điểm khác. Thí dụ như việc liệt kê một danh sách các lãnh vực để cho người ta chỉ được làm theo những cái đó. Tôi nghĩ rằng đấy là vi phạm rất nặng quyền tự do nghiên cứu của các nhà khoa học. Khoa học rất mênh mông và biến đổi rất nhanh. Sự phát triển của nó cần phải như thế. Không thể khoanh lại là chỉ được làm mấy trăm cái lãnh vực mà người ta nghĩ như thế. Khoa học bây giờ nó liên ngành, nó kết nối với nhau các lãnh vực, các ranh giới cũng hòa quyện với nhau thì làm sao có thể đưa ra danh mục như thế. Mà đưa ra danh mục như thế có nghĩa là cấm tất cả các thứ khác còn lại. Mà như thế sẽ cản trở rất nhiều cho sự phát triển của khoa học của đất nước này.”

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt là một nhà hoạt động dân chủ kỳ cựu của Việt Nam đang sống lưu vong ở Mỹ. Ông cho biết ý kiến như sau về quyết định “cấm phản biện công khai” của chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội.

doan_viet_hoat_210Giáo sư Ðoàn Viết Hoạt, nhà hoạt động dân chủ Việt Nam đang sống lưu vong ở Hoa Kỳ

Giáo sư Ðoàn Viết Hoạt nhận định: “Theo tôi thì đây, một lần nữa, cho thấy rõ cái mâu thuẫn nội tại của chế độ và nhà nước hiện nay ở Việt Nam. Vì, nếu nói theo từ ngữ của chính Marx, thì chế độ và nhà nước hiện nay ở Việt Nam đang phải đối diện với cái mà ông Marx gọi là sự khốn cùng của chế độ. Trước đây thì có thể đối phó với ngoại địch vì huy động được sức mạnh của toàn dân, nhưng ngày nay ngoại địch từ phương Bắc chính là chỗ dựa của chế độ. Còn ở trong nước thì nói tới phản biện. Nhưng mà phản biện chân chính thì phải giữ được độc lập với đảng và nhà nước, nếu không thì chỉ là phản biện giả. Cho phép phản biện, nhưng nếu phản biện một cách trung thực thì một mặt thách thức uy tín và sự lãnh đạo của đảng và nhà nước, và mặt khác, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trí thức, mạnh dạn đối chất với nhà nước, nếu chưa dám đối lập thật sự.”

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng việc ông Nguyễn Tấn Dũng ra Quyết định 97 để trói tự do phản biện lại thì ông càng làm cho người dân thấy rõ sự bất nhất của người cầm quyền.

Ông nói thêm: “Mỗi một lần như thế thì lại làm hao mòn thêm cái vị thế đường đường chính chính của người cầm quyền và mất đi tính chính nghĩa và chính thống của chế độ. Vừa mở ra lại phải dùng bạo lực để trói lại, dù đó là bạo lực mềm tức là qua các quyết định hay bạo lực cứng tức là qua sự đàn áp và bắt bớ. Nhưng cơ chế hiện nay bị khốn cùng vì sự mâu thuẫn căn bản nhất chính là mâu thuẫn giữa xã hội, người dân với Đảng và Nhà nước. Theo tôi nghĩ, người dân đã được cởi trói về kinh tế thương mại, đất nước đã được mở rộng ra với thế giới bên ngoài, giúp cho người dân có thêm thông tin, hiểu biết, và từ đó họ đòi hỏi thêm tự do trong các lãnh vực thông tin, giáo dục, và hoạt động xã hội cũng như chính trị. Dân thì càng ngày trẻ hơn và tiến bộ hơn, xã hội ngày càng phát triển hơn, đất nước ngày càng được mở rộng hơn ra với thế giới; nhưng mà chế độ, cơ chế lãnh đạo cũng như nhà nước vẫn trì trệ, bảo thủ. Biện pháp trói lại phản biện là một minh chứng cho thấy cái mâu thuẫn căn bản này. Nhưng nguy cơ lớn nhất của mâu thuẫn này, theo tôi, là đất nước và dân tộc không có được sức mạnh thống nhất để đối phó với hiểm họa mất nước từ ngoại địch phương Bắc.”

