Dân Chủ cho VN: Chuyển Đổi Hệ Thuyết và sự Chuyển Tiếp Thế Hệ
Thế hệ trước đã phải mang theo bên mình những hòn bi quá khổ nặng nề của cuộc nội chiến 20 năm trong suốt 30 năm qua. Thế hệ sau có cần phải tiếp nhận những hòn bi này để rồi lại phải kình nhau lê gót đến tương lai hay không?
Lời mở đầu
Tôi được biết đến danh từ Paradigm Shift [được gọi là Chuyển Đổi Hệ Thuyết] trong một khóa đào tạo Quản Lý Kế Hoạch Thương Mại 4 năm trước đây. Paradigm Shift mô tả một hiện tượng tương tự như Thuyết Tương Đối (Theory of Relativity) của Newton, nó tầm thường nhưng lại rất quan trọng. Hiện tượng này tầm thường vì nó rất hiển nhiên và xảy ra nhan nhản ở khắp nơi, khắp ngành, hầu như ai cũng đã biết đến hoặc từng trải qua. Đồng thời, nó cũng rất quan trọng vì khi nó xảy ra, tất cả những ai không nhận diện và có chuẩn bị trước đều phải trả một giá rất đắt. Trong môi trường cạnh tranh, nhận diện được hướng chuyển đổi sớm hay muộn có thể quyết định kẻ thắng người thua. Và trong trường hợp cùng đường bí lối, nhận diện được hướng chuyển đổi này hay không sẽ quyết định thành bại. Cũng tương tự như Thuyết Tương Đối, khái niệm về Paradigm Shift có thể sử dụng trong bất kỳ trường hợp nào, hoàn cảnh nào, trong ngành gì, lĩnh vực gì, với ai, với bất cứ vấn đề gì.
Bài viết này được viết với hai mục đích: Trước là để giới thiệu cùng các bạn về Paradigm Shift và trình bài hiệu quả của nó trong thực nghiệm. Sau đó là để khai triển khái niệm này để nói đến phong trào tranh đấu giành tự do dân chủ cho VN, một phong trào mà tôi, cũng như rất nhiều người khác, mong mỏi sẽ thấy được sự thành công. Cũng xin nói trước với bạn đọc rằng Paradigm Shift, tương tự như Thuyết Tiến Hóa của Darwin, là sự nhận diện đặt tên của một quá trình chuyển đổi mà ở đoạn cuối, người ta có thể nhận định chính xác rằng cái gì đã chuyển đổi toàn diện từ đâu sang đâu. Hiện tượng này chỉ được trình bày bằng sự thành công của những chuyển đổi đã xảy ra nhằm để nhận diện và chuẩn bị cho những chuyển đổi sẽ đến. Tác giả không có câu trả lời nhất định, chỉ có thể nêu lên nhận định cá nhân để cùng nhau truy vấn xem một Paradigm Shift toàn diện trong phong trào tranh đấu có nhất thiết hay không? Sẽ xảy ra hay không? Và nếu sẽ xảy ra, nó sẽ xảy ra như thế nào? Trước hay sau sự chuyển tiếp thế hệ?
Chuyển Đổi Hệ Thuyết (Paradigm Shift) là gì?
Từ Paradigm Shift được khoa học gia Thomas Kuhn dùng đến lần đầu tiên năm 1962 trong tác phẩm khoa học ấn tượng của ông, The Structure of Scientific Revolutions (Cấu Trúc của những cuộc Cách Mạng Khoa Học), nhằm để miêu tả sự thay đổi của những nhận xét cơ bản trong giới hạn lý thuyết của khoa học. Sự thay đổi nhẹ nhàng này sau đó lại dẫn đến một cuộc cách mạng trí thức mãnh liệt. Ông Kuhn đã giới hạn và chỉ sử dụng từ Paradigm Shift trong lĩnh vực khoa học mà thôi vì theo ông, “một hệ thuyết là những gì thành viên trong cộng đồng khoa học, và chỉ trong cộng đồng này mà thôi, chia xẻ với nhau.”
Cho dù vậy, từ này đã được chấp nhận trong thập niên 1960 và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác với các cảnh ngữ khác nhau. Nói một cách tóm tắt thì Paradigm Shift là một sự chuyển đổi hoặc thay đổi trong tư tưởng của chúng ta về sự kiện, dân tộc, môi trường, đời sống. Sự chuyển đổi hoặc thay đổi này có tính chất lan rộng toàn diện trên lĩnh vực mà nó được áp dụng và sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống và cách sống của chúng ta hiện nay và trong tương lai.
Kết cấu của Paradigm Shift bao gồm (1) Ý tưởng mới làm chất xúc tích (2) Ứng dụng ý tưởng mới vào thực hành một cách hiệu quả (3) Hiệu quả được minh xác, ý tưởng mới được chấp nhận rộng rãi và trở thành một cuộc cách mạng tư tưởng (4) Ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống.
Các trường hợp điển hình của Paradigm Shift
Phản văn hóa (counter-culture) ở Hoa Kỳ: Thời điểm phản văn hóa ở Hoa Kỳ xảy ra vào hai thập niên 60 và 70. Bị thúc đẩy bởi cuộc chiến VN, thế hệ trẻ đối kháng chính quyền Hoa Kỳ có khuynh hướng chống lại quan điểm của chính quyền về đời sống xã hội và mức sống người dân. Thành phần bảo thủ bị họ xem là thành phần áp bức. Paradigm Shift tiếp nối sau đó bao gồm nhiều tư tưởng mới mẻ về tôn giáo, xã hội, tâm linh mà phần đông không lệ thuộc vào tư tưởng truyền thống Tây Phuơng. Những tư tưởng mới này làm giảm bớt căng thẳng giữa các sắc tộc, thắt chặt các mối quan hệ, mở rộng quan hệ ngoại giao, và chấm dứt cuộc chiến VN.
Cho dù sự đối kháng này của giới trẻ thường không vì lợi ích chung của nhân loại, nhưng Paradigm Shift tiếp nối sau đó đã khiến nguời ta mở rộng tư tưởng với sự đa dạng văn hóa, đẩy mạnh phong trào bảo vệ nhân quyền và tự do. Mặt khác, nó cũng có những tác dụng phụ như các tệ nạn nghiện ngập, ly dị, lộn xộn gia tăng trong xã hội.
Toàn cầu hóa nông nghiệp: Cuộc cách mạng nông nghiệp bắt đầu vào khoảng 4000 năm trước CN là một chứng minh hùng hồn cho Paradigm Shift từ đời sống du mục, thu lượm thức ăn đến việc an cư, trồng trọt ở Tiểu Á và Bán Đảo Ả Rập. Chất xúc tích là nền Nông Nghiệp Phôi Thai được ghi nhận vào khoảng 8500 năm trước CN ở khu vực Lưỡng Hà cạnh Địa Trung Hải. 4000 năm sau đó, tiến trình chuyển đổi toàn cầu hóa được bắt đầu với sự xung đột giữa người Cápca (Caucasian) ở Caucasus và người Xê-Mít (Semites - tổ tiên lâu đời của người Do Thái). Theo nhận xét của nhà văn nổi tiếng Daniel Quinn thì sự xung đột này đã được lồng vào Sách Sáng Thế qua câu chuyện của “the Fall” với Abel và Cain. Thêm 2000 năm nữa thì hầu hết các vùng đất nơi đó đã biến thành làng mạc vây quanh bởi ruộng vườn. Hầu hết các tộc dân du mục hoặc bị tiêu diệt hoặc phải thích ứng với lối sống mới này.
Thiên văn học: Sự chuyển đổi trong nhận xét thiên văn từ mô hình địa tâm Ptolemaic (Geocentric model), quan điểm thống trị thời tiền hiện đại, sang hệ nhật tâm Copernian vào thế kỷ 16 là một Paradigm Shift có tầm vóc quốc tế. Chất xúc tích cho sự chuyển đổi này là bài viết của Copernicus năm 1497, De Revolutionibus orbium coelestium (Sụ vận chuyển của thiên thể trong vũ trụ), gây ảnh hưởng nặng đến quan điểm trong triết lý và kinh thánh thời đó. Nhưng vì Copernicus thiếu bằng chứng hỗ trợ hệ thuyết của mình, mãi cho đến năm 1610 khi Galileo phát minh ra viễn vọng kính và quan sát các tinh thể trong hệ Mặt Trời, hệ nhật tâm mới có thể hoàn toàn thay thế mô hình địa tâm.
Điện tử: Sự chuyển đổi từ việc sử dụng nhân lực sang hệ thống tự động điều khiển bởi các phần mềm vi tính, điện tử là một Paradigm Shift trên nhiều lĩnh vực xã hội đời sống. Ở các lĩnh vực khác, nó vẫn còn đang trong vòng chuyển đổi. Tiến trình chào đời của máy vi tính chính nó cũng là một Paradigm Shift lớn ở mức vĩ mô bao gồm những Paradigm Shift nhỏ ở mức vi mô. Bắt đầu từ kỹ nghệ Vacumn Tubes (đèn chân không) của thập niên 50 đến kỹ nghệ Transitors (linh kiện bán dẫn) giữa thập niên 60 đến kỹ nghệ Intergrated Circuit (vi mạch hay mạch tích hợp) giữa thập niên 60 và 70 đến kỹ nghệ LSI và VLSI (trong máy vi tính cá nhân thông dụng) cuối thập niên 70, và kỹ nghệ multiprocessors của thập niên 90 trở lại. Bộ phận xử lý (processor) trong máy vi tính cá nhân cũng đã chuyển đổi từ 1x (single core) đến 2x (dual core) và hiện nay là 4x (quad-core). Sự chuyển đổi sẽ hoàn tất khi hệ thuyết (paradigm) mới hoàn toàn thay thế hệ thuyết cũ và khi đó, có thể gọi hiện tượng này là một Paradigm Shift. Theo nhận xét của tôi, các loại bóng đèn điện hiện nay cũng đang trong quá trình chuyển tiếp mà ở cuối quá trình, loại bóng LED (light-emitting diode) sẽ thay thế tất cả các loại bóng khác.
Mạng Internet: Đối với mạng Internet ở VN, Blog là một hệ thuyết mà thông tin cá nhân và tự do ngôn luận trên mạng đang trong thời kỳ chuyển tiếp vào. Blog đã được ứng dụng, trở thành thịnh hành, và sự đa dạng sẽ còn phát triển xa hơn nữa. Những hình thức quản lý và hạn chế hầu như chỉ có thể chống đỡ tạm thời vì cơn sóng bất khả kháng này ở cuối quá trình chuyển tiếp, sẽ hóa giải các thế lực muốn cản trở nó. Sự chống đỡ càng mạnh, sự hóa giải sẽ càng khốc liệt.
Vật dụng thường ngày: Các thí dụ điển hình khác cho Paradigm Shift là sự chuyển đổi giữa tape Cassette sang dĩa CD, sự chuyển đổi từ băng video cassette sang DVD (trong tương lai sẽ chuyển sang dĩa DVD Blu-ray). Sự chuyển đổi từ đồng hồ Analog sang đồng hồ đeo tay Digital, giữa màn hình TV ống Cathoray sang màn hình mỏng LCD và sự chuyển đổi sóng truyền hình từ tín hiệu Analog sang Digital ở Hoa Kỳ sẽ là hai Paradigm Shift trong tương lai gần đây.
Paradigm Shift ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống và lối sống của con người, hệ thuyết cũ sẽ bị đào thải dần dần và nhanh chóng biến mất. Theo thường lệ, khi Chuyển Đổi Hệ Thuyết xảy ra, những thành phần không thích ứng sẽ bị tận diệt. Nhưng cũng có khi thành phần không thích ứng vẫn tồn tại. Cho dù vậy, sự tồn tại này lại rất nhỏ nhoi và không đáng nhắc đến.
Paradigm Shift có thể cấu kết bằng các Paradigm Shift khác ở mức độ nhỏ hơn. Các Paradigm Shift có thể song hành hỗ trợ lẫn nhau; nhưng trong cùng một lĩnh vực ở cùng một mức độ, không thể có hai Chuyển Đổi Hệ Thuyết cùng tồn tại một lúc. Điều này không thể xảy ra vì theo định nghĩa của nó, chỉ có một Hệ Thuyết (paradigm) duy nhất thay thế các Hệ Thuyết khác. Thông thường thì Chuyển Đổi Hệ Thuyết sẽ đem đến những thay đổi tốt đẹp hơn trong tư tưởng và đời sống. Khả năng chuyển đổi sang một hệ thuyết tệ hơn tuy vẫn còn đó, nhưng rất hiếm và không vững bền vì thiếu tính chất nhân hòa.
XHCN: Một Paradigm Shift ngược chiều.
Với cuộc di cư của trên 1 triệu người từ Bắc vào Nam (1954-1956), 20 năm nội chiến, và làn sóng vượt biển tìm tự do sau biến cố 30 tháng 4… khó có thể cho rằng XHCN tượng trưng cho một sự thay đổi tư tưởng có tính chất nhân hòa. Thêm vào đó, với phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ chưa bao giờ tàn 30 năm sau khi chủ nghĩa CS toàn thắng, nền giáo dục XHCN thật ra đã không thành công ở mức đáng để gọi là một Paradigm Shift. Có hay chăng đó chỉ là một Paradigm Shift ngược chiều văn hóa dẫn đến các tệ nạn khó tin nhưng có thật như tranh giành gà vịt có lệnh tiêu hủy, cướp giật lương thực sau tai nạn xe cộ thay vì cứu người, phá hủy hội hoa Xuân, chính quyền tranh giành địa bàn với ông đồ trong dịp Xuân, bịt miệng trước tòa án, CA tát dân, CSGT hành hung người đi đường, “vô tình” rút kiếm tấn công nhân viên an ninh sân bay, ngăn chặn SV biểu tình chống Bắc phương xâm chiếm lãnh thổ, hỏi cung một học sinh 10 tuổi đến điên loạn, quan chức đánh bạc đến cả triệu USD, ngang nhiên đòi tiền hối lộ công trình với CT nước ngoài, cấm tự ý làm từ thiện, cấm ngực lép lái xe, bột đá trộn trong kẹo, v.v… Kể cả một cường quốc như Trung Quốc cũng phải đối diện với sự suy đồi văn hóa trong việc hủy hại môi sinh, coi thường sinh mạng (ô nhiễm thực phẩm). Cho dù có biện bạch như thế nào đi nữa, thì sự thật vẫn là sự thật, hệ thuyết XHCN tượng trưng cho sự thoái trào trong tư tưởng văn hóa con người.
“Một người tính bằng chín người làm!” Đó là câu danh ngôn thời phong kiến ông bà ta để lại. Câu nói này rất sai lầm và nguy hiểm khi áp dụng ở mức vĩ mô. Ứng dụng nó đồng nghĩa với việc chấp nhận rằng trong 10 cái đầu, chỉ cần 1 cái là đủ. Khi đề cập câu nói này với ông chủ, bạn sẽ nhận được 1 cái gật gù; nhưng khi nhắc đến nó với 9 người đang sống kiếp “nô lệ” không có quyền lên tiếng, bạn sẽ lãnh được 9 cục đất sét vào đầu. Có lẽ vì nhận thức được sự trái ngược của ý tưởng XHCN đối với lợi ích người dân mà kể từ khi chủ nghĩa CS ra đời cho đến nay, có hơn 40 quốc gia đã từ bỏ thể chế CS và còn lại vỏn vẹn có 5 quốc gia mà thôi. Và đây cũng là lý do tôi mong rằng phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ VN sẽ sống mãi trong sự chuyển tiếp thế hệ. Nếu được tận mắt chứng kiến sự thành công của nó, thì quý lắm thay.
Chuyển tiếp thế hệ.
Nhóm từ “chuyển tiếp thế hệ” trong bài này được dùng để nói đến một sự chuyển tiếp nhân sự toàn diện từ thế hệ sinh trước 75 đến sau 75 trong các thể chế và đoàn thể chính trị người Việt khắp nơi. Theo tôi đoán, sự chuyển tiếp này sẽ hoàn tất trong 30 năm nữa và nó sẽ đem đến nhiều thay đổi đầy hứa hẹn. Quan điểm chính trị của thế hệ trước 75 bị ảnh hưởng rất nặng từ những kinh nghiệm đau thương và những khác biệt gây nên bởi cuộc chiến Nam Bắc. Sự ảnh hưởng này thể hiện rất rõ trong từng bài viết, từng lối tuyên truyền, trong văn phong, trong ngữ cảnh, trong ngôn từ, làm giảm đi khả năng truyền đạt ý tưởng của mình và khiến cho người nghe có cảm giác những gì họ nói không được khách quan cho lắm.
Ngoài những người trẻ thuộc thế hệ sinh sau 75 có lòng với đất nước, phần còn lại rất thờ ơ với đề tài chính trị xã hội. Quan trọng hơn nữa là phần còn lại này lại là một phần rất lớn. Trong nước, họ là những người lớn lên dưới nền giáo dục XHCN và sống trong sự thiếu thốn thông tin trung thực đa chiều. Ngoài nước, họ là những người không biết, [hoặc biết nhưng không hiểu, hoặc hiểu nhưng không cảm thông, hoặc cảm thông nhưng không chấp nhận] được những hoạt động chính trị, những cuộc biểu tình hàng loạt tiếp nối nhau cùng các lý do đằng sau đó. Nói cho cùng, họ không có quan điểm chính trị nhất định về ĐCS hay VNCH. Họ chỉ muốn nghĩ cho bản thân, chỉ sống cho mình và người thân dù cho hoàn cảnh xã hội, tình hình đất nước có tuột dốc đến mức nào. Vì vậy, phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ VN không có sự tham gia hoặc ủng hộ của họ. Vấn đề trước mặt là phải làm thế nào để có thêm sự ủng hộ từ thế hệ sau 75? Ở mức tối thiểu, làm thế nào để bảo đảm rằng khi sự chuyển tiếp thế hệ xảy ra, phong trào vẫn còn đó?
Những câu hỏi tiếp nối sẽ là: Paradigm Shift có cần thiết trong tư tưởng và đường lối tranh đấu để đến với những người trẻ hay không? Nó sẽ tăng tốc phong trào tranh đấu hay không? Nó sẽ xảy ra sau sự chuyển tiếp thế hệ hay không? Paradigm Shift xảy ra trước sự chuyển tiếp thế hệ có tốt hơn hay không? Làm cách nào để “chuyển đổi”?
Những thay đổi trong tư tưởng có thể dẫn đến Paradigm Shift.
Trong một phần góp ý trên diễn đàn DCV, tôi đã từng ví von: Kình bi là vấn nạn chính trị khó tránh của người Việt chúng ta kể từ năm 54. Và hai hòn bi lớn nhất trong quan niệm chính trị là ĐCS miền Bắc và VNCH miền Nam. Chán thay, giờ vẫn vậy. Tác giả vẫn không tránh được vấn nạn này. Trong ruột của hai hòn bi lớn này lại là những hòn bi nhỏ. 1 hòn bi lớn đã khổ, giờ đến 2. Ai cũng thích ôm bi của mình để so đo xem bi ai lớn hơn. Và dù biết bi to đặt cạnh nhau nhiều chỗ hở, vẫn chờ bi của đối phương teo trước hoặc chờ đến lúc sẽ được teo cùng một lúc. Nếu cách duy nhất để tránh nạn "kình" bi này là thẻo hết cả hai thì vẫn nên vì (nói một cách xấc xược và khôi hài) lạng quạng tất cả người Việt sẽ rơi vào tình trạng "vị bi vong quốc". Từ đó, tôi cho rằng một Paradigm Shift là hiệu quả nhất để tránh khỏi vấn nạn này. Thế thì phải bắt đầu “shift” từ đâu?