VOA

No437: Văn phòng Chính phủ bị “định hướng” thông tin?


Trước nay tưởng chỉ có báo chí được nhắc nhở về chuyện định hướng thông tin, ai dè vừa phát hiện cơ quan tham mưu của Thủ tướng cũng bị “định hướng”, cố ý làm sai lệch ý kiến chỉ đạo khi phát hành thông tin ra bên ngoài. Vụ này vở lỡ khi ở cuộc họp báo thường kỳ chiều qua, Phó tổng Thanh tra Chính phủ Mai Quốc Bình cho biết, Văn phòng Chính phủ có thông báo kết luận (số 222) của Thủ tướng xung quanh những sai phạm tại Vinaconex. Tuy nhiên, thông báo này lại thiếu một số nội dung đã được Thủ tướng kết luận trước đó.


Theo ông Phạm Văn Khanh, Vụ trưởng Vụ 1, Thanh tra Chính phủ, có ba nội dung liên quan đến sai phạm tại Vinaconex đã được Thủ tướng kết luận nhưng chưa được đưa vào thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng (số 222) của Văn phòng Chính phủ.

Cụ thể, các nội dung còn thiếu gồm: thứ nhất, Thanh tra Chính phủ bàn giao hồ sơ tài liệu có liên quan đến những sai phạm tại khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính (Hà Nội) theo đề nghị của C37- Bộ Công an để xử lý theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, Thanh tra Chính phủ kiến nghị kiểm điểm, xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có vi phạm (kể cả những người đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác) và đã được Thủ tướng kết luận. Theo đó, các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Vinaconex, Giám đốc Ban quản lý dự án Khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính có khuyết điểm nêu trong kết luận thanh tra phải bị kiểm điểm, xử lý nghiêm. Thanh tra Chính phủ cho rằng, việc không đưa nội dung trên trong thông báo số 222 là “chưa đúng với quy trình xử lý sau thanh thanh tra và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ”.

Thứ ba, Thanh tra Chính phủ đề nghị bàn giao cho UBND thành phố Hà Nội diện tích 12.996 m2 tầng 1 các tòa nhà chung cư cao tầng, nhà văn phòng, cửa hàng tại khu Trung Hòa – Nhân Chính để sử dụng vào mục đích công cộng (đã được Vinaconex bán không qua hình thức đấu giá để thu hơn 230 tỷ đồng).

“Mặc dù Vinaconex đã bán hết số diện tích trên nhưng phải có biện pháp thu hồi lại”, Phó tổng Thanh tra Chính phủ Mai Quốc Bình nhấn mạnh.

Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị một số nội dung mà thông báo số 222 chưa đề cập hết ý kiến kết luận của Thủ tướng tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 17/7 và chưa rõ so với dự thảo thông báo của Thanh tra Chính phủ.

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu phải thu hồi các khoản tiền: giá trị cổ phần ưu đãi do 5 nhà đầu tư chiến lược hưởng không đúng (41,6 tỷ đồng), tiền lãi do sử dụng các khoản tiền chưa nộp (241 tỷ đồng), giá trị quyền phát triển dự án Khu đô thị Bắc An Khánh (192 tỷ đồng), giá trị quyền sử dụng đất diện tích thực hiện dự án Khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính (hơn 270 tỷ đồng).

Ngoài ra, nhiều khoản tiền sai phạm khác của Vinaconex cũng chưa được thông báo cụ thể tại văn bản số 222 như: 11,8 tỷ đồng cần phải thu hồi ở Nhà máy Bê tông dự ứng lực tại Đắk Lắk; 2,9 tỷ đồng do Công ty Cổ phần Xây dựng và Dịch vụ Vinaconex không thu của các cổ đông khác khi được Tổng công ty bù đắp các khoản lỗ; 3,3 tỷ đồng giá trị quyền sử dụng 513,4 m2 đất tại 53 Lạc Long Quân (Hà Nội)…

Theo Thanh tra Chính phủ, dự thảo thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ do cơ quan này trình Thủ tướng có đề nghị giao Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng thu hồi từng khoản trên về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước. Tuy nhiên, thông báo số 222 lại giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên – Môi trường, UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan đề xuất biện pháp xử lý trình lên Thủ tướng trong quý III/2009. Thông báo này cũng không nêu rõ số tiền phải xử lý…

Theo tìm hiểu của BL, sau khi văn bản 222 được phát hành, Thanh tra Chính phủ đã có hẳn 2 văn bản “kiện” lên Thủ tướng và bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc.

Báo chí đưa tin không đầy đủ làm bạn đọc hiểu sai bản chất sự việc thì bị xử lý nặng nề, nhưng tin của báo chí chả có ai bắt buộc phải thi hành. Còn văn bản công quyền bớt xén thông tin có thể khiến cá nhân này, nọ thoát tội hoặc khỏi phải móc túi trả dân hàng trăm tỷ đồng thì xử lý sao đây?
Nguồn: Bút Lông’s Blog

วันศุกร์ที่ 14 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No433: Bỏ lỡ cơ hội hay tránh được rắc rối?

Hồ Bất Khuất
11.08.2009

Vào khoảng cuối tháng 8 – 2004, sau khi ngồi quán bia hơi với bạn bè, tôi và anh Ngô Sỹ Hoài về văn phòng của Viện nghiên cứu Giáo dục quốc tế (ở phố Kim Mã) uống nước. Vừa cầm chén nước lên thì thấy một người đàn ông lịch lãm đi một chiếc xe máy màu trắng sang trọng đến. Người đó bước vào và hỏi:

- Có anh Hồ Bất Khuất ở đây không?

Tôi đứng lên nói:

- Tôi là Hồ Bất Khuất đây. Anh là ai? Có chuyện gì đấy?

Người đàn ông xưng tên là Căn, cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương. Anh cũng chìa thẻ có ảnh và tên của anh. Sau đó anh mới nhẹ nhàng nói:

- Tôi xuống đây vì công việc, cụ thể là vì bài báo này.

Người đàn ông đưa ra tờ báo Tuổi Trẻ số ra ngày Thứ 4, 04/08/2004 và nói:

- Trong này có một bài viết của anh. Tôi muốn hỏi anh đôi điều về bài báo này.

- Đúng là tôi có bài “Người sử dụng nhân tài phải có bản lĩnh” đăng ở đây (tôi xin đưa lại bài báo vào đây). Anh hỏi gì, tôi sẵn sàng trả lời.

- Trước hết anh giới thiệu đôi điều về bản thân mình!

- Họ và tên của tôi là Hồ Bất Khuất, như anh đã biết. Sau khi tốt nghiệp Đại học ở Nga về, tôi làm việc hơn 10 năm ở Tạp chí Cộng sản. Sau đó tôi lại đi học ở Nga, về làm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp. Sau đó lại sang Nga làm cộng tác viên khoa học. Nay là Viện trưởng Viện nghiên cứu Giáo dục quốc tế và viết báo.

- Anh có dám chắc tất cả những gì anh viết trong này là sự thật không?

- Tôi dám chắc như vậy. Thậm chí còn có thể nói thêm là báo Tuổi Trẻ đã biên tập, cắt bớt đi nên trong bài báo thiếu thông tin cụ thể. Bây giờ tôi có thể trả lời anh cụ thể hơn.

- Ví dụ, những chi tiết nào vậy?

- Trong bản thảo của mình, tôi viết: “Vậy mà một tháng sau anh nhận được lời từ chối với lý do: “Hình như trước đây có lần cậu tranh luận với anh Nguyễn Phú Trọng, một học sinh cũ của trường, nay là một cán bộ cao cấp?...”. Tôi viết rõ tên anh Trọng vì tôi đã từng làm việc 10 năm ở Tạp chí Cộng sản, quan hệ với anh Trọng bình thường. Cho đến bây giờ vẫn thế. Chắc là báo Tuổi Trẻ cẩn thận nên bỏ tên anh Nguyễn Phú Trọng đi.

- Anh đã viết như vậy thật à?