Thay đổi quan điểm chính trị:
Một người bạn trẻ thuộc thế hệ sinh sau 75 từng nói với tôi: “Muốn người trẻ quan tâm đến, phải bắt đầu từ xã hội dân sự (civil society), không thể bắt đầu từ chính trị (politic).” Thật vậy, muốn thuyết phục người khác nghe theo mình, phải bắt đầu từ những gì quan trọng đối với họ, không thể bắt đầu từ những gì quan trọng đối với mình. Đó là bài học đầu tiên của khóa đào đạo quản lý: What’s in it for me? (Có ích lợi gì cho tôi?).
Tương lai DC cho VN không phân biệt thân phận, kinh nghiệm, thể chế chính trị, màu cờ. Tương lai đó chỉ muốn nhận diện, đưa ra ánh sáng, và đập tan các tệ nạn cùng nguyên nhân cản trở sự hình thành của một xã hội dân chủ tự do. Đó là các tệ nạn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống như lạm dụng quyền hành, độc tài độc đoán, hối lộ tham nhũng, suy đồi văn hóa, đàn áp bất công, độc quyền tư bản, báo chí lề phải, nói một đàng làm một nẻo, v.v… Đó là những thứ mà một người trẻ sống trong xã hội, dù không quan tâm đến chính trị, vẫn phải đối đầu. Cho dù đang an phận ở hải ngoại, nhưng bà con họ hàng vẫn còn đang gánh chịu. Trước ánh sáng, đề tài xã hội dân sự rồi sẽ lần về chính trị, hậu quả trước mắt rồi sẽ được lần ngược về căn nguyên. Nhưng trước khi thấu hiểu được hậu quả, không ai màng tìm hiểu căn nguyên. Và khi thấu hiểu được hậu quả, không cần đến quan điểm chính trị như Đỏ Vàng, Ngụy Cộng để lần tìm đến mặc dù đằng sau các tệ nạn xã hội dân sự là nguyên nhân chính trị. Theo tôi, việc đi vào vấn đề từ đầu mối xã hội dân lần đến nguyên nhân chính trị, vì đại cuộc đè nén thành kiến khác biệt của cuộc nội chiến Nam Bắc, là một sự chuyển đổi.
Thái độ: Cũng từ quan điểm chính trị, quan niệm “Anh Là Ai” và “Anh Đã Làm Gì” đi trước “Anh Nói Gì” gây ảnh hưởng nặng đến những đối thoại đôi bên, kể cả “cùng phe”. Đó cùng là lý do kèm theo những phê bình, nhận xét là nhu cầu chụp mũ. Khi tham gia đối thoại, ai cũng phải nói rõ mình là ai và mình đã làm gì đáng kể trước khi hy vọng đại ý của mình được người khác nhận rõ. Nếu không thì hoặc là phải xoay trở biện minh khi người ta chẻ chữ tìm sơ hở, hoặc là phải phủi tay bỏ đi. Trong một diễn đàn DC, ai cũng cho rằng ý kiến của 1 người mang mũ “kiều vận” chẳng có gì hay ho dù anh ta có nói gì chăng nữa. Tương tự như thế, trong một diễn đàn quốc nội, ai cũng cho rằng ý kiến của một người mang mũ “phản động” chẳng có gì đáng để ý. Thông thường, nếu không biết anh là ai thì khi anh nói gì tôi không thích nghe, tôi sẽ tự phán “Anh Là Ai” với một cái mũ. Đó không phải là thái độ Dân Chủ.
Người Việt ở mọi nơi, một khi đã nhìn nhau cùng tầng số, cùng phe, cùng đồng đội, thì có nói gì sai cũng châm chế bỏ qua. Ngược lại thì rất khác. Nhằm khi ngứa lỗ ráy, tôi đeo “mặt nạ” bò vào diễn đàn góp ý như bình thường, cũng bị “phe ta” phang tới tấp. Tùy đối tượng phê bình, châm chế với “gà nhà” và thẳng tay với “phe địch” cũng không phải là thái độ Dân Chủ. Trong một môi trường Dân Chủ thực thụ, không phải chỉ mỗi người đều bình đẳng, mọi người cũng cần phải đối xử người khác một cách bình đẳng. Trong một môi trường Dân Chủ, người ta vẫn có thể đối xử với nhau bằng thái độ độc tài, bất công. Nếu nhận diện và thay đổi được hiện tượng này, đó là một sự chuyển đổi.
Ngôn từ: Theo bản năng tự nhiên, người ta thường khinh miệt, xem thường những gì mình chống đối. Và khi bực tức nóng giận đầy cảm xúc, thái độ khinh rẻ hiện rõ trong cách sử dụng ngôn từ. Bạn hãy thử trò chuyện với một người lớn lên dưới chế độ XHCN bằng những ngôn từ như “chó Hồ”, “cờ máu”, “khỉ Ba Đình” và cứ gạch một gạch lên giấy mỗi lần họ phản ứng và quên đi ý bạn đang nói gì. Cũng tương tự như thế khi trò chuyện góp ý, một tên “cẩu vận” hoặc một người trẻ “mất dạy văn hóa XHCN” cứ dùng mãi những từ như “cờ ba que”, “chó Ngụy”… thì bạn nghĩ một người thuộc chế độ CH cũ sẽ có bao nhiêu gạch trên giấy? Chẳng cần biết lý do, nếu một đám trẻ lớn lên cứ “Đù má cái này”, “đĩ mẹ cái kia” tượng trưng cho một sự suy đồi văn hóa, thì một nhóm người lớn tuổi có học thức hơn cứ tối ngày “chó mèo này”, "khỉ ngựa nọ”, “cứt đái”, “chửi này chửi nọ” luôn mồm (đôi khi công khai nơi công cộng khi biểu tình chứ không phải chỉ trong thế giới ảo) chẳng có gì đẹp đẽ cả.
Nhiều lúc đối với “phe nhà”, tôi cũng phải giải thích tá lả. Bạn có thể tưởng tượng khi tôi đối thoại với một bạn trẻ “cháu ngoan Bác Hồ”, cần phải mất bao nhiêu thời gian. Tôi cảm thấy rằng mỗi khi tôi lười biếng cứ viết hoặc góp ý qua loa rồi dông, tôi lại phải tốn thêm rất nhiều thời gian sau đó để giải thích. Cũng như dao búa, ngôn từ là dụng cụ để sử dụng. Ngôn từ càng to lớn, càng khó sử dụng chính xác và khi sơ sót không làm chủ được nó, sẽ bị phản tuyên truyền, tự mình hại mình. Sau khi dùng từ này giải thích từ kia nhiều lần, ý chính bị hoen ố và không còn rõ ràng nữa. Bỏ dùng dao búa trong ngôn ngữ, đối với tôi cũng là một sự chuyển đổi.
Mục đích: Cũng như ngôn từ, mục đích đấu tranh sau nhiều lần sửa đổi, sẽ bị hoen ố và không còn rõ ràng nữa. Chính nghĩa vì thế cũng lu mờ đi; thế lực cũng sẽ không còn vững mạnh sau những lần thay đổi mục đích. Sau khi mở blog qua đôi ba bài viết, tôi nhận được một tin nhắn: “Cùng phe hả, chúng ta họp sức chống Cộng!”. Tôi chỉ có thể xin lỗi anh ta rằng đó không phải là mục đích của tôi. Chống Cộng so với phong trào Dân Chủ đối với tôi rất khác nhau. Chống Cộng có nghĩa là chống CS, nhưng ĐCS hôm nay không phù hợp với chủ nghĩa CS nữa. Biết đâu chừng họ sẽ như một vài đảng viên ĐCS Pháp, thành lập một Đảng mới dưới tên khác (Nouveau Parti Anticapitaliste, tạm dịch là Tân Đảng Chống Tư Bản) và lặng lẽ... dời nhà.
Chống Cộng là một mục đích phát xuất từ quan điểm chính trị và có tính chất tạm thời, khi không còn tên gọi CS nữa thì sao? Sau ĐCS, thì đến Đảng A, Đảng B, Đảng C… tất cả vẫn có thể độc tài, tham nhũng, bất công, áp bức, bóc lột. Một xã hội Dân Chủ phôi thai vẫn đầy dẫy các tệ nạn này. Chống một Đảng cầm quyền chỉ là một mục tiêu chính trị tạm thời khi ĐCS còn tồn tại. Nhưng phong trào DC là một phong trào trường kỳ chống đối các tệ nạn xã hội dân sự cho đến khi có được xã hội DC vững bền thật sự, bất kể ĐCS còn tồn tại hay không.
Đường lối: Vì mục đích đối với tôi có khác, đường lối cũng vì thế khác nhau. Tôi không kêu gọi lật đổ ĐCS, nhưng vẫn để ý và nói lên quan điểm của mình đối với các sự kiện xã hội dân sự mà đằng sau đó là sự tham lam, lối hành xử côn đồ, thói ngang tàng hống hách, sự vô lối trong pháp luật, và sự bất lực khi chấp pháp của những người nắm quyền lực trong tay (những thứ mà đằng sau đó nữa là một guồng máy chính trị lỗi thời cần được thay đổi). Tôi chỉ biết rằng xã hội DC đúng nghĩa đòi hỏi thông tin phải đa chiều, dân trí phải cao, tư duy phải độc lập. Có vậy, những quyết định của người dân mới đáng giá. Vì thế, tôi vẫn theo gót các anh chị, chú bác đi trước (điển hình là DCV và các bậc trưởng thượng tôi quen biết) bằng cách mở blog nói lên chính kiến của mình, làm quen với các bạn trẻ và trao đổi tin tức, phổ biến thông tin mà tôi thấy cần.
Trong bài viết “Blog và Tính Thiết Thực của Việc Quản Lý Blog”, tôi đã nói rằng Blog là một hệ thuyết thông tin đa dạng mà thông tin cá nhân và tự do ngôn luận trên mạng đang trong thời kỳ chuyển tiếp vào. Và cũng nhận định rằng chính quyền VN sẽ không thể quản lý nó vì sự chuyển đổi này là một làn sóng bất khả kháng. Điều này chỉ đúng khi mỗi người chúng ta (những ai có thể kết nối mạng) là một blogger. Chúng ta không nhất thiết phải tốn nhiều thời gian trên các diễn đàn để đưa câu trả lời của mình ra, nhưng góp phần phổ biến thông tin giúp các bạn trẻ đi tìm câu trả lời cho chính họ là một việc làm không kém phần quan trong. Trong lúc điều 4 hiến pháp còn nằm ình trên con đường DC và các trang mạng có tiếng thường bị ngăn chận tường lửa hoặc bị đánh phá, Blog là một phương tiện thông tin những người bình thường như tôi có thể làm để mở ra những cánh cửa nhỏ trong khi chờ đợi cánh cửa lớn. Nếu ai cũng góp phần, làn sóng bất khả kháng này sẽ nhanh chóng trở thành một Paradigm Shift hóa giải nạn bưng bít thông tin trong nước.
Những dao động đáng kể trong thời gian gần đây
Dấu hiệu của sự chuyển đổi sang hệ thuyết Blog hiện rõ sau sự kiện Hoàng Sa, Trường Sa và việc SV biểu tình cuối năm 2007. Ngay sau đó thì sự lúng túng của chính quyền đã lộ rõ sau khi báo chí loan báo rằng sẽ có thông tư quản lý Blog. Trước sự phản đối của cộng đồng mạng, Bộ Trưởng bộ 4T Đỗ Quý Doãn lại nói rằng “có thể coi đây là một thông báo chứ không phải thông tư”. Thật khó hiểu. Báo chí trong nước ngày 13/2 vừa qua lại đăng: “Theo chương trình thực hiện luật Phòng chống tham nhũng và nghị quyết Trung Ương 3, chính phủ đã yêu cầu quyền tiếp cận thông tin được luật hóa.” Nói tóm tắt là theo lời Tổng Thanh Tra chính phủ Trần Văn Truyền, “lối tư duy cục bộ nhằm bưng bít thông tin sẽ phải thay đổi khi có luật tiếp cận thông tin”. Thật khó hiểu hơn khi Điều 6 Nghị định 97/2008 cấm blogger “làm lộ bí mật nhà nước” (bí mật nhà nước blogger cũng có thể biết?) thì bác Truyền sau đó lại nói “Nếu bất kỳ tài liệu nào cũng đóng mật thì không đúng”.
Những tuyên bố tréo cẳng ngỗng như thế này tương tự với dự định ra quy luật ngực lép không được lái xe. Chỉ với một dao động nhỏ trong thế hệ trẻ thì nhà nước có thể đi từ “cấm” rồi lại cần phải hù bằng cách “ra thông tư quản lý” lại nhân nhượng sang “thông báo chứ không phải thông tư”. Đồng thời chỉ với một sự kiện tham nhũng bị phanh phui trước ánh sáng đến mức không thể chối cãi như vụ PCI, nhà nước lại đi từ “bưng bít thông tin nhưng chối” đến “nhận là có bưng bít thông tin” rồi đến “bưng bít là vi phạm qui định”. Đó cũng đủ để chứng tỏ sức mạnh tuổi trẻ và hiệu quả thông tin đại chúng xưa nay vẫn vậy, dù xã hội nằm trong sự cầm quyền của một thể chế độc tài, toàn trị.
Thêm vào đó, những cuộc biểu tình của nhân công bị áp bức, sinh viên yêu nước, nông dân khiếu kiện, các tín đồ đạo giáo đòi lại đất đai gia tăng trên khắp nước, bất kể các biện pháp ngăn ngừa đình công và biểu tình. Truyền đơn và biểu ngữ cũng đã xuất hiện thường xuyên hơn. Đây cũng là những dao động đáng kể trong thái độ của người dân đối với chính quyền.
Lời kết
Những thay đổi nào có thể ảnh hưởng đến sự vận chuyển (shift) hệ thuyết (paradigm) trong thế hệ trẻ, tư tưởng người dân, và thông tin mạng lan rộng đều sẽ giúp ích cho phong trào Dân Chủ. Xã hội Dân Chủ VN sẽ là một Paradigm Shift vĩ đại mà tất cả các Paradigm Shift trong mọi lĩnh vực khác sẽ hội nhập góp phần vào. Nhưng tiến trình nhanh chậm tùy theo chất xúc tích xuất hiện vào thời điểm nào. Có kịp để đoàn kết bảo vệ bờ cõi trước sự tham lam của Trung Quốc hay không? Sự hợp tác giữa thế hệ trẻ quốc nội và thế hệ trẻ hải ngoại một lúc nào đó cũng sẽ xảy ra. Và nó sẽ bắt đầu dựa trên lợi ích song phương (mutual interest) trên con đường hướng tới xã hội Dân Chủ chứ không phải bằng sự cả tin mù quáng (trust).
Đại cuộc có vượt qua được những quá khứ đau thương, phân biệt chính trị, thù hận cá nhân, khác biệt trong tư tưởng hay không? Những mánh khóe, thủ đoạn, lọc lừa của quá khứ có dạy cho chúng ta được bài học gì đáng giá để hóa giải và vượt qua chúng không? Hay quá khứ chỉ cho ta vỏn vẹn những bài học là phải tránh xa, cô lập, hoặc tận diệt chúng bằng mọi thủ đoạn? Thế hệ trước đã phải mang theo bên mình những hòn bi quá khổ nặng nề của cuộc nội chiến 20 năm trong suốt 30 năm qua. Thế hệ sau có cần phải tiếp nhận những hòn bi này để rồi lại phải kình nhau lê gót đến tương lai hay không? Con đường tiến tới xã hội Dân Chủ có vì vậy càng xa vời hơn không? Tôi xin kết thúc bài viết bằng những câu hỏi này để bạn đọc có thể cùng tôi suy gẫm.
Bài viết này thủy chung cũng chỉ là quan điểm của cá nhân tôi mà thôi. Tôi không viết cho những ai đã thành danh và đang vì đại nghĩa dấn thân trên con đường tranh đấu. Theo tôi, những người này đã tìm ra con đường của họ và sẵn sàng vì nước quên mình. Tôi chỉ viết cho những người như tôi, những ai đang còn nghĩ rằng mình chưa là ai cả và chưa làm gì đáng kể cả. Và sau đó cũng để chia xẻ quan điểm của một người thuộc thế hệ 7x, suy nghĩ theo kiểu bị cho là tiệm tiến (dân chủ rùa bò), không Đỏ, không Vàng, nhưng ưa chuộng tự do, độc lập, dân chủ. Vì chỉ là quan điểm của một kẻ vô danh, nếu bạn đọc đồng tình ở phần nào thì có thể toàn quyền cắt xén, chỉnh sửa, và đăng tải phần đó với tên mình. Quan điểm của một cá nhân trên thực chất chẳng có giá trị nào. Nó sẽ dần tắt lịm như nhiều quan điểm khác. Chỉ khi nào nó được hưởng ứng, xuất hiện khắp nơi dưới mọi hình thức với nhiều tên tác giả khác nhau thì lúc đó, nó mới có thể trở thành một ý tưởng mới, chất xúc tích cho một sự Chuyển Đổi Hệ Thuyết.
Tài liệu tham khảo:
* What is Paradigm Shift? (www.takeofleap.com)
* Paradigm Shift (en.wikipedia.org)
* What is a Paradim Shift – article by CarolAnn Bailey-Lloyd (www.ezinearticles.com)
* Ishmael – book by Daniel Quinn
* Geocentric model of the Universe: Ptolemaic System and Corpernican – (en.wikipedia.org)
* The birth of PC (www.doc.ic.ac.uk)
* Communist Countries: Past and Present (www.infoplease.com)
* CA tranh giành địa bàn với ông đồ (http://www.youtube.com/watch?v=cZweG20-WeI)
* CA giở thói lưu manh (Blog Điếu Cày)
* Thông tư quản lý blog cá nhân: Năm điều cấm đối với blogger (www.phapluattp.vn)
* Bộ Thông Tin Truyền Thông không có ý định quản lý blog (www.thethaovanhoa.com)
* Thông tin sẽ không còn bị bưng bít (Vietbao.vn)
* Pháp: Tân Đảng Chống Tư Bản ra đời (http://www.greenleft.org.au/2009/783/40327)
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Tư tưởng triết học แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Tư tưởng triết học แสดงบทความทั้งหมด
วันเสาร์ที่ 28 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552
วันศุกร์ที่ 27 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552
No328: Tư Bản và Xã Hội: Hai mặt của một vấn đề
Không có gì giải thích rõ ràng sự khác biệt giữa khuynh hướng Cộng Hoà và khuynh hướng Dân Chủ tại Hoa Kỳ bằng hai câu nói của tổng thống Ronald Reagan và Barack Obama về vai trò của chính phủ.
Ngày 20/1/1981 trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống Reagan nói: “Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, chính phủ không phải là giải pháp, chính phủ chính là vấn đề của chúng ta” (nguyên văn: “In this present crisis, government is not the solution to our problem; government is the problem”).
Tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20/1/2008 thì nói: “Chúng ta không còn thắc mắc chính phủ quá lớn hay quá nhỏ, thay vào đó chúng ta hỏi chính phủ có làm việc hữu hiệu không – có tạo ra công ăn việc làm lương đủ sống, có chế độ săn sóc sức khỏe tốt, có hưu bổng đầy đủ cho người nghỉ hưu không…” (nguyên văn: “The question we ask today is not whether our government is too big or too small, but whether it works -- whether it helps families find jobs at a decent wage, care they can afford, a retirement that is dignified.”)
Đối với tổng thống Reagan, đại diện cho khuynh hướng Cộng Hoà, nguyên tắc cung cầu là bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế quốc gia. Và chính sách thuế khoá của chính phủ nếu thích hợp (chính yếu là giảm thuế) sẽ tạo điều kiện cho giới tư bản đầu tư tiền bạc đúng lúc đúng chỗ mang lại sự phồn thịnh. Nếu chính phủ dùng quyền viết ngân sách để đánh thuế cao rồi dùng tiền thuế bỏ vào các chương trình chi tiêu và trợ cấp để ảnh hưởng đến sinh hoạt xã hội thì nền kinh tế sẽ héo mòn như một cái cây cần đất khô lại được trồng vào một vùng đất lắm nước. Nói cách khác chính phủ sẽ là nguyên nhân của mọi vấn đề nếu can thiệp vào sự vận hành của luật cung cầu.
Những người Dân Chủ hiểu luật cung cầu là cốt tuỷ của một nền kinh tế tự do, và vai trò quan trọng của các ngân hàng và các đại công ty trong một nền kinh tế, nhưng họ không khoán trắng vào tay các nhà tư bản. Nếu để hoàn toàn tự do không có sự kiểm soát của chính phủ, lòng tham (bản tính tự nhiên của con người) sẽ làm các nhà tư bản bóp méo sinh hoạt kinh tế và đến một lúc nào đó khủng hoảng kinh tế sẽ bộc phát.
Mặt khác trong thế giới tư bản của luật cung cầu thành phần có khả năng trí tuệ và đa năng sẽ chiếm thế thượng phong, tích luỹ một tỉ số lớn tài sản quốc gia tạo ra sự chênh lệch khả năng kinh tế giữa các tầng lớp trong xã hội. Cho nên những người Dân Chủ chủ trương chính phủ phải nhúng tay vào sinh hoạt kinh tế, dùng quyền ngân sách để phân phối tài nguyên quốc gia sao cho sự vận hành dưới bảng chỉ đường của luật cung cầu không trở thành méo mó tạo ra bất công xã hội.
Nói chung người Cộng Hoà hay người Dân Chủ đều biết giới hạn kinh tế tư bản và sự cần thiết của sự can thiệp của chính phủ. Cái khác biệt là mức độ.
Kinh tế thị trường huy động sức người sức của hữu hiệu nhưng thỉnh thoảng theo chu kỳ tạo ra khủng hoảng kinh tế. Trong khi sự can thiệp quá nặng tay của chính phủ tạo ra sự trì trệ kinh tế. Cho nên ai cũng thấy sự cân bằng giữa sự vận hành của luật cung cầu và sự can thiệp của chính phủ là cần thiết.
Và đó là lý do tại sao tại Hoa Kỳ qua các cuộc bầu cử định kỳ đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hoà thay phiên nhau cầm quyền để sinh hoạt kinh tế (và qua đó sinh hoạt chính trị) được điều chỉnh vĩ mô qua thời gian, và tại sao nếu đảng này vào toà Bạch Cung thì đảng kia thường nắm Quốc hội để làm nhiệm vụ đối lập điều chỉnh vi mô các chính sách kinh tế làm cho sinh hoạt xã hội được hài hoà.
Trên thực tế, Lực lượng Tư bản và Sự Can thiệp của Chính phủ là hai điều đều cần thiết và bổ túc cho nhau. Tuy nhiên mỗi lần do điều kiện kinh tế phải chuyển đổi “chính trị” từ phương thức này sang phương thức khác bởi quyết định của dân qua bầu cử thì phe mất quyền chính trị thường có khuynh hướng đối kháng để kềm hãm phe thắng thế không đi quá đà trong các chính sách mới, đồng thời chuẩn bị thế chính trị cho khuynh hướng của mình.
Và khi sự chuyển đổi chính trị là kết quả của một tình trạng khủng hoảng xã hội và kinh tế thì phản ứng đối kháng càng mạnh mẽ. Và điều này giải thích sự phản kháng đầy mầu sắc đảng phái của đảng Cộng Hoà đối với luật kích thích kinh tế 787 tỉ vừa được tổng thống Obama ký ban hành ngày 17/2/2009. Các lý lẽ phản kháng (như quá nhiều chương trình chi tiêu, quá nhiều chương trình trợ cấp, chương trình phi lý như giúp những người mất nhà do họ thiếu trách nhiệm khi vay tiền mua nhà biết rằng mình không có khả năng trả ...) đều hữu lý trên mặt lý thuyết nhưng không hữu lý trên mặt thực tế. Khi con bệnh đang hồi thập tử nhất sinh phương thuốc cần nặng về chữa trị biến chứng hơn là nặng về chữa trị nguyên nhân có tính dài hạn. Và đó là bản chất và nội dung của luật kích thích kinh tế 787 tỉ mỹ kim.
Trong 8 năm cầm quyền tổng thống George W. Bush áp dụng đường lối kinh tế thuần tư bản đặt nặng trên hai nguyên tắc làm kim chỉ nam từ thời tổng thống Reagan là (1) giúp đỡ cho các đại công ty phát triển làm ăn, tin rằng người nghèo sẽ được hưởng phúc lợi theo (trickle –down economics) và (2) giảm thuế - nhất là giảm thuế cho những người giàu có, những tay tư bản – để các nhà tư bản có thêm tiền đầu tư làm cho nền kinh tế chuyển vận mang lại phúc lợi cho xã hội (supply-side economics).
Tuy nhiên chính phủ Cộng Hoà đã tạo ra một khung cảnh sinh hoạt kinh tế thiếu kiểm soát đưa đến quá đáng và lợi dụng. Giới tư bản (tượng trưng là Wall Street và Main Street – Thị trường Chứng khoán và Ngân hàng) được tự do do sự phá bỏ các khâu kiểm soát (regulations) trở nên làm ăn thiếu nguyên tắc. Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất quá thấp và quá lâu, các dân biểu kiếm phiếu bằng cách khuyến khích mọi người mua nhà dù không đủ điều kiện và làm ngơ trước mọi dấu hiệu bất ổn đã đưa đến cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ vào tháng 9/2008. Sau gần 6 tháng (9/2008 – 2/2009) các cơ sở tài chánh lớn và các ngân hàng kếch xù trụ cột của kinh tế quốc gia hoàn toàn sụp đổ và mới nhất là sự lung lay của hai đại ngân hàng còn sống sót là Bank of America và City Bank. Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất và trầm trọng nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng năm 1929.
Và đã có khủng hoảng kinh tế thì chính phủ phải can thiệp.
Đó là điều từng xảy ra như một nguyên tắc, mặc dù mỗi lần xẩy ra đều có cuộc tranh cãi giữa các chính trị gia và các nhà kinh tế về mức độ và sự hữu hiệu của phương pháp chữa trị.
Trong cuộc đại khủng hoảng năm 1929 tổng thống Franklin D. Roosevelt đã thành lập Tổng Cục Tìm Việc Làm (Work Projects Administration – WPA) tạo ra 8 triệu công ăn việc làm, thành lập chương trình An sinh Xã hội (Social Security) cho người nghỉ hưu và người già cũng như các cơ chế bảo vệ và kiểm soát như FDIC (Federal Deposit Insurance Commission) và SEC (Securities & Exchange Commisssion). Trong cuộc khủng hoảng tháng 9/2008 tổng thống Bush cũng đã khẩn cấp quốc hữu hoá hai đại công ty cho vay tiền (chính yếu để mua nhà) sạt nghiệp Fannie Mae và Fredie Mac và vội vàng thông qua luật cho phép Bộ Tài chánh tiêu 700 tỉ mỹ kim cứu nguy các cơ sở tài chánh nòng cốt của nền kinh tế quốc gia đang trên đà sụp đổ.
Và sau khi tổng thống Obama nhậm chức, công việc đầu tiên của ông là thúc đẩy quốc hội, và chưa đầy một tháng đã ký ban hành ngân sách kích thích kinh tế (stimulus package) 787 tỉ mỹ kim gồm gần 25% giảm thuế theo yêu sách của đảng Cộng Hoà, và còn lại cho các chương trình tạo công ăn việc làm ngay trước mắt và xây dựng căn bản hạ tầng cho sự phát triển bền vững như sửa chữa đường sá, cầu cống, trường học, hệ thống điện toán đa dẫn (broadband), chương trình tự túc năng lượng...
Các nhà kinh tế tư bản cũng như một số dân biểu nghị sĩ đảng Cộng Hoà cho rằng ngân sách 787 kích thích kinh tế của tổng thống Obama không giúp đặt căn bản cho sự phát triển dài lâu như sự giảm thuế cho giới tư bản và khuyến khích giúp đỡ các đại công ti. Họ quên rằng các chính sách trên đã được thi hành trong 8 năm của Bush và vì quá tin vào sự nhiệm mầu của thuyết supply-side và trickle-down quên cả nhiệm vụ kiểm soát đã đưa đến tình trạng nguy ngập hôm nay.
Người ta phê bình đảng Dân Chủ và ông Obama đang áp dụng nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của Âu châu, hậu quả sẽ làm cho Hoa Kỳ trở nên nghèo khó thiếu thốn như tại Âu châu. Sự phê bình này có giá trị ở chỗ Hoa Kỳ là một nước tư bản và nền kinh tế tư bản cung cầu của nó đã giúp nước Mỹ thành cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng sự phê bình không có giá trị ở chỗ là nếu không tạm thời Âu châu hoá nền kinh tế Hoa Kỳ thì trận bão táp kinh tế 2008 này có thể sẽ làm tê liệt quốc gia. Các nước Âu châu không phải bỗng nhiên có một chế độ kinh tế tư bản đậm mầu sắc xã hội như hiện nay, trong đó sự giúp đỡ người yếu kém trong xã hội cũng cần thiết như sự phát triển kinh tế. Là một lục địa già và cũ (Old Europe - theo lời của cựu bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld) Âu châu đã trải qua mọi thử thách, và có thể họ đang chọn cái giải pháp mà họ cho là tối hảo.
Chương trình kích thích kinh tế tổng thống Obama vừa ký ban hành sẽ làm chậm lại đà suy thoái kinh tế hiện nay, đó là điều không cần bàn cãi. Điều cần bàn cãi là nó có giúp cho nền kinh tế phục hồi hoàn toàn hay không, và một câu hỏi then chốt khác là hệ lụy thâm thủng ngân sách (để có tiền kích thích kinh tế) là một gánh nặng con cháu chúng ta có kham nổi hay không. Vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới sau cuộc khủng hoảng này hoàn toàn lệ thuộc vào đáp số của hai câu hỏi trên.
Nhìn rộng ra, hình như chính trị và kinh tế thế giới biến chuyển qua lại giữa hai quan niệm phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Khi tình trạng phát triển kinh tế gặp trở ngại như suy thoái kinh tế đe doạ an sinh xã hội thì các biện pháp mang lại an sinh xã hội trở thành ưu tiên. Khi các biện pháp quá chú trọng về an sinh xã hội làm cho kinh tế bị ngưng trệ thì đó là lúc giảm sự can thiệp của chính phủ đề nền kinh tế được tự do.
Khi những người lập quốc Hoa Kỳ hình thành trên căn bản một chế độ lưỡng đảng, một bên Cộng Hoà chủ trương phát triển là chính (dân sinh sẽ được phục vụ do thành quả của kết quả kinh tế), một bên Dân Chủ chú trọng đến dân sinh (phát triển là một quan tâm nhưng ưu tiên sau dân sinh) bảo đảm bởi một Hiến pháp đa đảng họ đã thấy sự vận hành này của xã hội mà mọi chế độ chính trị đều phải tuân theo như một quy luật. Cho nên sự tranh cãi giữa Cộng Hoà và Dân Chủ tại Hoa Kỳ không là một vấn đề. Đó là một sinh hoạt dân chủ để làm cho Hoa Kỳ luôn là một quốc gia hùng mạnh trong khi nhân dân được bảo đảm một đời sống tự do, phóng khoáng và đầy đủ.
Thuyết Mác xít do Karl Marx và Engels chủ trương trên bản chất là một nỗ lực giải quyết bất công xã hội do cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Anh quốc (cuối thế kỷ 18 kéo dài sang đầu thế kỷ 19) mang lại như môi trường bị huỷ hoại, đời sống kinh tế chênh lệch, thành phần thợ thuyền bị bóc lột... Nhưng lý thuyết cải tạo xã hội của Marx chủ trương tiêu diệt tư hữu và thị trường đã đi quá đà, chệch hướng, và đã cung cấp một căn bản lý thuyết cho những tay đầu cơ chính trị thiết lập những chế độ độc tài. Chế độ độc tài Mác xít tại Liên bang Xô viết (trong đó chính phủ nắm toàn bộ sinh hoạt kinh tế) đã tàn tạ cùng với các nước Đông Âu, và các chế độ cộng sản tại Trung quốc, và Việt Nam cũng trên con đường tàn tạ nhường chỗ cho kinh tế thị trường.
Tại Việt Nam chính quyền cộng sản từ năm 1986 đã tạm từ bỏ chế độ kinh tế tập trung trả quyền quyết định kinh tế cho nông dân và các thương gia nhưng vẫn kéo dài cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” trong một nền kinh tế mệnh danh là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lý thuyết “định hướng” này không có gì sai trái nếu nó được dùng như một phương thức để tránh những thái quá của kinh tế thị trường như sự phân nhiệm “Cộng Hoà, Dân Chủ” tại Hoa Kỳ. Rất tiếc tại Việt Nam nó là một công thức để bảo vệ đảng cầm quyền. Đảng nắm các sinh hoạt quốc doanh nói là để bảo vệ xã hội nhưng thực chất là để bảo vệ quyền lợi của đảng.
Tại Trung quốc có một biến chuyển đáng quan tâm do ông Lý Thành (Cheng Li) nêu ra trong bài viết nhan đề “China’s Team of Rivals” đăng trong tạp chí Foreign Policy số Tháng Ba/Tháng Tư 2009. Theo ông Lý, Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đã có một quyết định độc đáo trong Đại hội đảng thứ 17 (10/2007) là cất nhắc hai Ủy viên Trung ương đảng trẻ tuổi vào Uỷ ban Thường trực của Bộ chính trị là hai ông Tập Cận Bình (Xi Jinping) và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) để chuẩn bị cho một trong hai trở thành Tổng bí thư đảng vào đại hội đảng thứ 18 năm 2012.
Hai nhân vật này có khuynh hướng và đường lối chính trị khác nhau. Ông Tập Cận Bình thuộc nhóm có khuynh hướng cởi mở chủ trương kinh tế thị trường, khuyến khích kinh tế tư nhân (gọi là nhóm Con Dòng – Elitism) (1) trong khi ông Lý Khắc Cường thuộc nhóm có khuynh hướng chăm lo các vấn đề xã hội và sự ổn định của đời sống nông thôn là chính (gọi là nhóm Dân Tuý – Populist). Hình như ông Hồ Cẩm Đào có ý chuẩn bị hai khuynh hướng đối chọi nhau trong đảng như một cơ chế điều chỉnh những thái quá của sự nhắm mắt phát triển bất chấp hậu quả hay sự can thiệp quá sâu đậm của nền kinh tế xã hội tàn dư của nền kinh tế Mác Xít. Có thể đảng Cộng sản Trung quốc đã cảm nhận được rằng đảng không thể giữ tính chính thống và tồn tại nếu tiếp tục đường lối kinh tế dựa vào xuất cảng là chính như hiện nay và đàn áp mọi tiếng nói đối lập của nhân dân. Với công thức mới đảng Cộng sản Trung quốc chuẩn bị cho đối lập lên tiếng qua khuynh hướng Lý Khắc Cường (hoặc ngược lại qua khuynh hướng Tập Cận Bình nếu khuynh hướng Lý Khắc Cường cầm quyền). Mèo trắng mèo đen đều có ích nếu duy trì được sự chính thống của đảng. Và vào đại hội thứ 18 tùy theo đảng Cộng sản Trung quốc chọn đường lối ưu tiên phát triển hay ưu tiên chăm lo dân sinh ổn định xã hội mà ông Tập Cận Bình hay Lý Khắc Cường sẽ được bầu vào chức vụ Tổng bí thư.
Nếu quả thật đây là thâm ý chính trị của đảng Cộng sản Trung quốc thì chuyển biến này sẽ tạo ra tại Trung quốc một khung cảnh chính trị không khác gì Cộng Hoà và Dân Chủ tại Hoa Kỳ.
Âu, Á, Tư Bản chủ nghĩa và Xã Hội chủ nghĩa gặp nhau ở đây. Và cuối cùng công thức xã hội Âu châu, một xã hội có tự do dân chủ, có một nền chính trị đa đảng và một chế độ xã hội trong đó người không may mắn và ít khả năng vẫn có thể sống chứ không bị chôn vùi dưới lớp gạch nặng nề của các đại ngân hàng và của các đại công ty sẽ là cái xã hội mà Hoa Kỳ và Trung quốc vốn khởi đầu từ những xuất phát hoàn toàn đối nghịch với nhau sẽ cùng đi đến.
Trần Bình Nam
27/02/2009
Ngày 20/1/1981 trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống Reagan nói: “Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, chính phủ không phải là giải pháp, chính phủ chính là vấn đề của chúng ta” (nguyên văn: “In this present crisis, government is not the solution to our problem; government is the problem”).
Tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20/1/2008 thì nói: “Chúng ta không còn thắc mắc chính phủ quá lớn hay quá nhỏ, thay vào đó chúng ta hỏi chính phủ có làm việc hữu hiệu không – có tạo ra công ăn việc làm lương đủ sống, có chế độ săn sóc sức khỏe tốt, có hưu bổng đầy đủ cho người nghỉ hưu không…” (nguyên văn: “The question we ask today is not whether our government is too big or too small, but whether it works -- whether it helps families find jobs at a decent wage, care they can afford, a retirement that is dignified.”)
Đối với tổng thống Reagan, đại diện cho khuynh hướng Cộng Hoà, nguyên tắc cung cầu là bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế quốc gia. Và chính sách thuế khoá của chính phủ nếu thích hợp (chính yếu là giảm thuế) sẽ tạo điều kiện cho giới tư bản đầu tư tiền bạc đúng lúc đúng chỗ mang lại sự phồn thịnh. Nếu chính phủ dùng quyền viết ngân sách để đánh thuế cao rồi dùng tiền thuế bỏ vào các chương trình chi tiêu và trợ cấp để ảnh hưởng đến sinh hoạt xã hội thì nền kinh tế sẽ héo mòn như một cái cây cần đất khô lại được trồng vào một vùng đất lắm nước. Nói cách khác chính phủ sẽ là nguyên nhân của mọi vấn đề nếu can thiệp vào sự vận hành của luật cung cầu.