- Tôi đã viết như vậy. Hơn nữa, trước đó tôi còn gửi thư cho anh Đào Trọng Thi là Giám đốc Đại học Hà Nội, nói rõ vị giáo sư ấy là ai, chủ nhiệm khoa nào ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học quốc gia Hà Nội. Tôi không chỉ viết báo mà còn tham gia đào tạo nhà báo, vì vậy tôi bảo đảm và chịu trách nhiệm về những gì mình viết ra. Nếu anh cần biết tên vị giáo sư đó, tôi cũng có thể nói ngay bây giờ.

- Chưa cần đâu.

Nói rồi người đàn ông đó chìa cho chúng tôi (tôi, anh Ngô Sỹ Hoài và vài nhân viên của VNCGDQT) xem hai bức thư được viết tay khá nắn nót. Tôi đọc nhanh và nhớ nội dung đại ý như sau (có thể tôi nhớ không chính xác hoàn toàn).
Bức thư thứ nhất: “Kính gửi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Vừa rồi tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 04/08/2004 có bài viết của TS Hồ Bất Khuất. Bài viết này khiến tôi quan tâm. Tôi không biết Hồ Bất Khuất là ai, những điều được viết trong bài báo có chính xác hay không? Mong anh cho điều tra và thông báo để tôi được biết! Kính thư – Sáu Dân”.

Bức thư thư hai: “Gửi anh Trần Đình Hoan! Anh Sáu Dân có viết thư cho tôi và đề nghị tôi kiểm tra lại thông tin cũng như tác giả bài báo “Người sử dụng nhân tài phải có bản lĩnh” đăng trên báo Tuổi Trẻ. Mong anh cho người kiểm tra và báo cáo lại. Nông Đức Mạnh”.
Tôi ngạc nhiên một cách thú vị khi khi thấy tác giả của hai bức thư ngắn ngủi kia là những nhân vật vô cùng quan trọng! Tôi tự hỏi: “Không hiểu vì lý do gì mà những con người bận rộn bao việc lớn lao lại quan tâm tới bài báo của tôi?”. Anh Ngô Sỹ Hoài cho biết: “Ông Võ Văn Kiệt vẫn có thói quen đọc báo hàng ngày và có phản ứng tức thì nếu thấy cần thiết. Có lẽ ông ấy quan tâm tới những vấn đề anh đề cập đến bài báo”.

Người đàn ông tên Căn cũng xác nhận như vậy và hẹn mấy ngày nữa sẽ gọi tôi lên Văn phòng Tổng bí thư để gặp gỡ, trao đổi thêm. Tôi nhất trí, nhưng nói thêm:

- Nếu vậy các anh thu xếp nhanh nhanh lên vì sắp tới tôi đi công tác xa.

Chúng tôi trao đổi điện thoại cho nhau và hẹn gặp lại. Người đàn ông đó đi rồi, trong đầu tôi mới xuất hiện cái tên “Phan Thanh Nam ”. Tối 30/12/1990 tôi sang ký túc xá Viện Hàn lâm Khoa học Nga nằm trên phố Ulianovsk chơi (người Việt vẫn gọi đây là “đôm 5”) với anh Lê Tây (lúc đấy là chồng nữ nhà văn Trần Thùy Mai). Năm hết, Tết đến nên mọi người mang rượu ra uống, chủ yếu là vodka Ba Lan. Không hiểu thế nào mà tôi “quật đổ” tất cả các bạn rượu trong phòng. Một người nói với tôi: “Đừng có mừng vội! Tôi đi gọi một cao thủ về đấu với anh ngay bây giờ, anh không thắng được nhân vật này đâu!”

Tôi đấu rượu với một thanh niên khá là to khoẻ, uống rất bốc. Nhưng cũng chỉ được khoảng 30 phút sau, anh ta giơ tay lên nói: “Tôi xin hàng! Xin được tôn anh làm đại ca!”. Nói xong, người thanh niên đó gục xuống, nghỉ ngơi. Một người hỏi tôi: “Anh có biết anh vừa thắng rượu ai đó không?”. “Một người uống rất sòng phẳng, nhưng thua tôi. Còn cụ thể là ai, tôi không biết.” “Phân Thanh Nam, con Thủ tướng Võ Văn Kiệt đấy!” “Bố họ Võ, con họ Phan, thế là con nuôi à?” “Không phải con nuôi đâu, con đẻ đấy!”.

Nghe chúng tôi nói chuyện, người thanh niên tưởng như đã ngủ kia, mở mắt, ngẩng lên nói: “Họ gốc của ông già tôi là họ Phan, dòng dõi Phan Thanh Giản đấy. Còn họ Võ chỉ là họ bí danh, dùng khi đi hoạt động cách mạng. Anh đã thắng rượu tôi, dù tôi là ai, anh là ai thì tôi cũng tôn anh là đại ca.”

Sau đấy một thời gian, Phan Thanh Nam hoàn thành khoá học về nước. Những người ở đôm 5 bảo là anh ấy về để nhận chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đấy vài năm, tôi cũng về Việt Nam . Thông tin mà tôi có được là anh Phan Thanh Nam không trở thành Phó Chủ tịch UBND TP HCM, mà trở thành một doanh nhân khá thành đạt, định bụng khi nào rỗi rãi, tìm cách gặp anh, không phải để làm “đại ca”, mà là “đấu trận lượt về”. Bây giờ ba của anh ấy không làm thủ tướng nữa, vẫn quan tâm tới bài báo của mình, có lẽ đây là dịp để gặp gỡ…

Dẫu suy nghĩ như vậy, nhưng vì bận rộn và cũng còn một chút ngại ngần, tôi không liên lạc với anh Nam, chỉ gọi điện cho báo Tuổi Trẻ kể lại chuyện có người của Ban Tổ chức Trung ương đến gặp để trao đổi về bài báo. Sau đó anh Căn có gọi điện cho tôi hẹn ngày giờ lên Văn phòng Tổng bí thư, nhưng lúc đó đã gần đến giờ tôi ra sân bay để đi nước ngoài.

Sau gần một năm ở nước ngoài trở về, mọi việc êm ả. Tôi lại đi làm báo. Khi kể lại chuyện này cho bạn bè, người thân; có người cho rằng, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội; có người lại bảo, tôi tránh được một rắc rối lớn. Tôi cũng không quan tâm nhiều tới những vấn đề này, chỉ hơi tiếc là một số bài báo tâm huyết và công phu của mình không được in công khai trên các báo.


Thứ Tư, 04/08/2004, 09:08 (GMT+7)

Người sử dụng nhân tài phải có bản lĩnh

TT - Tôi chưa dám gọi những người mà tôi từng quen biết là nhân tài, nhưng họ là những người có khả năng - khả năng đã được thừa nhận nhưng không được cơ quan nhà nước sử dụng.

Tôi có may mắn được quen biết khá nhiều người trong số này. Hành trình của họ sau khi được giải thưởng là ra nước ngoài học tập. Thông thường họ học một mạch cho đến khi có bằng tiến sĩ. Phạm Hữu Tiệp được giải nhì toán quốc tế, sang học ở Trường ĐH Tổng hợp Matxcơva mang tên Lomonosov và nhận được bằng tiến sĩ (sau khi đã có bằng phó tiến sĩ) khi anh mới 27 tuổi. Anh là người học giỏi và rèn luyện tốt (cả về thể lực); từ một cậu bé loắt choắt, còm nhom thành một người đàn ông cao trên 1,7m, một đảng viên… Tốt nghiệp xong, anh về nước ngay, nhưng ba tháng sau anh quay lại Matxcơva và buồn bã kể:

“Em về nước, hăm hở vác hồ sơ đi xin việc, đến một cơ quan khoa học thuộc chuyên ngành của mình tới ba lần, nhưng lần nào cũng chỉ gặp được ông bảo vệ…”.

Biết được hoàn cảnh của Tiệp, Trường Lomonosov gọi sang làm công tác khoa học. Sau đó anh sang Đức, rồi sang Mỹ làm việc. Những người được giải nhất như Lê Tự Quốc Thắng, Đàm Thanh Sơn… cũng có cuộc hành trình từ Nga sang Mỹ.

Theo tính toán sơ bộ của tôi, có quá nửa những người được giải toán quốc tế của ta hiện đang làm việc ở châu Âu và ở Mỹ. Mà họ không đi một mình đâu nhé, họ mang theo những người vợ VN, thường cũng là tiến sĩ. Như vợ của L.T.Q.T. là tiến sĩ luật; vợ của P.H.T. là tiến sĩ ngôn ngữ… Tôi chỉ thấy một người trở về nước được làm cái việc mình thích là dạy toán. Đó là anh Lê Bá Khánh Trình hiện công tác tại khoa toán của một trường đại học ở TP.HCM.