Những người Dân Chủ hiểu luật cung cầu là cốt tuỷ của một nền kinh tế tự do, và vai trò quan trọng của các ngân hàng và các đại công ty trong một nền kinh tế, nhưng họ không khoán trắng vào tay các nhà tư bản. Nếu để hoàn toàn tự do không có sự kiểm soát của chính phủ, lòng tham (bản tính tự nhiên của con người) sẽ làm các nhà tư bản bóp méo sinh hoạt kinh tế và đến một lúc nào đó khủng hoảng kinh tế sẽ bộc phát.
Mặt khác trong thế giới tư bản của luật cung cầu thành phần có khả năng trí tuệ và đa năng sẽ chiếm thế thượng phong, tích luỹ một tỉ số lớn tài sản quốc gia tạo ra sự chênh lệch khả năng kinh tế giữa các tầng lớp trong xã hội. Cho nên những người Dân Chủ chủ trương chính phủ phải nhúng tay vào sinh hoạt kinh tế, dùng quyền ngân sách để phân phối tài nguyên quốc gia sao cho sự vận hành dưới bảng chỉ đường của luật cung cầu không trở thành méo mó tạo ra bất công xã hội.
Nói chung người Cộng Hoà hay người Dân Chủ đều biết giới hạn kinh tế tư bản và sự cần thiết của sự can thiệp của chính phủ. Cái khác biệt là mức độ.
Kinh tế thị trường huy động sức người sức của hữu hiệu nhưng thỉnh thoảng theo chu kỳ tạo ra khủng hoảng kinh tế. Trong khi sự can thiệp quá nặng tay của chính phủ tạo ra sự trì trệ kinh tế. Cho nên ai cũng thấy sự cân bằng giữa sự vận hành của luật cung cầu và sự can thiệp của chính phủ là cần thiết.
Và đó là lý do tại sao tại Hoa Kỳ qua các cuộc bầu cử định kỳ đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hoà thay phiên nhau cầm quyền để sinh hoạt kinh tế (và qua đó sinh hoạt chính trị) được điều chỉnh vĩ mô qua thời gian, và tại sao nếu đảng này vào toà Bạch Cung thì đảng kia thường nắm Quốc hội để làm nhiệm vụ đối lập điều chỉnh vi mô các chính sách kinh tế làm cho sinh hoạt xã hội được hài hoà.
Trên thực tế, Lực lượng Tư bản và Sự Can thiệp của Chính phủ là hai điều đều cần thiết và bổ túc cho nhau. Tuy nhiên mỗi lần do điều kiện kinh tế phải chuyển đổi “chính trị” từ phương thức này sang phương thức khác bởi quyết định của dân qua bầu cử thì phe mất quyền chính trị thường có khuynh hướng đối kháng để kềm hãm phe thắng thế không đi quá đà trong các chính sách mới, đồng thời chuẩn bị thế chính trị cho khuynh hướng của mình.
Và khi sự chuyển đổi chính trị là kết quả của một tình trạng khủng hoảng xã hội và kinh tế thì phản ứng đối kháng càng mạnh mẽ. Và điều này giải thích sự phản kháng đầy mầu sắc đảng phái của đảng Cộng Hoà đối với luật kích thích kinh tế 787 tỉ vừa được tổng thống Obama ký ban hành ngày 17/2/2009. Các lý lẽ phản kháng (như quá nhiều chương trình chi tiêu, quá nhiều chương trình trợ cấp, chương trình phi lý như giúp những người mất nhà do họ thiếu trách nhiệm khi vay tiền mua nhà biết rằng mình không có khả năng trả ...) đều hữu lý trên mặt lý thuyết nhưng không hữu lý trên mặt thực tế. Khi con bệnh đang hồi thập tử nhất sinh phương thuốc cần nặng về chữa trị biến chứng hơn là nặng về chữa trị nguyên nhân có tính dài hạn. Và đó là bản chất và nội dung của luật kích thích kinh tế 787 tỉ mỹ kim.
Trong 8 năm cầm quyền tổng thống George W. Bush áp dụng đường lối kinh tế thuần tư bản đặt nặng trên hai nguyên tắc làm kim chỉ nam từ thời tổng thống Reagan là (1) giúp đỡ cho các đại công ty phát triển làm ăn, tin rằng người nghèo sẽ được hưởng phúc lợi theo (trickle –down economics) và (2) giảm thuế - nhất là giảm thuế cho những người giàu có, những tay tư bản – để các nhà tư bản có thêm tiền đầu tư làm cho nền kinh tế chuyển vận mang lại phúc lợi cho xã hội (supply-side economics).
Tuy nhiên chính phủ Cộng Hoà đã tạo ra một khung cảnh sinh hoạt kinh tế thiếu kiểm soát đưa đến quá đáng và lợi dụng. Giới tư bản (tượng trưng là Wall Street và Main Street – Thị trường Chứng khoán và Ngân hàng) được tự do do sự phá bỏ các khâu kiểm soát (regulations) trở nên làm ăn thiếu nguyên tắc. Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất quá thấp và quá lâu, các dân biểu kiếm phiếu bằng cách khuyến khích mọi người mua nhà dù không đủ điều kiện và làm ngơ trước mọi dấu hiệu bất ổn đã đưa đến cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ vào tháng 9/2008. Sau gần 6 tháng (9/2008 – 2/2009) các cơ sở tài chánh lớn và các ngân hàng kếch xù trụ cột của kinh tế quốc gia hoàn toàn sụp đổ và mới nhất là sự lung lay của hai đại ngân hàng còn sống sót là Bank of America và City Bank. Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất và trầm trọng nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng năm 1929.
Và đã có khủng hoảng kinh tế thì chính phủ phải can thiệp.
Đó là điều từng xảy ra như một nguyên tắc, mặc dù mỗi lần xẩy ra đều có cuộc tranh cãi giữa các chính trị gia và các nhà kinh tế về mức độ và sự hữu hiệu của phương pháp chữa trị.
Trong cuộc đại khủng hoảng năm 1929 tổng thống Franklin D. Roosevelt đã thành lập Tổng Cục Tìm Việc Làm (Work Projects Administration – WPA) tạo ra 8 triệu công ăn việc làm, thành lập chương trình An sinh Xã hội (Social Security) cho người nghỉ hưu và người già cũng như các cơ chế bảo vệ và kiểm soát như FDIC (Federal Deposit Insurance Commission) và SEC (Securities & Exchange Commisssion). Trong cuộc khủng hoảng tháng 9/2008 tổng thống Bush cũng đã khẩn cấp quốc hữu hoá hai đại công ty cho vay tiền (chính yếu để mua nhà) sạt nghiệp Fannie Mae và Fredie Mac và vội vàng thông qua luật cho phép Bộ Tài chánh tiêu 700 tỉ mỹ kim cứu nguy các cơ sở tài chánh nòng cốt của nền kinh tế quốc gia đang trên đà sụp đổ.
Và sau khi tổng thống Obama nhậm chức, công việc đầu tiên của ông là thúc đẩy quốc hội, và chưa đầy một tháng đã ký ban hành ngân sách kích thích kinh tế (stimulus package) 787 tỉ mỹ kim gồm gần 25% giảm thuế theo yêu sách của đảng Cộng Hoà, và còn lại cho các chương trình tạo công ăn việc làm ngay trước mắt và xây dựng căn bản hạ tầng cho sự phát triển bền vững như sửa chữa đường sá, cầu cống, trường học, hệ thống điện toán đa dẫn (broadband), chương trình tự túc năng lượng...
Các nhà kinh tế tư bản cũng như một số dân biểu nghị sĩ đảng Cộng Hoà cho rằng ngân sách 787 kích thích kinh tế của tổng thống Obama không giúp đặt căn bản cho sự phát triển dài lâu như sự giảm thuế cho giới tư bản và khuyến khích giúp đỡ các đại công ti. Họ quên rằng các chính sách trên đã được thi hành trong 8 năm của Bush và vì quá tin vào sự nhiệm mầu của thuyết supply-side và trickle-down quên cả nhiệm vụ kiểm soát đã đưa đến tình trạng nguy ngập hôm nay.
Người ta phê bình đảng Dân Chủ và ông Obama đang áp dụng nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của Âu châu, hậu quả sẽ làm cho Hoa Kỳ trở nên nghèo khó thiếu thốn như tại Âu châu. Sự phê bình này có giá trị ở chỗ Hoa Kỳ là một nước tư bản và nền kinh tế tư bản cung cầu của nó đã giúp nước Mỹ thành cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng sự phê bình không có giá trị ở chỗ là nếu không tạm thời Âu châu hoá nền kinh tế Hoa Kỳ thì trận bão táp kinh tế 2008 này có thể sẽ làm tê liệt quốc gia. Các nước Âu châu không phải bỗng nhiên có một chế độ kinh tế tư bản đậm mầu sắc xã hội như hiện nay, trong đó sự giúp đỡ người yếu kém trong xã hội cũng cần thiết như sự phát triển kinh tế. Là một lục địa già và cũ (Old Europe - theo lời của cựu bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld) Âu châu đã trải qua mọi thử thách, và có thể họ đang chọn cái giải pháp mà họ cho là tối hảo.
Chương trình kích thích kinh tế tổng thống Obama vừa ký ban hành sẽ làm chậm lại đà suy thoái kinh tế hiện nay, đó là điều không cần bàn cãi. Điều cần bàn cãi là nó có giúp cho nền kinh tế phục hồi hoàn toàn hay không, và một câu hỏi then chốt khác là hệ lụy thâm thủng ngân sách (để có tiền kích thích kinh tế) là một gánh nặng con cháu chúng ta có kham nổi hay không. Vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới sau cuộc khủng hoảng này hoàn toàn lệ thuộc vào đáp số của hai câu hỏi trên.
Nhìn rộng ra, hình như chính trị và kinh tế thế giới biến chuyển qua lại giữa hai quan niệm phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Khi tình trạng phát triển kinh tế gặp trở ngại như suy thoái kinh tế đe doạ an sinh xã hội thì các biện pháp mang lại an sinh xã hội trở thành ưu tiên. Khi các biện pháp quá chú trọng về an sinh xã hội làm cho kinh tế bị ngưng trệ thì đó là lúc giảm sự can thiệp của chính phủ đề nền kinh tế được tự do.
Khi những người lập quốc Hoa Kỳ hình thành trên căn bản một chế độ lưỡng đảng, một bên Cộng Hoà chủ trương phát triển là chính (dân sinh sẽ được phục vụ do thành quả của kết quả kinh tế), một bên Dân Chủ chú trọng đến dân sinh (phát triển là một quan tâm nhưng ưu tiên sau dân sinh) bảo đảm bởi một Hiến pháp đa đảng họ đã thấy sự vận hành này của xã hội mà mọi chế độ chính trị đều phải tuân theo như một quy luật. Cho nên sự tranh cãi giữa Cộng Hoà và Dân Chủ tại Hoa Kỳ không là một vấn đề. Đó là một sinh hoạt dân chủ để làm cho Hoa Kỳ luôn là một quốc gia hùng mạnh trong khi nhân dân được bảo đảm một đời sống tự do, phóng khoáng và đầy đủ.
Thuyết Mác xít do Karl Marx và Engels chủ trương trên bản chất là một nỗ lực giải quyết bất công xã hội do cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Anh quốc (cuối thế kỷ 18 kéo dài sang đầu thế kỷ 19) mang lại như môi trường bị huỷ hoại, đời sống kinh tế chênh lệch, thành phần thợ thuyền bị bóc lột... Nhưng lý thuyết cải tạo xã hội của Marx chủ trương tiêu diệt tư hữu và thị trường đã đi quá đà, chệch hướng, và đã cung cấp một căn bản lý thuyết cho những tay đầu cơ chính trị thiết lập những chế độ độc tài. Chế độ độc tài Mác xít tại Liên bang Xô viết (trong đó chính phủ nắm toàn bộ sinh hoạt kinh tế) đã tàn tạ cùng với các nước Đông Âu, và các chế độ cộng sản tại Trung quốc, và Việt Nam cũng trên con đường tàn tạ nhường chỗ cho kinh tế thị trường.
Tại Việt Nam chính quyền cộng sản từ năm 1986 đã tạm từ bỏ chế độ kinh tế tập trung trả quyền quyết định kinh tế cho nông dân và các thương gia nhưng vẫn kéo dài cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” trong một nền kinh tế mệnh danh là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lý thuyết “định hướng” này không có gì sai trái nếu nó được dùng như một phương thức để tránh những thái quá của kinh tế thị trường như sự phân nhiệm “Cộng Hoà, Dân Chủ” tại Hoa Kỳ. Rất tiếc tại Việt Nam nó là một công thức để bảo vệ đảng cầm quyền. Đảng nắm các sinh hoạt quốc doanh nói là để bảo vệ xã hội nhưng thực chất là để bảo vệ quyền lợi của đảng.
Tại Trung quốc có một biến chuyển đáng quan tâm do ông Lý Thành (Cheng Li) nêu ra trong bài viết nhan đề “China’s Team of Rivals” đăng trong tạp chí Foreign Policy số Tháng Ba/Tháng Tư 2009. Theo ông Lý, Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đã có một quyết định độc đáo trong Đại hội đảng thứ 17 (10/2007) là cất nhắc hai Ủy viên Trung ương đảng trẻ tuổi vào Uỷ ban Thường trực của Bộ chính trị là hai ông Tập Cận Bình (Xi Jinping) và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) để chuẩn bị cho một trong hai trở thành Tổng bí thư đảng vào đại hội đảng thứ 18 năm 2012.
Hai nhân vật này có khuynh hướng và đường lối chính trị khác nhau. Ông Tập Cận Bình thuộc nhóm có khuynh hướng cởi mở chủ trương kinh tế thị trường, khuyến khích kinh tế tư nhân (gọi là nhóm Con Dòng – Elitism) (1) trong khi ông Lý Khắc Cường thuộc nhóm có khuynh hướng chăm lo các vấn đề xã hội và sự ổn định của đời sống nông thôn là chính (gọi là nhóm Dân Tuý – Populist). Hình như ông Hồ Cẩm Đào có ý chuẩn bị hai khuynh hướng đối chọi nhau trong đảng như một cơ chế điều chỉnh những thái quá của sự nhắm mắt phát triển bất chấp hậu quả hay sự can thiệp quá sâu đậm của nền kinh tế xã hội tàn dư của nền kinh tế Mác Xít. Có thể đảng Cộng sản Trung quốc đã cảm nhận được rằng đảng không thể giữ tính chính thống và tồn tại nếu tiếp tục đường lối kinh tế dựa vào xuất cảng là chính như hiện nay và đàn áp mọi tiếng nói đối lập của nhân dân. Với công thức mới đảng Cộng sản Trung quốc chuẩn bị cho đối lập lên tiếng qua khuynh hướng Lý Khắc Cường (hoặc ngược lại qua khuynh hướng Tập Cận Bình nếu khuynh hướng Lý Khắc Cường cầm quyền). Mèo trắng mèo đen đều có ích nếu duy trì được sự chính thống của đảng. Và vào đại hội thứ 18 tùy theo đảng Cộng sản Trung quốc chọn đường lối ưu tiên phát triển hay ưu tiên chăm lo dân sinh ổn định xã hội mà ông Tập Cận Bình hay Lý Khắc Cường sẽ được bầu vào chức vụ Tổng bí thư.
Nếu quả thật đây là thâm ý chính trị của đảng Cộng sản Trung quốc thì chuyển biến này sẽ tạo ra tại Trung quốc một khung cảnh chính trị không khác gì Cộng Hoà và Dân Chủ tại Hoa Kỳ.
Âu, Á, Tư Bản chủ nghĩa và Xã Hội chủ nghĩa gặp nhau ở đây. Và cuối cùng công thức xã hội Âu châu, một xã hội có tự do dân chủ, có một nền chính trị đa đảng và một chế độ xã hội trong đó người không may mắn và ít khả năng vẫn có thể sống chứ không bị chôn vùi dưới lớp gạch nặng nề của các đại ngân hàng và của các đại công ty sẽ là cái xã hội mà Hoa Kỳ và Trung quốc vốn khởi đầu từ những xuất phát hoàn toàn đối nghịch với nhau sẽ cùng đi đến.
Trần Bình Nam
27/02/2009
วันอังคารที่ 13 มกราคม พ.ศ. 2552
No244: Cộng sản Việt Nam và lý luận về nhân quyền
Tin tức từ Đài Á Châu Tự Do cho biết: Hai ngày 17 và 18 tháng 12 năm 2008, phái đoàn quốc hội CSVN đã đến tiếp xúc với quốc hội Âu Châu ở Brussels và Strasbourg. Đây là cuộc thương thảo lần thứ 7 nhằm tái tục ký kết hiệp ước Song Phương Liên Âu và Việt Nam. Những phát biểu của đại biểu quốc hội CSVN trong trường hợp này là những phát biểu chính thức và có chuẩn bị trước.
Ngày 20/12/2008, cô Ý Lan phóng viên đài Á Châu Tự Do thực hiện một cuộc phỏng vấn dành cho ông Marco Cappato, dân biểu quốc hội Âu Châu. Ông dân biểu Marco Cappato xác nhận : Trưởng phái đoàn quốc hội CSVN là ông Nguyễn Văn Sơn. Người phát biểu quan điểm về nhân quyền của CSVN là ông Nguyễn Viết Thịnh, dân biểu thành phố Hà Nội. Qua cuộc phỏng vấn vừa kể ông Nguyễn Viết Thịnh đã trình bày với quốc hội Âu Châu các quan điểm của CSVN về nhân quyền. Trong những trình bày kia có một quan điểm rất đáng quan tâm. Quan điểm rằng: “Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm đến tự do ngôn luận mà quan tâm về ăn uống, đói no”.
Bây giờ, bài viết này xin trình bày những phân tích và lượng giá đối với quan điểm cho là: Người dân nghèo không cần tự do ngôn luận, chỉ cần ăn uống. Muốn có tự do ngôn luận, con người cần có đầy đủ những dữ kiện và năng lực cần thiết để có thể ngôn và có thể luận. Những dữ kiện và năng lực kia là quyền tự do hấp thụ giáo dục. Tự do tiếp nhận nhiều nguồn thông tin khác nhau. Tự do tư tưởng và diễn đạt tư tưởng. Tự do báo chí. Tự do tôn giáo. Tự do hội họp và lập hội. Tự do được sống trong môi trường lành mạnh của con người. Lành mạnh cả về thể chất lẩn tinh thần…Tự do ngôn luận cũng như bất kỳ loại tự do nào, không thể đứng tách rời với các quyền tự do khác. Tự do đơn lẻ là tự do rổng tuếch, vô nghĩa. Nói ngắn và gọn: Nhân quyền là một tập hợp nhiều quyền tự do bất khả phân ly. Từ đó, tự do ngôn luận chính là nhân quyền và nhân quyền chính là tự do ngôn luân. Như vậy, phải chăng: “Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm đến NHÂN QUYỀN mà quan tâm về ăn uống đói no” ?
Vấn đề không là sự nhấn mạnh một cách dư thừa: Người dân nghèo khổ cần cơm ăn, nước uống. Vấn đề chính là sự xác định những nguyên nhân đã giam cầm người dân trong nghèo đói. Biết được nguyên nhân tức là biết được các phương pháp giải cứu người dân thoát khỏi vòng cùng khổ. Sau đây là những suy nghĩ căn bản về các nguyên nhân của nghèo đói:
1. Muốn có đời sống hạnh phúc và no ấm, trước tiên con người phải đươc hấp thụ một nền giáo dục tiến bộ. Giáo dục cung ứng cho người dân nghề nghiệp để mưu sinh, đạo đức để làm người lương hảo. CSVN chỉ dành cho công cuộc phát triển giáo dục học đường một số kinh phí tượng trưng. Hầu hết ngân quỹ quốc gia đều chạy vào túi riêng của đảng viên CS. Trường lớp khan hiếm, hư nát, học cụ nghèo nàn… Thầy giáo lương không đủ sống. Ban ngày đi dạy, ban đêm đi bán hàng rong. Mãi cho đến ngày nay sinh viên, học sinh vẫn bị cưởng bách học Marx, học Hồ, hai môn học hoàn toàn không liên hệ gì đến nhu cầu phát triển xã hội. Về mặt giáo dục xã hội, CSVN ru ngủ tinh thần chống đối độc tài của người dân bằng cách vừa thả nổi các loại tệ đoan xã hội, vừa ngăn cấm tự do báo chí, bưng bít mọi tin tức bất lợi cho đảng CS. Người dân không được thấy, không được nghe, không được nói. Chính sách giáo dục học đường cũng như giáo dục xã hội của chế độ Hà Nội hiển nhiên là chính sách ngu dân. Trên đia bàn giáo dục, CSVN đã triệt để chà đạp điều 26 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày10/12/1948. Điều này qui định quyền được hấp thụ giáo dục của con người.
2. Điều 23 khoản (1) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ) đòi hỏi mọi người phải được đối xử công bằng trong cơ hội làm việc, cơ hội chống thất nghiệp. Xã hội Việt Nam dưới chế độ CS có hai giai cấp rõ rệt: đảng viên thống trị; quần chúng bị trị. Đảng chỉ lo thu xếp cho đảng viên có việc làm nhiều bổng lộc, nhiều cơ hội để bóc lột người dân. Quần chúng bị đảng CS cố tình lãng quên. Họ phải ngược suôi đi tìm miếng cơm, manh áo, sống đắp đổi qua ngày.
3. Qui luật vận hành kinh tế thị trường tự do đòi hỏi: Giá cả sức lao động phải do sự thương lượng tự do giữa chủ và thợ. Nhằm giúp công nhân thấp cổ bé miệng đương đầu với mọi âm mưu bóc lột của giới chủ, điều 23 khoản (4) TNQTNQ đòi hỏi nhà cầm quyền các quốc gia phải tôn trọng quyền tự do thành lập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của người thợ. CSVN phục vụ giới chủ quốc doanh và chủ ngoại quốc bằng cách nghiêm cấm công nhân thành lập nghiệp đoàn, gia nhập nghiệp đoàn.
4. Điều 17 TNQTNQ xác định quyền tư hữu của con người phải đựoc triệt để tôn trọng thì người dân mới có thể an cư. An cư là điều kiện tiên quyết của lạc nghiệp. Ngày 09/01/2009, trả lời một câu hỏi về quyền tư hữu tại Việt Nam của ký giả Thiện Giao, đài Á Châu Tự Do, tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên giảng sư luật học tai Đức quốc cho biết: “Người dân chỉ được quyền sử dụng đất thôi. Quyền sử dụng đất là một quyền có thời hạn và giới hạn. đây chính là một vấn nạn. Theo tôi thì chính việc không thừa nhận quyền tư hữu về đất đai là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam”. Tham nhũng là cửa ngõ đẩy toàn dân vào đại họa nghèo đói.
Bốn suy nghĩ ở trên tuy được trình bày một cách khái quát nhưng đủ để nêu bật chân lý rằng: Chính tệ nạn chà đạp nhân quyền do CSVN chủ động là nguyên nhân cội rễ của nghèo đói chứ không phải “Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm đến nhân quyền, mà quan tâm về ăn uống đói no”. Vì vậy, muốn giải quyết nạn nghèo đói tại Việt Nam quần chúng Việt Nam phải loại bỏ nhà cầm quyền chà đạp nhân quyền thay vì ngoan ngoản chấp nhận đời - sống - ăn - uống - đủ - để - không - chết.
Vả lại, muốn phân định được các vấn đề cần quan tâm hay không cần quan tâm, người dân phải có trình độ nhận thức nhất định. Đi tìm trình độ nhân thức trong một xã hội ngu dân do CSVN sản sinh ra chẳng khác nào mò kim đáy biển. Mới đây nhất, các ngày đầu năm, từ ngày 1 đến 5 tháng 01/ 2009, Lễ Hội Hoa Xuân của Hà Nội bất ngờ bị người Hà Nội biến thành Lễ Hội tự do trộm hoa, bẻ hoa, chôm hoa, chỉa hoa, phá huỷ hoa…Lễ Hội Hoa Xuân của thủ đô Hà Nội 2009 đã làm cho toàn thể người Việt Nam xấu hổ đến ngẩn ngơ. Xấu hổ bởi lẽ Lễ Hôi Hoa Xuân là cơ hội mở ra cho thế giới được hiểu: Thế nào là “Văn hóa của bầy ruồi”? Blogger Đông Ngàn xuất hiện trên TinNhanhBlog.com là tác giả của thuật ngữ “Văn hóa của bầy ruồi”. Ai là người chịu trách nhiệm về hiện tượng văn hóa của bầy ruồi? Câu hỏi này là sự gợi ý để người Việt Nam nghĩ đến quan niệm Xã ước của Jean Jacques Rousseau cuối thế kỷ 18 (1712-1778). Xã ước là ý tưởng rằng: Con người sống hợp quần thành xã hội có nghĩa là giữa con người và xã hội đã hình thành một khế ước gồm hai điều khoản:
Một là: con người tự nguyên hạn chế tự do cá nhân trên căn bản: tự do của một người có ranh giới là tự do của những người chung quanh.
Hai là: xã hôi - Do nhà cầm quyền đại diện - có nghĩa vụ cung ứng cho người dân những nhu cầu của đời sống hợp quần. Trong đó, có hai nhu cầu nền tảng. Nhu cầu thể chất là cơm no, áo ấm. Nhu cầu tinh thần là văn hóa giáo dục thăng hoa.
Từ xã ước của Jean Jacques Rousseau nhìn vào xã hội Việt Nam, chúng ta nhận ra ngay rằng đảng CSVN do mãi mê ngụp lặn trong tham ô đã không thi hành điều hai của Xã Ước. Như vậy chế độ Hà Nội phải hoàn toàn chịu trách nhiêm về biến cố “Văn hóa của bầy ruồi”. Biến cố kia đã hiên ngang và ầm ỉ vẩy vùng ngay giữa thủ đô Hà Nội. Trước khi bị CSVN thống trị, Thăng Long Thành được tiếng là Quê Hương của ngàn năm văn hiến. Giữa muôn vàn điên đảo trong quốc bệnh “văn hóa của bầy ruồi” đảng CSVN không thể viện dẫn lý lẽ rằng người dân quan tâm điều này, không quan tâm điều kia để biện minh cho tội ác chà đạp nhân quyền của chế độ Hà Nội. Bác sĩ y khoa chửa bệnh cho bệnh nhân bằng kiến thức y khoa chuyên biệt chứ không bằng cách chạy theo các loai vi trùng và dược liệu mà bác sĩ cho là bệnh nhân quan tâm. Rõ ràng là không có bệnh nhân nào có đủ kiến thức y khoa để đưa ra những quan tâm khiến bác sĩ phải chạy theo. Sau rất nhiều thập niên bị CSVN giam trói trong hầm hố ngu dân, sau rất nhiều biến cố quay cuồng kiểu “ Văn hóa của bầy ruồi”, kiến thức của dân chúng Việt Nam, dưới chế độ CS, về quan hệ giữa kinh tế, chính trị và nhân quyền còn tệ hại hơn kiến thức y khoa của bệnh nhân trong câu chuyện vừa kể. CSVN đã thực sự gian dối , và làm nhục quốc thể khi mang nhóm chữ “Người dân quan tâm” đặt trên bàn thương nghị về Quốc Tế Nhân Quyền.
Xin đừng trốn tránh chủ đề Nhân Quyền bằng cách ẩn nấp đàng sau tấm bảng “Người dân quan tâm về ăn uống, đói no”. Xin hãy tức thời chấm dứt vở tuồng nói suông về nghèo đói. Hãy hành động chống nghèo đói. Hãy giải thoát người dân khỏi cảnh nghèo đói. Các hành đông giải thoát kia bao gồm:
1. Liên tục giải thích sâu và rộng cho toàn thể quần chúng Việt Nam đặng biết: CSVN chà đạp nhân quyền là nguyên nhân trọng tâm khiến đất nước nghèo đói triền miên. Nghèo đói cơm áo cũng như nghèo đói văn hóa giáo dục. Cao điểm của nghèo đói văn hóa giáo dục là “Văn hóa của bầy ruồi”.
2. Can đảm và quyết liệt vận dụng các đòn bẩy của lịch sử để tạo điều kiện buộc đảng CSVN phải đối mặt với thế lực của đại khối quần chúng nổi giận. Trong cuộc đối mặt này CSVN chỉ có thể chọn lựa một trong hai con đường: hoặc là triệt để tôn trọng nhân quyền, hoặc là lập tức chấp nhận luật đào thải khắc nghiệt của lịch sử.
Ngày 20/12/2008, cô Ý Lan phóng viên đài Á Châu Tự Do thực hiện một cuộc phỏng vấn dành cho ông Marco Cappato, dân biểu quốc hội Âu Châu. Ông dân biểu Marco Cappato xác nhận : Trưởng phái đoàn quốc hội CSVN là ông Nguyễn Văn Sơn. Người phát biểu quan điểm về nhân quyền của CSVN là ông Nguyễn Viết Thịnh, dân biểu thành phố Hà Nội. Qua cuộc phỏng vấn vừa kể ông Nguyễn Viết Thịnh đã trình bày với quốc hội Âu Châu các quan điểm của CSVN về nhân quyền. Trong những trình bày kia có một quan điểm rất đáng quan tâm. Quan điểm rằng: “Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm đến tự do ngôn luận mà quan tâm về ăn uống, đói no”.
Bây giờ, bài viết này xin trình bày những phân tích và lượng giá đối với quan điểm cho là: Người dân nghèo không cần tự do ngôn luận, chỉ cần ăn uống. Muốn có tự do ngôn luận, con người cần có đầy đủ những dữ kiện và năng lực cần thiết để có thể ngôn và có thể luận. Những dữ kiện và năng lực kia là quyền tự do hấp thụ giáo dục. Tự do tiếp nhận nhiều nguồn thông tin khác nhau. Tự do tư tưởng và diễn đạt tư tưởng. Tự do báo chí. Tự do tôn giáo. Tự do hội họp và lập hội. Tự do được sống trong môi trường lành mạnh của con người. Lành mạnh cả về thể chất lẩn tinh thần…Tự do ngôn luận cũng như bất kỳ loại tự do nào, không thể đứng tách rời với các quyền tự do khác. Tự do đơn lẻ là tự do rổng tuếch, vô nghĩa. Nói ngắn và gọn: Nhân quyền là một tập hợp nhiều quyền tự do bất khả phân ly. Từ đó, tự do ngôn luận chính là nhân quyền và nhân quyền chính là tự do ngôn luân. Như vậy, phải chăng: “Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm đến NHÂN QUYỀN mà quan tâm về ăn uống đói no” ?
Vấn đề không là sự nhấn mạnh một cách dư thừa: Người dân nghèo khổ cần cơm ăn, nước uống. Vấn đề chính là sự xác định những nguyên nhân đã giam cầm người dân trong nghèo đói. Biết được nguyên nhân tức là biết được các phương pháp giải cứu người dân thoát khỏi vòng cùng khổ. Sau đây là những suy nghĩ căn bản về các nguyên nhân của nghèo đói:
1. Muốn có đời sống hạnh phúc và no ấm, trước tiên con người phải đươc hấp thụ một nền giáo dục tiến bộ. Giáo dục cung ứng cho người dân nghề nghiệp để mưu sinh, đạo đức để làm người lương hảo. CSVN chỉ dành cho công cuộc phát triển giáo dục học đường một số kinh phí tượng trưng. Hầu hết ngân quỹ quốc gia đều chạy vào túi riêng của đảng viên CS. Trường lớp khan hiếm, hư nát, học cụ nghèo nàn… Thầy giáo lương không đủ sống. Ban ngày đi dạy, ban đêm đi bán hàng rong. Mãi cho đến ngày nay sinh viên, học sinh vẫn bị cưởng bách học Marx, học Hồ, hai môn học hoàn toàn không liên hệ gì đến nhu cầu phát triển xã hội. Về mặt giáo dục xã hội, CSVN ru ngủ tinh thần chống đối độc tài của người dân bằng cách vừa thả nổi các loại tệ đoan xã hội, vừa ngăn cấm tự do báo chí, bưng bít mọi tin tức bất lợi cho đảng CS. Người dân không được thấy, không được nghe, không được nói. Chính sách giáo dục học đường cũng như giáo dục xã hội của chế độ Hà Nội hiển nhiên là chính sách ngu dân. Trên đia bàn giáo dục, CSVN đã triệt để chà đạp điều 26 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày10/12/1948. Điều này qui định quyền được hấp thụ giáo dục của con người.
2. Điều 23 khoản (1) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ) đòi hỏi mọi người phải được đối xử công bằng trong cơ hội làm việc, cơ hội chống thất nghiệp. Xã hội Việt Nam dưới chế độ CS có hai giai cấp rõ rệt: đảng viên thống trị; quần chúng bị trị. Đảng chỉ lo thu xếp cho đảng viên có việc làm nhiều bổng lộc, nhiều cơ hội để bóc lột người dân. Quần chúng bị đảng CS cố tình lãng quên. Họ phải ngược suôi đi tìm miếng cơm, manh áo, sống đắp đổi qua ngày.
3. Qui luật vận hành kinh tế thị trường tự do đòi hỏi: Giá cả sức lao động phải do sự thương lượng tự do giữa chủ và thợ. Nhằm giúp công nhân thấp cổ bé miệng đương đầu với mọi âm mưu bóc lột của giới chủ, điều 23 khoản (4) TNQTNQ đòi hỏi nhà cầm quyền các quốc gia phải tôn trọng quyền tự do thành lập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của người thợ. CSVN phục vụ giới chủ quốc doanh và chủ ngoại quốc bằng cách nghiêm cấm công nhân thành lập nghiệp đoàn, gia nhập nghiệp đoàn.
4. Điều 17 TNQTNQ xác định quyền tư hữu của con người phải đựoc triệt để tôn trọng thì người dân mới có thể an cư. An cư là điều kiện tiên quyết của lạc nghiệp. Ngày 09/01/2009, trả lời một câu hỏi về quyền tư hữu tại Việt Nam của ký giả Thiện Giao, đài Á Châu Tự Do, tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên giảng sư luật học tai Đức quốc cho biết: “Người dân chỉ được quyền sử dụng đất thôi. Quyền sử dụng đất là một quyền có thời hạn và giới hạn. đây chính là một vấn nạn. Theo tôi thì chính việc không thừa nhận quyền tư hữu về đất đai là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam”. Tham nhũng là cửa ngõ đẩy toàn dân vào đại họa nghèo đói.
Bốn suy nghĩ ở trên tuy được trình bày một cách khái quát nhưng đủ để nêu bật chân lý rằng: Chính tệ nạn chà đạp nhân quyền do CSVN chủ động là nguyên nhân cội rễ của nghèo đói chứ không phải “Đối với dân chúng nghèo, họ không quan tâm đến nhân quyền, mà quan tâm về ăn uống đói no”. Vì vậy, muốn giải quyết nạn nghèo đói tại Việt Nam quần chúng Việt Nam phải loại bỏ nhà cầm quyền chà đạp nhân quyền thay vì ngoan ngoản chấp nhận đời - sống - ăn - uống - đủ - để - không - chết.
Vả lại, muốn phân định được các vấn đề cần quan tâm hay không cần quan tâm, người dân phải có trình độ nhận thức nhất định. Đi tìm trình độ nhân thức trong một xã hội ngu dân do CSVN sản sinh ra chẳng khác nào mò kim đáy biển. Mới đây nhất, các ngày đầu năm, từ ngày 1 đến 5 tháng 01/ 2009, Lễ Hội Hoa Xuân của Hà Nội bất ngờ bị người Hà Nội biến thành Lễ Hội tự do trộm hoa, bẻ hoa, chôm hoa, chỉa hoa, phá huỷ hoa…Lễ Hội Hoa Xuân của thủ đô Hà Nội 2009 đã làm cho toàn thể người Việt Nam xấu hổ đến ngẩn ngơ. Xấu hổ bởi lẽ Lễ Hôi Hoa Xuân là cơ hội mở ra cho thế giới được hiểu: Thế nào là “Văn hóa của bầy ruồi”? Blogger Đông Ngàn xuất hiện trên TinNhanhBlog.com là tác giả của thuật ngữ “Văn hóa của bầy ruồi”. Ai là người chịu trách nhiệm về hiện tượng văn hóa của bầy ruồi? Câu hỏi này là sự gợi ý để người Việt Nam nghĩ đến quan niệm Xã ước của Jean Jacques Rousseau cuối thế kỷ 18 (1712-1778). Xã ước là ý tưởng rằng: Con người sống hợp quần thành xã hội có nghĩa là giữa con người và xã hội đã hình thành một khế ước gồm hai điều khoản:
Một là: con người tự nguyên hạn chế tự do cá nhân trên căn bản: tự do của một người có ranh giới là tự do của những người chung quanh.
Hai là: xã hôi - Do nhà cầm quyền đại diện - có nghĩa vụ cung ứng cho người dân những nhu cầu của đời sống hợp quần. Trong đó, có hai nhu cầu nền tảng. Nhu cầu thể chất là cơm no, áo ấm. Nhu cầu tinh thần là văn hóa giáo dục thăng hoa.
Từ xã ước của Jean Jacques Rousseau nhìn vào xã hội Việt Nam, chúng ta nhận ra ngay rằng đảng CSVN do mãi mê ngụp lặn trong tham ô đã không thi hành điều hai của Xã Ước. Như vậy chế độ Hà Nội phải hoàn toàn chịu trách nhiêm về biến cố “Văn hóa của bầy ruồi”. Biến cố kia đã hiên ngang và ầm ỉ vẩy vùng ngay giữa thủ đô Hà Nội. Trước khi bị CSVN thống trị, Thăng Long Thành được tiếng là Quê Hương của ngàn năm văn hiến. Giữa muôn vàn điên đảo trong quốc bệnh “văn hóa của bầy ruồi” đảng CSVN không thể viện dẫn lý lẽ rằng người dân quan tâm điều này, không quan tâm điều kia để biện minh cho tội ác chà đạp nhân quyền của chế độ Hà Nội. Bác sĩ y khoa chửa bệnh cho bệnh nhân bằng kiến thức y khoa chuyên biệt chứ không bằng cách chạy theo các loai vi trùng và dược liệu mà bác sĩ cho là bệnh nhân quan tâm. Rõ ràng là không có bệnh nhân nào có đủ kiến thức y khoa để đưa ra những quan tâm khiến bác sĩ phải chạy theo. Sau rất nhiều thập niên bị CSVN giam trói trong hầm hố ngu dân, sau rất nhiều biến cố quay cuồng kiểu “ Văn hóa của bầy ruồi”, kiến thức của dân chúng Việt Nam, dưới chế độ CS, về quan hệ giữa kinh tế, chính trị và nhân quyền còn tệ hại hơn kiến thức y khoa của bệnh nhân trong câu chuyện vừa kể. CSVN đã thực sự gian dối , và làm nhục quốc thể khi mang nhóm chữ “Người dân quan tâm” đặt trên bàn thương nghị về Quốc Tế Nhân Quyền.