Người VN hay nói “người có tài thường có tật”. Theo tôi, chưa hẳn như vậy, nhưng người có tài thường tự tin, có lòng tự trọng và có bản lĩnh. Những người có tài đi xin việc thường đến thẳng cơ quan nộp hồ sơ và chờ đợi. Kết quả không mấy khả quan.

Một tiến sĩ được một trưởng khoa của Đại học Quốc gia Hà Nội ngỏ ý mời về giảng dạy. Sau vài lần gặp gỡ, anh đồng ý viết đơn ngay tại phòng làm việc của trưởng khoa. Vậy mà một tháng sau anh nhận đuợc lời từ chối với lý do: “Hình như trước đây đã có lần cậu tranh luận với một học sinh cũ của trường, nay là một cán bộ cao cấp”.

Anh không nói gì thêm và cũng không làm gì thêm. Anh cho rằng làm đến trưởng khoa mà chỉ mới nghe nói như thế đã vội từ chối thì rõ ràng không có bản lĩnh. Người như thế rất khó cộng tác. Biết chuyện, có người cho rằng có thể nguyên nhân đích thực là việc anh chẳng đến nhà trưởng khoa, chẳng quà cáp gì…

Theo tôi được biết, những người có khả năng đi xin việc thường không kèm theo quà cáp, phong bì. Không phải họ không có tiền hay tiếc tiền, mà đơn giản họ cho rằng làm như vậy thì lòng tự trọng ít nhiều bị tổn thương; hơn nữa họ sợ xúc phạm người được biếu.

Một trong những người có khả năng, đi xin việc không được, nói với tôi: “Thời bao cấp, nếu không được làm việc trong các cơ quan đoàn thể nhà nước hay cơ sở tập thể thì chỉ có việc về đẩy xe thồ hoặc đạp xích lô. Nay không thế, tôi có thể đi làm cho công ty liên doanh, công ty nước ngoài, hoặc tôi mở công ty riêng”. Thật vậy, anh đã thành lập công ty và làm ăn khá phát đạt.

Cũng không ít trường hợp những người có khả năng đã làm việc ở cơ quan nhà nước, nhưng vì không được trọng dụng, lại bị trù úm nên họ ra đi. Tôi có quen một người tốt nghiệp tiến sĩ ở Liên Xô, làm hơn mười năm ở một bộ. Ở đó ai cũng công nhận năng lực trí tuệ của anh, nhưng lại cho là anh “hâm”, anh lập dị, thậm chí người ta ghép từ “điên” vào sau tên anh.

Nguyên nhân hết sức đơn giản: anh thẳng thắn, trong sáng và yêu cầu rất cao trong công việc. Một lần anh tới dự một buổi bảo vệ luận án thạc sĩ. Người của ban tổ chức trao phong bì cho anh và nói: “Đây là tiền ăn trưa của anh”. Anh trả lại phong bì và nói: “Cảm ơn! Tôi không bao giờ ăn trưa ở cơ quan”.

Người của ban tổ chức cuống quít hỏi tôi: “Liệu anh ta có phật ý gì không?”. Nhưng không có gì xảy ra. Anh nhận xét tốt về buổi bảo vệ và vui vẻ ra về. Anh bị cô lập, không được trọng dụng và thu nhập rất thấp. Nhân đọc báo thấy một cơ quan của Liên Hiệp Quốc tuyển trợ lý trưởng đại diện, anh đã dự thi và trúng tuyển. Dù thu nhập ở chỗ làm mới cao hơn 15 lần nhưng anh vẫn luyến tiếc công việc của mình ở bộ đó.

Phát hiện, đào tạo được nhân tài là quan trọng, nhưng sử dụng được họ còn quan trọng hơn. Để sử dụng được họ thật ra cũng không khó, chỉ cần cán bộ tổ chức, thủ trưởng cơ quan đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

TS HỒ BẤT KHUẤT
Nguồn: Hồ Bất Khuất's Blog