Xin đừng trốn tránh chủ đề Nhân Quyền bằng cách ẩn nấp đàng sau tấm bảng “Người dân quan tâm về ăn uống, đói no”. Xin hãy tức thời chấm dứt vở tuồng nói suông về nghèo đói. Hãy hành động chống nghèo đói. Hãy giải thoát người dân khỏi cảnh nghèo đói. Các hành đông giải thoát kia bao gồm:
1. Liên tục giải thích sâu và rộng cho toàn thể quần chúng Việt Nam đặng biết: CSVN chà đạp nhân quyền là nguyên nhân trọng tâm khiến đất nước nghèo đói triền miên. Nghèo đói cơm áo cũng như nghèo đói văn hóa giáo dục. Cao điểm của nghèo đói văn hóa giáo dục là “Văn hóa của bầy ruồi”.
2. Can đảm và quyết liệt vận dụng các đòn bẩy của lịch sử để tạo điều kiện buộc đảng CSVN phải đối mặt với thế lực của đại khối quần chúng nổi giận. Trong cuộc đối mặt này CSVN chỉ có thể chọn lựa một trong hai con đường: hoặc là triệt để tôn trọng nhân quyền, hoặc là lập tức chấp nhận luật đào thải khắc nghiệt của lịch sử.
No241: Về Chủ nghĩa xã hội Marxit & phi Marxit (2)
(Tiếp)
3.Tại sao không bỏ luôn mấy chữ “xã hội chủ nghĩa” ấy đi - khỏi cần chủ nghĩa gì cả miễn nhân dân được giàu có, tự do: rất nhiều người hiện nay đã nghĩ như vậy!
Hoàn toàn có lý để người ta nghĩ như vậy - nếu “chủ nghĩa xã hội” vẫn được hiểu là một cái gì quá đẹp đẽ, quá xa vời. Trong trường hợp đó, có lẽ chẳng nên nói đến chủ nghĩa xã hội làm gì mà chỉ nên cố gắng làm cho được những cái mà nhân loại bình thường đã làm thôi, nhất là trong điều kiện một nước chậm phát triển không có nhiều thời gian và vốn liếng để chúng ta thí nghiệm đi thí nghiệm lại những mô hình lý tưởng nào đó một cách phiêu lưu; trái lại, chúng ta nên dựa vào những giá trị đã được thời gian thử thách, những kinh nghiệm của sự thành công, căn cứ vào đó huy động tiềm lực dân tộc đi nhanh vào con đường hiện đại hóa là quá tốt đẹp rồi. Lý lẽ ấy rõ rệt là không phủ nhận được; nhưng vấn đề cũng không đơn giản là như thế: phát triển không đơn thuần là sự tăng thêm số lượng của cải vật chất mà còn là vấn đề phẩm chất cuộc sống, vấn đề con người nữa. Dù muốn hay không, để có được một trình độ phát triển nào đó, câu hỏi sau đây cũng phải đặt ra: với một sự chuẩn bị tinh thần nào chúng ta đạt được trình độ ấy và để đạt được trình độ ấy, chúng ta phải trả giá bao nhiêu cho nhân phẩm con người? Câu hỏi ấy mặc nhiên đặt ra cho sự phát triển kinh tế cái khía cạnh văn hóa của nó và cái chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang nói đến không có ý nghĩa gì khác hơn là những lời giải đáp mang tính văn hóa cho phát triển kinh tế và xã hội. Nó là những lời giải đáp đem thêm vào và cho tốt hơn những cái bình thường có thật chứ không phải nhân danh những cái sẽ có mịt mùng để hy sinh những cái đang có. Nó không tính bằng những giấc mơ mà bằng những con số cho bài toán của đời sống: là sự tăng lên hàng năm số đôla bình quân trên đầu người trừ đi dần dần những người thất nghiệp, những trẻ bụi đời, những khu rừng bị tàn phá… và cũng trừ đi cả những cảnh tượng những nhà văn, nhà báo bị bịt mồm bịt miệng, bị răn đe và đưa đi tù vì tranh đấu cho tự do - một thứ chủ nghĩa xã hội như vậy, tại sao chúng ta lại chống lại nó!
4. Có thể gọi đó là một thứ chủ nghĩa xã hội – dân chủ được không?
Gọi tên là gì cũng được, nhưng theo một nhà xã hội học người Pháp (4) có lẽ nên gọi đó là một thứ chủ nghĩa xã hội không học thuyết (socialisme sans doctrine): nó không muốn lệ thuộc vào bất cứ hệ thống tư tưởng nào đi ngược lại cuộc sống con người, bởi vì nó là một thứ chủ nghĩa xã hội muốn giải phóng con người trong thực tế chứ không phải trong ý tưởng.
5. Liệu một thứ chủ nghĩa xã hội như vậy có mang tính “khả thi” trong điều kiện hiện nay hay không?
Câu hỏi này đưa chúng ta trở lại thực trạng cực kỳ phức tạp của đất nước. Mọi người đều cảm nhận hoặc nhìn thấy – rõ ràng đến đau đớn – sự phá sản không gì chống đỡ được của cái hệ thống giá trị do chủ nghĩa Mác-Lênin đem đến cho đời sống trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhưng tìm ra cho được một giải pháp tích cực để thay thế cho những cái lỗi thời trì trệ thì lại rất khó, và giả sử như tìm ra được rồi thì từ lĩnh vực lý thuyết tìm cách bước sang thực hành lại cũng không dễ dàng. Có một điều cần ghi nhận trước tiên: có lẽ vì trải qua quá nhiều xáo trộn, những người Việt Nam hiện nay đã bớt lạc quan về những cái gọi là “cách mạng” – dù bất cứ thứ cách mạng nào. Lật đổ được một chính quyền tàn ác quả là một “ngày hội”, khi tình thế đã đến thì không muốn, cách mạng cũng sẽ đến. Nhưng cuộc sống lại không phải lúc nào cũng là ngày hội mà là sự cần lao âm thầm khó khăn: không cuộc cách mạng nào xong rồi mà có ngay nhung và lụa. Người ta hiểu rất rõ cái lỗ trống do cơ chế chuyên quyền tạo ra là lớn lao như thế nào: đảo lộn rồi sẽ lấy gì thay thế nếu không muốn đưa xã hội vào những rối ren triền miên? Câu hỏi đặt ra dễ dàng nhưng tìm cho được câu trả lời thỏa đáng thì lại không thể vội vàng được. Tuy thế, nếu chấp nhận con đường “đổi mới” do “nhà nước xã hội chủ nghĩa” tiến hành như hiện nay, gọi là tạo ra “ổn định để phát triển” thì sự ổn định ấy cũng chẳng vững vàng gì: sử dụng các tiêu chuẩn của thứ chủ nghĩa xã hội sơ khai và huyễn tưởng (chuyên chính vô sản, xóa bỏ giai cấp…) để gọi là “điều tiết” những mặt tiêu cực của chủ nghĩa tư bản man rợ đang bung ra mạnh mẽ sau “đổi mới” thì hai thực thể ấy sẽ cấu kết với nhau, cộng hưởng với nhau để làm cho tình trạng phát triển hoang dại tăng lên, tạo ra cho xã hội những mâu thuẫn trước sau cũng sẽ bùng ra theo một chiều hướng không bình thường. Trong khi đó thì đối với những người cộng sản sáng suốt, nhìn rõ được mọi thứ, việc tìm ra một con đường cải cách phù hợp với tình hình mới, vừa bảo đảm được phát triển kinh tế, vừa dân chủ hóa được đời sống chính trị và văn hóa, cũng chưa gặp được những điều kiện thuận lợi để hình thành được một phương hướng đổi mới thỏa đáng hơn đường lối quan phương hiện nay.
6. Chấp nhận tất cả những giới hạn hiện có, đưa quyền lợi dân tộc lên chỗ cao nhất làm điểm tựa, chúng ta hãy thử hình dung ra một kịch bản tốt nhất có thể có cho đất nước!
Hướng suy nghĩ của tôi về vấn đề này là: tự mình, đảng cộng sản Việt Nam phải đưa chủ trương “đổi mới” hiện nay lên một chất lượng cao hơn nữa mà điểm cốt tử là dứt khoát phải từ bỏ chuyên chính vô sản, từ bỏ dùng chủ nghĩa Lênin để thực hiện chủ nghĩa xã hội mácxít, từng bước chuyển sang con đường chủ nghĩa xã hội phi mácxít thực hiện bằng định chế dân chủ đa nguyên. Nói một cách cụ thể, đảng cộng sản phải chuẩn bị hóa thân thành một đảng xã hội chủ nghĩa phi mácxít (mang danh gì cũng được), biến thành một thực thể dân chủ thì mới có thể tiếp tục làm được hai việc đồng thời với nhau: giữ được sự ổn định liên tục để phát triển kinh tế và nhân danh được một thứ chủ nghĩa xã hội khả thi để điều tiết được cơ chế thị trường theo những định hướng phù hợp với bản thân nó. Ðứng trước sự phá sản quá hiển nhiên của chủ nghĩa xã hội mácxít, xét về mặt lý luận, tôi không thấy có cách nào để vừa thừa kế vừa thay thế cái cũ tốt hơn là cách vừa nói.
7. Còn đứng về mặt hiện thực?
Về mặt này, mọi sự vội vã là không thích hợp. Giả thử về mặt lý luận mọi thứ đã chuẩn bị xong, tôi cho rằng cách hay nhất là vạch ra cho được một kế hoạch chủ động để trong khi vẫn cứ tiếp tục thực hiện đường lối “đổi mới” hiện nay, tích cực tạo ra những điều kiện thuận lợi để chuyển toàn bộ hoạt động của đảng và nhà nước sang một chiều hướng mới hoàn toàn mà sau đây là một số cải cách quan trọng:
- Tiến hành phi quốc doanh hóa toàn bộ đời sống kinh tế và chỉ giữ lại trong tay nhà nước những khu vực nào mà tư nhân chưa đảm nhận nổi, mục đích là để khuyến khích sự ra đời lớn mạnh dần của tầng lớp doanh nhân bản địa có khả năng đảm nhận việc làm chủ đất nước về mặt kinh tế, không để lệ thuộc nước ngoài.
- Luật pháp hóa toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; không để bất cứ thực thể pháp nhân nào sống trên luật pháp – bắt đầu trước tiên là đảng cộng sản. Không làm gương đi vào luật pháp để tạo ra sự ổn định được bảo vệ bằng ý chí chung thì sự “ổn định” áp đặt do chuyên chính cũng không thể vững bền – nó tạo ra một kháng thể ngược lại, nhưng cũng đồng tính chất – trả thù, ngạo mạn, độc đoán…
- Thực hiện quyền tồn tại độc lập pháp định của tất cả các lực lượng quần chúng hiện có đối với nhà nước, sau đó có thể cho ra đời dần dần những tổ chức chính trị có xu hướng cấp tiến ôn hòa, tiến dần đến chỗ hình thành một chế độ dân chủ đa nguyên, điều hợp bởi nhà nước pháp quyền, giải quyết những bất đồng giữa các thành viên của xã hội bằng con đường thương lượng hòa bình.
- Trong một phạm vi giới hạn (các đoàn thể xã hội, các cơ quan nghiên cứu, các đại học…) nới rộng quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, chấp nhận sự đối thoại, cọ xát giữa những xu hướng tư tưởng khác nhau (đặc biệt trong lĩnh vực triết học, văn nghệ) để qua đó dần dần dân chủ hóa đời sống tinh thần của xã hội. Chủ trương này rất quan trọng để tạo ra sức bật cho tầng lớp trí thức sáng tạo ra những giá trị mới làm phong phú sinh hoạt văn hóa.
- Bằng những chương trình đào tạo khẩn trương (nhà nước và toàn xã hội) xây dựng nên một đội ngũ chuyên viên trẻ tiếp thu được những kiến thức mới nhất trong mọi lĩnh vực của đời sống hiện đại (đặc biệt trong quản lý kinh tế, luật pháp, chính trị…) để họ thay dần lớp cán bộ già nua xuất thân trong kháng chiến, không đủ năng lực điều hành nhà nước dân chủ.
Tất cả những cải cách trên đây đều nhắm vào mục đích chuẩn bị cho sự ra đời những phần tử ưu tú của một xã hội công dân mới, lành mạnh, thực tế, năng động dựa vào đó hình thành một giai từng lãnh đạo mới để đưa đất nước nhanh chóng vào con đường hiện đại hóa và dân chủ hóa. Khi đã có được một lực lượng xã hội tích cực để lấp dần cái chỗ trống do chế độ chuyên quyền tạo ra thì lúc bấy giờ việc hóa thân của đảng cộng sản cũng sẽ được đặt ra một cách tự nhiên trong điều kiện đất nước đã thoát khỏi tình thế chông chênh cực kỳ nguy hiểm như hiện nay.
8. Cũng có thể gọi đó là một “thời kỳ quá độ”?
Quá độ từ xã hội chưa phát triển sang phát triển mà cũng quá độ từ xã hội chuyên chính sang dân chủ. Tôi cho rằng nếu chấp nhận cuộc chơi mới này một cách tỉnh táo, khôn ngoan, đảng cộng sản, do có được nhiều thuận lợi về lịch sử lẫn hiện tại, sẽ có nhiều cơ may để tiếp tục giữ được vị trí lãnh đạo của mình đối với đất nước trong một thời gian nữa. Tất nhiên vai trò ấy cũng không chấm dứt với sự giải thể tất yếu của đảng cộng sản: tuy đã chuyển mình sang thể chế khác, vai trò có khác đi nhưng uy tín và sức mạnh vẫn không thay đổi.
9. Những người cộng sản Việt Nam liệu có chấp nhận nổi một “kịch bản” như vậy không?
Chấp nhận hay không là tùy vào trình độ trí tuệ và bản lĩnh của họ. Trong khi đó thì mọi việc trong đời sống dường như không còn nghi ngờ gì nữa: thế giới đang đi vào con đường dân chủ và đất nước chúng ta cũng không có cách chọn lựa nào khác, vấn đề đặt ra là bằng cách nào mà thôi – đổ vỡ hay hòa bình mà thôi. Theo chỗ tôi biết thì hiện nay, với tư cách là những cá nhân, rất nhiều người cộng sản cũng đã nhận ra điều đó.
Kami tổng hợp.
-----------------------------
Nguồn:
1.Đàm thoại về CNXH-Lữ Phương
http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_DamThoaiVeChuNghiaXaHoiMacXit_full.htm
2.Nói về CNXH và CNCS-http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n
3.Karl Marx -http://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx
3.Tại sao không bỏ luôn mấy chữ “xã hội chủ nghĩa” ấy đi - khỏi cần chủ nghĩa gì cả miễn nhân dân được giàu có, tự do: rất nhiều người hiện nay đã nghĩ như vậy!
Hoàn toàn có lý để người ta nghĩ như vậy - nếu “chủ nghĩa xã hội” vẫn được hiểu là một cái gì quá đẹp đẽ, quá xa vời. Trong trường hợp đó, có lẽ chẳng nên nói đến chủ nghĩa xã hội làm gì mà chỉ nên cố gắng làm cho được những cái mà nhân loại bình thường đã làm thôi, nhất là trong điều kiện một nước chậm phát triển không có nhiều thời gian và vốn liếng để chúng ta thí nghiệm đi thí nghiệm lại những mô hình lý tưởng nào đó một cách phiêu lưu; trái lại, chúng ta nên dựa vào những giá trị đã được thời gian thử thách, những kinh nghiệm của sự thành công, căn cứ vào đó huy động tiềm lực dân tộc đi nhanh vào con đường hiện đại hóa là quá tốt đẹp rồi. Lý lẽ ấy rõ rệt là không phủ nhận được; nhưng vấn đề cũng không đơn giản là như thế: phát triển không đơn thuần là sự tăng thêm số lượng của cải vật chất mà còn là vấn đề phẩm chất cuộc sống, vấn đề con người nữa. Dù muốn hay không, để có được một trình độ phát triển nào đó, câu hỏi sau đây cũng phải đặt ra: với một sự chuẩn bị tinh thần nào chúng ta đạt được trình độ ấy và để đạt được trình độ ấy, chúng ta phải trả giá bao nhiêu cho nhân phẩm con người? Câu hỏi ấy mặc nhiên đặt ra cho sự phát triển kinh tế cái khía cạnh văn hóa của nó và cái chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang nói đến không có ý nghĩa gì khác hơn là những lời giải đáp mang tính văn hóa cho phát triển kinh tế và xã hội. Nó là những lời giải đáp đem thêm vào và cho tốt hơn những cái bình thường có thật chứ không phải nhân danh những cái sẽ có mịt mùng để hy sinh những cái đang có. Nó không tính bằng những giấc mơ mà bằng những con số cho bài toán của đời sống: là sự tăng lên hàng năm số đôla bình quân trên đầu người trừ đi dần dần những người thất nghiệp, những trẻ bụi đời, những khu rừng bị tàn phá… và cũng trừ đi cả những cảnh tượng những nhà văn, nhà báo bị bịt mồm bịt miệng, bị răn đe và đưa đi tù vì tranh đấu cho tự do - một thứ chủ nghĩa xã hội như vậy, tại sao chúng ta lại chống lại nó!
4. Có thể gọi đó là một thứ chủ nghĩa xã hội – dân chủ được không?
Gọi tên là gì cũng được, nhưng theo một nhà xã hội học người Pháp (4) có lẽ nên gọi đó là một thứ chủ nghĩa xã hội không học thuyết (socialisme sans doctrine): nó không muốn lệ thuộc vào bất cứ hệ thống tư tưởng nào đi ngược lại cuộc sống con người, bởi vì nó là một thứ chủ nghĩa xã hội muốn giải phóng con người trong thực tế chứ không phải trong ý tưởng.
5. Liệu một thứ chủ nghĩa xã hội như vậy có mang tính “khả thi” trong điều kiện hiện nay hay không?
Câu hỏi này đưa chúng ta trở lại thực trạng cực kỳ phức tạp của đất nước. Mọi người đều cảm nhận hoặc nhìn thấy – rõ ràng đến đau đớn – sự phá sản không gì chống đỡ được của cái hệ thống giá trị do chủ nghĩa Mác-Lênin đem đến cho đời sống trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhưng tìm ra cho được một giải pháp tích cực để thay thế cho những cái lỗi thời trì trệ thì lại rất khó, và giả sử như tìm ra được rồi thì từ lĩnh vực lý thuyết tìm cách bước sang thực hành lại cũng không dễ dàng. Có một điều cần ghi nhận trước tiên: có lẽ vì trải qua quá nhiều xáo trộn, những người Việt Nam hiện nay đã bớt lạc quan về những cái gọi là “cách mạng” – dù bất cứ thứ cách mạng nào. Lật đổ được một chính quyền tàn ác quả là một “ngày hội”, khi tình thế đã đến thì không muốn, cách mạng cũng sẽ đến. Nhưng cuộc sống lại không phải lúc nào cũng là ngày hội mà là sự cần lao âm thầm khó khăn: không cuộc cách mạng nào xong rồi mà có ngay nhung và lụa. Người ta hiểu rất rõ cái lỗ trống do cơ chế chuyên quyền tạo ra là lớn lao như thế nào: đảo lộn rồi sẽ lấy gì thay thế nếu không muốn đưa xã hội vào những rối ren triền miên? Câu hỏi đặt ra dễ dàng nhưng tìm cho được câu trả lời thỏa đáng thì lại không thể vội vàng được. Tuy thế, nếu chấp nhận con đường “đổi mới” do “nhà nước xã hội chủ nghĩa” tiến hành như hiện nay, gọi là tạo ra “ổn định để phát triển” thì sự ổn định ấy cũng chẳng vững vàng gì: sử dụng các tiêu chuẩn của thứ chủ nghĩa xã hội sơ khai và huyễn tưởng (chuyên chính vô sản, xóa bỏ giai cấp…) để gọi là “điều tiết” những mặt tiêu cực của chủ nghĩa tư bản man rợ đang bung ra mạnh mẽ sau “đổi mới” thì hai thực thể ấy sẽ cấu kết với nhau, cộng hưởng với nhau để làm cho tình trạng phát triển hoang dại tăng lên, tạo ra cho xã hội những mâu thuẫn trước sau cũng sẽ bùng ra theo một chiều hướng không bình thường. Trong khi đó thì đối với những người cộng sản sáng suốt, nhìn rõ được mọi thứ, việc tìm ra một con đường cải cách phù hợp với tình hình mới, vừa bảo đảm được phát triển kinh tế, vừa dân chủ hóa được đời sống chính trị và văn hóa, cũng chưa gặp được những điều kiện thuận lợi để hình thành được một phương hướng đổi mới thỏa đáng hơn đường lối quan phương hiện nay.
6. Chấp nhận tất cả những giới hạn hiện có, đưa quyền lợi dân tộc lên chỗ cao nhất làm điểm tựa, chúng ta hãy thử hình dung ra một kịch bản tốt nhất có thể có cho đất nước!
Hướng suy nghĩ của tôi về vấn đề này là: tự mình, đảng cộng sản Việt Nam phải đưa chủ trương “đổi mới” hiện nay lên một chất lượng cao hơn nữa mà điểm cốt tử là dứt khoát phải từ bỏ chuyên chính vô sản, từ bỏ dùng chủ nghĩa Lênin để thực hiện chủ nghĩa xã hội mácxít, từng bước chuyển sang con đường chủ nghĩa xã hội phi mácxít thực hiện bằng định chế dân chủ đa nguyên. Nói một cách cụ thể, đảng cộng sản phải chuẩn bị hóa thân thành một đảng xã hội chủ nghĩa phi mácxít (mang danh gì cũng được), biến thành một thực thể dân chủ thì mới có thể tiếp tục làm được hai việc đồng thời với nhau: giữ được sự ổn định liên tục để phát triển kinh tế và nhân danh được một thứ chủ nghĩa xã hội khả thi để điều tiết được cơ chế thị trường theo những định hướng phù hợp với bản thân nó. Ðứng trước sự phá sản quá hiển nhiên của chủ nghĩa xã hội mácxít, xét về mặt lý luận, tôi không thấy có cách nào để vừa thừa kế vừa thay thế cái cũ tốt hơn là cách vừa nói.
7. Còn đứng về mặt hiện thực?
Về mặt này, mọi sự vội vã là không thích hợp. Giả thử về mặt lý luận mọi thứ đã chuẩn bị xong, tôi cho rằng cách hay nhất là vạch ra cho được một kế hoạch chủ động để trong khi vẫn cứ tiếp tục thực hiện đường lối “đổi mới” hiện nay, tích cực tạo ra những điều kiện thuận lợi để chuyển toàn bộ hoạt động của đảng và nhà nước sang một chiều hướng mới hoàn toàn mà sau đây là một số cải cách quan trọng:
- Tiến hành phi quốc doanh hóa toàn bộ đời sống kinh tế và chỉ giữ lại trong tay nhà nước những khu vực nào mà tư nhân chưa đảm nhận nổi, mục đích là để khuyến khích sự ra đời lớn mạnh dần của tầng lớp doanh nhân bản địa có khả năng đảm nhận việc làm chủ đất nước về mặt kinh tế, không để lệ thuộc nước ngoài.
- Luật pháp hóa toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; không để bất cứ thực thể pháp nhân nào sống trên luật pháp – bắt đầu trước tiên là đảng cộng sản. Không làm gương đi vào luật pháp để tạo ra sự ổn định được bảo vệ bằng ý chí chung thì sự “ổn định” áp đặt do chuyên chính cũng không thể vững bền – nó tạo ra một kháng thể ngược lại, nhưng cũng đồng tính chất – trả thù, ngạo mạn, độc đoán…
- Thực hiện quyền tồn tại độc lập pháp định của tất cả các lực lượng quần chúng hiện có đối với nhà nước, sau đó có thể cho ra đời dần dần những tổ chức chính trị có xu hướng cấp tiến ôn hòa, tiến dần đến chỗ hình thành một chế độ dân chủ đa nguyên, điều hợp bởi nhà nước pháp quyền, giải quyết những bất đồng giữa các thành viên của xã hội bằng con đường thương lượng hòa bình.
- Trong một phạm vi giới hạn (các đoàn thể xã hội, các cơ quan nghiên cứu, các đại học…) nới rộng quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, chấp nhận sự đối thoại, cọ xát giữa những xu hướng tư tưởng khác nhau (đặc biệt trong lĩnh vực triết học, văn nghệ) để qua đó dần dần dân chủ hóa đời sống tinh thần của xã hội. Chủ trương này rất quan trọng để tạo ra sức bật cho tầng lớp trí thức sáng tạo ra những giá trị mới làm phong phú sinh hoạt văn hóa.
- Bằng những chương trình đào tạo khẩn trương (nhà nước và toàn xã hội) xây dựng nên một đội ngũ chuyên viên trẻ tiếp thu được những kiến thức mới nhất trong mọi lĩnh vực của đời sống hiện đại (đặc biệt trong quản lý kinh tế, luật pháp, chính trị…) để họ thay dần lớp cán bộ già nua xuất thân trong kháng chiến, không đủ năng lực điều hành nhà nước dân chủ.
Tất cả những cải cách trên đây đều nhắm vào mục đích chuẩn bị cho sự ra đời những phần tử ưu tú của một xã hội công dân mới, lành mạnh, thực tế, năng động dựa vào đó hình thành một giai từng lãnh đạo mới để đưa đất nước nhanh chóng vào con đường hiện đại hóa và dân chủ hóa. Khi đã có được một lực lượng xã hội tích cực để lấp dần cái chỗ trống do chế độ chuyên quyền tạo ra thì lúc bấy giờ việc hóa thân của đảng cộng sản cũng sẽ được đặt ra một cách tự nhiên trong điều kiện đất nước đã thoát khỏi tình thế chông chênh cực kỳ nguy hiểm như hiện nay.
8. Cũng có thể gọi đó là một “thời kỳ quá độ”?
Quá độ từ xã hội chưa phát triển sang phát triển mà cũng quá độ từ xã hội chuyên chính sang dân chủ. Tôi cho rằng nếu chấp nhận cuộc chơi mới này một cách tỉnh táo, khôn ngoan, đảng cộng sản, do có được nhiều thuận lợi về lịch sử lẫn hiện tại, sẽ có nhiều cơ may để tiếp tục giữ được vị trí lãnh đạo của mình đối với đất nước trong một thời gian nữa. Tất nhiên vai trò ấy cũng không chấm dứt với sự giải thể tất yếu của đảng cộng sản: tuy đã chuyển mình sang thể chế khác, vai trò có khác đi nhưng uy tín và sức mạnh vẫn không thay đổi.
9. Những người cộng sản Việt Nam liệu có chấp nhận nổi một “kịch bản” như vậy không?
Chấp nhận hay không là tùy vào trình độ trí tuệ và bản lĩnh của họ. Trong khi đó thì mọi việc trong đời sống dường như không còn nghi ngờ gì nữa: thế giới đang đi vào con đường dân chủ và đất nước chúng ta cũng không có cách chọn lựa nào khác, vấn đề đặt ra là bằng cách nào mà thôi – đổ vỡ hay hòa bình mà thôi. Theo chỗ tôi biết thì hiện nay, với tư cách là những cá nhân, rất nhiều người cộng sản cũng đã nhận ra điều đó.
Kami tổng hợp.
-----------------------------
Nguồn:
1.Đàm thoại về CNXH-Lữ Phương
http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_DamThoaiVeChuNghiaXaHoiMacXit_full.htm
2.Nói về CNXH và CNCS-http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n
3.Karl Marx -http://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx
No240: VềChủ nghĩa xã hội Marxit & phi Marxit (1)

Chỉnh sửa tiêu đề hay giới thiệu.
Lý luận triết học:VềChủ nghĩa xã hội Marxit & phi Marxit (1)
I.VÀI NÉT VỀ CHỦ NGHĨA MARX VỀ CNXH:
Chủ nghĩa cộng sản khoa học của Marx là lý thuyết trung tâm là kết quả của các nghiên cứu của Marx là bộ phận lý thuyết làm sóng gió lịch sử thế giới trong thế kỷ 20.
Marx cho rằng với sự sản xuất tập trung xã hội hoá cao độ với trình độ cao, hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa sản xuất ra một lượng của cải khổng lồ, trong khi đó giai cấp thụ hưởng là giai cấp tư sản chỉ là một bộ phận nhỏ của xã hội. Còn đại bộ phận xã hội là giai cấp công nhân (giai cấp làm thuê) thì không thể tiếp cận được của cải mà họ làm ra vì họ không có quyền sở hữu phương tiện sản xuất đang nằm trong tay các chủ tư bản. Các chủ tư bản thì không đời nào từ bỏ độc quyền tự nhiên của mình để bóc lột giai cấp công nhân. Do đó giai cấp công nhân phải vùng lên dùng bạo lực cách mạng để giành lấy phương tiện sản xuất xoá bỏ tận gốc rễ nguyên nhân "người bóc lột người" của chủ nghĩa tư bản. Đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Sau khi giành được chính quyền trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thì sở hữu phương tiện sản xuất sẽ là sở hữu toàn dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ thay mặt nhân dân điều hành sản xuất và nắm quyền sở hữu này vì nhà nước bây giờ là nhà nước của toàn dân. Trong xã hội đó con người làm việc theo năng lực hưởng thụ theo lao động. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa thì chức năng của nhà nước ngày càng suy giảm, sự tự giác của nhân dân ngày càng cao và đến lúc đó sẽ xuất hiện xã hội phi giai cấp, không còn mâu thuẫn đối kháng dẫn đến sự tự teo của nhà nước, sẽ xuất hiện một xã hội mà ở đó nguyên tắc phân phối của cải sẽ là "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" đó là chủ nghĩa cộng sản.
Tuy nhiên Marx không tin tưởng vào một tương lai gần của thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản vì theo ông thì "Cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể chiến thắng đơn độc tại một nước" vì giai cấp tư sản thế giới ở các nước khác sẽ bao vây và bóp chết cách mạng để duy trì lợi ích ích kỷ của mình. Vậy cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ chỉ nổ ra khi nào mâu thuẫn đã quá khủng khiếp "trong tất cả các nước tư bản hoặc chí ít là số lớn các nước tư bản đứng đầu thế giới". Và khi đó sẽ là một cuộc cách mạng thế giới long trời lở đất của giai cấp công nhân chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Để giác ngộ giai cấp công nhân hiểu được vai trò lịch sử của mình (Giai cấp công nhân - Giai cấp tiên phong của tiến bộ xã hội, giai cấp cách mạng nhất - Người đào mồ của chủ nghĩa tư bản - Karl Marx) và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó Marx chỉ ra là phải có các đảng cộng sản là tổ chức của những người giác ngộ chủ nghĩa cộng sản sẽ hướng dẫn đoàn kết lực lượng của giai cấp công nhân toàn thế giới.
II.VÀI NÉT VỀ CHỦ NGHĨA LÊNIN VỀ CNXH:
Cũng như Marx, Lenin là nhà cách mạng nhiệt thành của chủ nghĩa cộng sản. Lenin không phải là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Marx vào Nga mà đó là một nhà Marxist ôn hòa - Plekhanov người sáng lập đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Nga. Sau này người ta gọi những người theo Plekhanov trong đảng này là phái Menshevic (thiểu số)- là những người không tán thành làm cách mạng vô sản vì họ theo lý thuyết của Marx cho rằng làm cách mạng như vậy là chưa chín muồi, họ chiếm thiểu số trong đại hội đảng năm 1902). Và những người theo Lenin là phái Bolshevic (đa số)- là phái tán thành cách mạng. Từ đó phái Bolshevik của Lenin tách ra thành lập đảng riêng - Đảng Cộng sản (Bolshevik).
Lenin hiệu chỉnh rất nhiều ở chủ nghĩa Marx và sáng tạo ra rất nhiều ý tưởng lý luận mới. Nhưng điểm nổi bật và lớn nhất phân biệt Lenin với Marx là lý luận về chủ nghĩa đế quốc và ý tưởng về khả năng thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa xã hội) trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc: Lenin lý luận rằng chủ nghĩa Marx chỉ đúng trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh khi các quốc gia tư bản chưa trở thành đế quốc chủ nghĩa. Còn thời đại của mình (đầu thế kỷ 20) là thời đại của chủ nghĩa đế quốc - là đỉnh cao tột cùng của chủ nghĩa tư bản khi mà hình thức kinh tế chính của nó là các tập đoàn tư bản độc quyền, lũng đoạn nền kinh tế để có thể thu được siêu lợi nhuận và đặc tính đối ngoại là hiếu chiến và xâm chiếm thuộc địa. Trong các điều kiện phát triển khác nhau thì trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã xuất hiện các "khâu yếu" (theo lời của Lenin là các "mắt xích yếu") và cách mạng vô sản có thể chiến thắng tại một trong các mắt xích yếu đó (Cách mạng vô sản là cách gọi khác của cách mạng xã hội chủ nghĩa - Thuật ngữ "Giai cấp Công nhân" còn được gọi là "giai cấp vô sản"). Đây là điểm khác biệt lớn nhất của Lenin so với Marx và được những người Marxist-Leninist xem là sáng tạo lý luận vĩ đại nhất trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa cộng sản. Như vậy khi đề ra chủ nghĩa cộng sản Marx không tin rằng chủ nghĩa của mình có thể thành công trong tương lai gần và cũng chỉ nói chung chung về mặt lý tưởng như vậy mà thôi, và cũng không chỉ ra được cách tiến hành cách mạng như thế nào, các đặc trưng của cách mạng đó ra sao, sau cách mạng xây dựng xã hội mới thế nào. Còn với Lenin thì chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một thực tế và mọi nỗ lực của mình Lenin giành cho sự nghiệp đưa chủ nghĩa cộng sản vào cuộc sống. Có thể nói vai trò của Lenin đối với chủ nghĩa cộng sản không nhỏ hơn nếu không nói là lớn hơn vai trò của Karl Marx, người ta còn gọi chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa Marx-Lenin (Marxism-Leninism).
III.ĐẢNG CSVN ĐỔI MỚI ĐÃ TỪ BỎ KHÁ NHIỀU CN MARX-LENIN HAY SAO?
Không phải là nhiều lắm đâu! Tính chất lêninnít vẫn chi phối rất mạnh “đường lối cách mạng” của Ðảng cộng sản Việt Nam: bằng chuyên chính vô sản thực hiện “thị trường xã hội chủ nghĩa” (rất giống với đường lối hiện nay của Trung Quốc) – nghĩa là tiếp tục con đường của Lênin, dùng chuyên chính vô sản để làm kinh tế tư bản trên một quy mô toàn diện hơn thời Lênin rất nhiều. Bước lùi đã đi xa hơn nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của chủ nghĩa Lênin: duy trì cho bằng được sự lãnh đạo độc quyền của đảng cộng sản trên phương diện chính trị và văn hóa. Tất nhiên về mặt trình bày công khai - đặc biệt trong những thứ văn bản nói với người nước ngoài - người ta đã cố ý che giấu bớt những cái làm dư luận kinh sợ (bạo lực cách mạng, kẻ thù giai cấp, chuyên chính vô sản…) nhưng thực chất bên trong thì chẳng có gì thay đổi cả: không nói chuyên chính vô sản nhưng cứ làm chuyên chính vô sản, ai không hiểu điều đó thì chẳng hiểu gì về tình hình “cách mạng” hiện nay của Việt Nam cả! Sự “ổn định chính trị” thường xuyên được viện ra, gọi là tạo điều kiện “phát triển kinh tế”, nhưng chủ yếu là để răn đe, trấn áp các xu hướng đòi hỏi dân chủ hóa trong giới trí thức và văn nghệ sĩ, nhất là trong nội bộ đảng. “Nhà nước pháp quyền” – một khái niệm mà ngôn ngữ mácxít không hề biết đến – cũng được “tạm mượn” để biểu thị một cái gì đó có vẻ mới về chính trị; nhưng thực tế đó cũng chỉ là một cách nói mới mà thôi: nhà nước hiện nay vẫn được coi là “nhà nước xã hội chủ nghĩa” (mặc dù chẳng có một tí gì là xã hội chủ nghĩa cả!), một nhà nước được coi là công cụ của đảng, do đảng đạo diễn lập ra, đa số thành phần là đảng viên, bên ngoài được gọi là đại diện cho dân… nhưng ngoài một số công việc về hành chính, thực chất vẫn chỉ đại diện cho bản thân nhiều hơn. “Pháp quyền” ở đây chỉ có nghĩa là dùng luật pháp để cai trị dân theo quan niệm của phái Pháp gia ngày trước, đảng chỉ đạo làm ra luật pháp và duyệt xét tất cả các vụ xét xử quan trọng: đảng vẫn là một thực thể siêu nhà nước và siêu công dân. Trong nhiều lĩnh vực, luật pháp nhiều khi chỉ là cái nhãn “pháp quyền” bày ra cho vui vậy thôi: từ khi có luật báo chí ra đời đến nay chưa hề có tờ báo nào “được” đưa ra tòa xét xử cả, tất cả đều chỉ bị kiểm điểm răn đe, thanh trừng bởi những “cơ quan chức năng” trong đó các Ban an ninh nội chính, Ban bảo vệ văn hóa đã ngày trở nên quan trọng hơn Bộ văn hóa và cả Ban tuyên huấn nữa.
Nhiều nhà hoạt động chính trị có kinh nghiệm đã cho rằng phát triển kinh tế phải đi trước sự tự do hóa về chính trị.
Kinh nghiệm ấy là hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng đó là kinh nghiệm đến từ một mô hình hoàn toàn khác với cái mô hình lêninnít mà chúng ta đang nói: một bên, sau một thời gian thực hiện độc tài, một xã hội công dân cũng từ đó ra đời một cách cứng cáp để tự đảm nhận lấy vài trò phát triển kinh tế trong một thể chế dân chủ đa nguyên, còn một bên, như chúng ta đã biết, có thể sẽ có phát triển kinh tế, nhưng chẳng bao giờ có dân chủ cả: bản thân “chuyên chính vô sản” đã là dân chủ rồi, và là “dân chủ gấp triệu lần” những thứ dân chủ khác! Những gì mà Ðảng hứa về “đổi mới” trong chính trị và văn hóa đều chỉ là lời hứa mà thôi: tất cả tập trung vào kinh tế, nhưng kinh tế ở đây cũng chỉ được hoạt động trong cái định hướng có lợi cho bản thân sự tồn tại của Ðảng. Chúng ta hình dung xem nền kinh tế sẽ phát triển như thế nào dưới sự quản lý của một định chế không xuất phát từ bản thân nó. Ðiều chắc chắn trước tiên là những hành động làm ăn bình thường trước đây bị cấm đoán đến phải chui vào “thế giới ngầm”, nay được giải phóng cho tự do, sẽ tạo nên một không khí cực kỳ ồn ào, náo nhiệt, nhờ vậy mà đời sống người dân cũng có chỗ xoay xở để kiếm sống. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy: không được bảo vệ một cách lâu dài và nghiêm chỉnh về mặt luật pháp, không được thật tình khuyến khích để trở thành những hoạt động có quy mô lớn, vẫn bị “điều tiết” bằng cái thang giá trị gọi là “xã hội chủ nghĩa”, sự phát triển kinh tế đã đi theo cái hướng mà không ai là không thấy: chụp giật, lừa đảo, buôn lậu, tham nhũng và đặc biệt nhất là tất cả mọi chủ thể kinh tế (cá nhân, tập đoàn, tư nhân, quốc doanh, trong nước, ngoài nước) đều âm thầm đồng lõa cấu kết nhau lại để đục khoét đến nơi đến chốn bất cứ cái gì thuộc về cái gọi là “sở hữu nhà nước”. Và người ta không thể làm được việc đó nếu không có sự tiếp tay của chính những quan chức trong bộ máy nhà nước ấy: tuy gọi là “nhà nước cách mạng” nhưng tính chất “cách mạng” của nó đã mất đi hoàn toàn từ ngày đảng lên cầm quyền - từ chỗ là một bộ máy cai trị quan liêu làm dân khiếp sợ, nó đã trở thành một bộ máy bất lực, thối nát khi lao vào hoạt động trong cơ chế thị trường. Lý luận gọi là nhà nước xã hội chủ nghĩa “điều tiết” thị trường thực chất chỉ là một miếng vải và víu do những nhà lý luận quan phương tạo ra để che giấu xu thế đang tư sản hóa theo cái chiều hướng hoang dã của bản thân cái nhà nước ấy.
IV.CHỦ NGHĨA XÃ HỘI PHI MARXITS:
1.Có phải chủ nghĩa xã hội mác xít là bất khả thi và do đó phải từ bỏ hoàn toàn?
Dứt khoát là như vậy. Vì thế bất cứ mưu toan nào hy vọng “đổi mới” thứ “chủ nghĩa xã hội” ấy, dù bằng cách của Lênin hay bất cứ cái gì đó lấy cảm hứng từ Lênin, dựa vào chuyên chính vô sản để làm kinh tế thị trường hoặc không làm kinh tế thị trường đều chỉ đưa ra được những thứ lý luận chắp vá để hiện thực hóa cái huyễn tưởng của Mác. Sự khập khiểng về lý luận ấy cũng dứt khoát không thể biện minh được cho sự tồn tại độc quyền và chuyên chính của đảng cộng sản nhân danh cho giai cấp vô sản và nhân dân lao động: đó chỉ là một ý thức hệ lập ra để che giấu cho sự chuyên chính đơn thuần của một thiểu số cầm quyền (như bất cứ một nền chuyên chính nào khác) thống trị lại đa số dân cư: không phải chỉ đối với bọn đế quốc, tư sản phản động mà còn đối với cả nhân dân lao động, trong đó có cả giai cấp vô sản và những đảng viên bình thường nữa. Hoàn toàn không có gì gọi được là khoa học, cho nên con đường gọi là “cách mạng vô sản” của Mác rút lại chỉ là một thứ ý chí luận mang tính tư biện triết học, vì thế đem cái gọi là thiện chí “vì nước vì dân” ra để bày tỏ tấm lòng của đảng, việc đó cũng chẳng giải quyết được gì - thiện chí nhưng huyễn tưởng và lại cho phép dùng bạo lực để thực hiện thì cũng chỉ đưa người ta đến… địa ngục thôi. Chính vì không bao giờ dám nghĩ đến điều đó bằng một tinh thần tự nhận thức nghiêm chỉnh, cho nên những người cộng sản cứ loay hoay, mò mẫm thí nghiệm làm hao tốn không biết bao thì giờ, công sức, mồ hôi và xương máu của bao thế hệ. Sự sụp đổ của Ðông Âu và Liên Xô, sự lùi bước quá xa của những xã hội chủ nghĩa còn lại, muốn nói gì thì nói, đã chứng tỏ tính bất khả thi không gì biện minh được của thứ chủ nghĩa xã hội mácxít thực hiện bằng chuyên chính và bạo lực. Sự sụp đổ mang tính lịch sử đó cũng gợi cho mọi người bài học: cuộc cách mạng xã hội của những người lao khổ, khốn cùng vùng lên tước đoạt những người giàu có không hề đồng nghĩa với việc những người lao khổ, khốn cùng ấy tự tạo ra được cho mình khả năng xây dựng một xã hội giàu có, văn minh và nhân đạo.
2. Nếu từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì, nói như những người cộng sản, chúng ta phải quay lịch sử về với chủ nghĩa tư bản?
Xin được nói lại rằng chủ nghĩa xã hội không phải là sự sáng tạo riêng của Mác; cũng xin nói thêm rằng từ bỏ chủ nghĩa xã hội mácxít cũng không có nghĩa là từ bỏ những giá trị nhân đạo hiển nhiên trong chủ nghĩa Mác (ý hướng bảo vệ người lao động, nhân bản hóa các hoạt động kinh tế, chính trị chống lại mọi hình thức tha hóa con người…). Vấn đề đặt ra ở đây là trong khi tiếp thu những giá trị tích cực ấy thì phải đưa chúng vào con đường lớn mà nhân loại đã đi trong suốt mấy trăm năm qua – và con đường ấy không có gì khác hơn là thị trường và dân chủ. Và nếu hiểu thị trường và dân chủ là chủ nghĩa tư bản thì cũng có thể cho rằng từ bỏ chủ nghĩa xã hội mácxít cũng tất yếu trở về với thứ “chủ nghĩa tư bản” ấy. Nhưng đó không phải là thứ chủ nghĩa tư bản “lỗi thời” mà Mác đã phê phán: thực chất của thứ chủ nghĩa tư bản bị phê phán đó chính là cái cơ chế thị trường mù quáng, hỗn loạn, hút máu mủ người lao động để tự tăng trưởng như cái máy vô tri - rất khác với thứ cơ chế thị trường hiện đại, đã bị chính sự tác động của chủ nghĩa Mác, của những quá trình tranh đấu của công nhân làm cho văn minh hơn, đỡ mù quáng và tàn khốc hơn, và do đó vẫn chưa hoàn toàn bị lịch sử phủ định trong việc giữ được cho xã hội cái động lực thúc đẩy phát triển. Sự kiện các nước quê hương của chủ nghĩa tư bản không “giãy chết” như những người cộng sản mong mỏi, cộng thêm sự kiện các nước chưa phát triển gần đây, bằng con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, đã đưa dân tộc họ “cất cánh” và bay được đường bay của thế giới hiện đại đã chứng minh cho điều đó. Ngược hẳn với những nước có chế độ tự cho là tiên tiến hơn chủ nghĩa tư bản không biết bao lần – là những nước đem chủ nghĩa xã hội mácxít ra thực hiện – ở đó lại không có phát triển kinh tế lẫn không có dân chủ cho người dân, ở đó giai cấp công nhân và những người lao động, những người trí thức vẫn chỉ là những kẻ thừa hành, phục vụ cho những ông chủ mới, mị dân thì nhiều nhưng giảo quyệt cũng không kém. Tôi cho rằng đem một thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng ra đối lập với thứ chủ nghĩa tư bản hoang dại là một thứ lập luận hoàn toàn mang tính chất tuyên truyền thô sơ, do đó chẳng hề có chút sức thuyết phục nào. Vấn đề hiện nay là phải trên cơ sở những cái bình thường mà nhân loại đã đạt được để đặt ra vấn đề xây dựng một mô hình chủ nghĩa xã hội khả thi hơn chứ không phải đưa ra các khái niệm “tư bản chủ nghĩa” và “xã hội chủ nghĩa” lên cõi trừu tượng để cãi nhau về sự “tiến bộ” lẫn “lạc hậu” cũng trừu tượng như vậy.
3.Tại sao không bỏ luôn mấy chữ “xã hội chủ nghĩa” ấy đi - khỏi cần chủ nghĩa gì cả miễn nhân dân được giàu có, tự do: rất nhiều người hiện nay đã nghĩ như vậy!
(còn tiếp phần 2)
Kami tổng hợp.
-----------------------------
Nguồn:
1.Đàm thoại về CNXH-Lữ Phương
http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_DamThoaiVeChuNghiaXaHoiMacXit_full.htm
2.Nói về CNXH và CNCS-http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n
3.Karl Marx -http://vi.wikipedia.org/wiki/Karl_Marx
วันศุกร์ที่ 2 มกราคม พ.ศ. 2552
No220: Việt Nam cuối 2008: lúng túng, hoang mang, loạng quạng
“…Những gì gọi là “của dân, do dân, vì dân” thì thực tế toàn là “của đảng, do đảng, vì đảng”, trong khi các “giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, toàn thể nhân dân lao động” được đảng đề cao lại là những thành phần chịu thiệt thòi nhất trong xã hội…”
Một tiếng kêu lạc lõng giữa đường
Nguyễn Đức Bình, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vừa lên tiếng kêu gọi toàn đảng tiếp tục chấp hành theo Cương lĩnh năm 1991 để “khẳng định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Việc này không làm ai ngạc nhiên đối với một người như Nguyễn Đức Bình, cựu Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương vào thời kỳ Liên Xô và khối Cộng sản Đông Âu tan vỡ năm 1991. Ông Bình đã đem cả sự nghiệp chính trị của mình để đầu tư vào việc thành hình bản “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.
Điều quan trọng nhất của Cương lĩnh 1991 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.”
Nhưng tại sao Nguyễn Đức Bình đã phải khổ công viết một loạt bài dài 5 kỳ trên Tạp chí Tuyên Giáo, cơ quan tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Trung ương vào tháng 11/2008, để biện minh cho việc phải “Tiếp tục một cách kiên định và sáng tạo con đường xã hội chủ nghĩa”?
Theo nội dung bài viết thì ông Bình đã để lộ ra một số mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ đảng và trong hàng ngũ cán bộ lý luận tư tưởng đối với nội dung của Cương lĩnh 1991, trong đó có ý kiến phê bình có nhiều điểm mơ hồ và không thực tế. Cũng có người còn mạnh dạn, theo lời ông Bình, “khuyên Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ:
“Trước tình hình đó, nhiều người hoang mang, giao động về lý tưởng, có người khuyên Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn bởi, theo họ, thời thế (thời đại) đã thay đổi.”
Nhưng nguyên do sâu xa hơn khiến ông Bình phải lên tiếng bảo vệ Cương lĩnh 1991 là vì trong thời gian tới đây, có thể tại Hội nghị đảng giữa nhiệm kỳ của khoá X, sẽ có việc rà soát lại Cương lĩnh 1991 và bổ sung cho phù hợp với tình hình. Tất nhiên những lời phê bình, kiểm điểm, dù thuận hay nghịch sẽ khiến ông Bình khó xử.
Vì vậy Nguyễn Đức Bình đã cố giải thích để trấn an: “Con đường cách mạng trước sau như một của Đảng ta và nhân dân ta - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là tư tưởng cơ bản xuyên suốt Cương lĩnh của Đảng năm 1930, Cương lĩnh năm 1991, là đường hướng cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta hiện nay, không gì lay chuyển nổi. Giai đoạn hiện nay người cộng sản Việt Nam phải rất kiên định và sáng tạo hơn bao giờ hết trên đường hướng đó.
Giữa lúc tình hình thế giới còn rối ren, lộn xộn, lịch sử chưa định hình, những xáo động về tư tưởng là khó tránh khỏi. Những kẻ cơ hội tuyên bố xã hội đương đại có 3, 7 đường, thậm chí hàng trăm con đường chứ không chỉ có một. Có những kẻ dao động nghiêm trọng về lý tưởng cách mạng mà họ vẫn tôn thờ, họ quay sang con đường xã hội dân chủ, hay "con đường thứ ba".
Nhưng “Những kẻ cơ hội”và “những kẻ dao động” trong đảng là ai, nhiều hay ít đã đổi chiều? Từ lâu không thấy những người làm công tác tư tưởng hay cấp lãnh đạo dùng nhóm chữ “chệch hướng”để nói về những người đòi xét lại vai trò lịch sử của đảng Cộng sản đối với đất nước, hay nghi vấn về nhu cầu của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với dân tộc.
Điều này không có nghĩa tình trạng thờ ơ với lý thuyết Cộng sản hay hoang mang về định hướng của đảng trong cán bộ, đảng viên đã chấm dứt. Bằng chứng đã phản ảnh trong bài viết của ông Bình: “Lại có đồng chí cho rằng với thực trạng thế giới hiện nay, sau khi Liên Xô tan rã, không cần nhắc lại nữa định nghĩa thời đại vì chủ nghĩa xã hội trên thế giới còn rất xa vời, khẳng định thời đại lúc này không ích gì, trái lại dễ gây ảo tưởng chủ quan, phiêu lưu trong hành động thực tế. Quan điểm này không có sức thuyết phục. Thời đại nếu đã không còn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta không còn cơ sở lịch sử thế giới khách quan và những người cách mạng mất đi một cơ sở vững chắc cho niềm tin lý tưởng ở quy luật lịch sử và tiền đồ cách mạng.”
Nhưng cái “thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”của người Cộng sản, theo quan điểm của ông Bình, đã bắt đấu từ sau Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mà nay thì nước Nga Cộng sản không còn nữa. Nhân dân Nga đã đạp đổ cả chế độ mà tiến sang Tư bản từ năm 1991, sau 74 năm sống lầm than mà vẫn chưa đến được ngưỡng cửa “thiên đàng”của chủ nghĩa xã hội.
Còn ở Việt Nam thì người Cộng sản đã “quá độ” từ bao giờ?
Họ không thống nhất. Có tài liệu nói từ 1954, sau khi đảng Cộng sản cai trị miền Bắc Việt Nam, nhưng cũng có văn kiện đảng CSVN nói từ sau năm 1975. Nguyễn Đức Bình thuộc vào hàng ngũ lấy điểm khởi hành sau 1975 khi viết: “Với chiến thắng oanh liệt Mùa Xuân 1975, cả nước độc lập, thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.”
Nếu như vậy thì ít ra đảng của ông Bình đã “quá độ”được 33 năm mà chưa thấy có ai trong đảng dám nói đã “tìm thấy lối vào”của chủ nghĩa xã hội.
Chính điểm mơ hồ này đang gây tranh luận trong nội bộ đảng CSVN khiến cho các “nhà” lí luận Cộng sản như Nguyễn Đức Bình lúng túng trong cả trong lý luận lẫn hành động để đưa ra mô hình tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà đảng đang cố gắng “qúa độ” tới đó.
Ông Bình phản bác: “Ý kiến phủ định thời đại chúng ta vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là một bước lùi về lập trường chính trị cơ bản, xuất phát. Thực tế nếu vậy thì đất nước ta, Đảng ta từ nay đi con đường nào đây? Và nếu vậy thì phải chăng Cương lĩnh của Đảng năm 1991 đã không còn căn cứ thời đại?”.
Ông Bình muốn nói nhăng nói cuội gì cũng được, nhưng khi viết rằng “con đường cách mạng trước sau như một của Đảng ta và nhân dân ta hiện nay” là vơ đũa cả nắm, mạo nhận không căn cứ.
Trước nhất, nhân dân không chọn đảng Cộng sản để lãnh đạo.
Thứ nhì, nhân dân đã bị áp chế sống với chế độ độc tài, đảng trị và không có quyền quyết định gì trong cơ chế hiện nay. Ngay cả quyền bầu cử người đại diện cho mình điều hành việc nước cũng do đảng quyết định.
Thứ ba, nhân dân không có tiếng nói nào trong việc hình thành hai Cương lĩnh 1930 và Cương lĩnh 1991.
Vì vậy “con đường”được gọi là “cách mạng trước sau như một” là con đường riêng của các đảng viên đảng Cộng sản mà thôi.
Lạc quan tếu
Trong bài viết trong Tạp chí Tuyên Giáo, ông Bình không quên nhắc lại lời tiên đoán “ăn ốc nói mò”của Cương lĩnh 1991: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử.”
Vậy thì ông Bình đã đoán việc này sẽ xẩy ra trong những điều kiện nào ?
Ông Bình viết: “Mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại ngày nay là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại, nhưng hình thái biểu hiện đã khác trước nhiều. Đó không còn là mâu thuẫn giữa hai hệ thống thế giới đối lập, nhưng cũng không phải sau khi chủ nghĩa xã hội bị sập đổ một mảng lớn thì mâu thuẫn đó không còn. Ngoài một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, khá có trọng lượng, phải kể đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cả đến phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình,vì độc lập và chủ quyền dân tộc, vì dân chủ và tiến bộ xã hội, những lực lượng này vẫn là lực lượng xã hội chủ nghĩa hoặc đồng minh tự nhiên của chủ nghĩa xã hội…”
“…Chừng nào còn chủ nghĩa tư bản, còn những mâu thuẫn nan giải của chủ nghĩa tư bản như hiện nay và, cùng với quá trình chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn toàn cầu hoá, những mâu thuẫn ấy ngày càng tích lũy sâu sắc và mở rộng, thì lịch sử vẫn không ngừng vận động và, theo quy luật lịch sử - tự nhiên, chỉ có thể vận động theo hướng chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ tiêu vong và được thay thế bằng chủ nghĩa xã hội…”
Sau khi đã võ đoán như thế, ông Bình lại đưa mọi người vào hỏa mù: “Có điều cần ghi nhận: Ngày nay ít ai còn mang ảo tưởng chủ nghĩa tư bản sắp chết đến nơi, nhưng phải chăng số người tin tuyệt đối vào sức sống vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản cũng ngày càng vơi dần? Xem ra đa số đánh giá chủ nghĩa tư bản còn lâu mới tiêu vong nhưng cuối cùng nhất định nó không tránh khỏi tiêu vong…”.
Quan điểm mò mẫm, dự đoán như thầy bói chợ chiều của ông Bình về “giờ hấp hối”của Chủ nghĩa Tư bản còn đi xa hơn: “Rõ ràng chủ nghĩa tư bản cũng đang "tự phản tỉnh”, "tự phê phán”, đang thấy khó mà tự duy trì nếu không có phép gì mầu nhiệm hơn những phép đã dùng gần như cạn kiệt để tự điều chỉnh, thích nghi. Những khái niệm "xã hội hậu tư bản", hay "chủ nghĩa tư bản mới", "chủ nghĩa tư bản nhân dân", v.v... mà một số học giả phương Tây ưa dùng nói lên hai mặt. Nó vừa là một sự nguỵ biện rằng chủ nghĩa tư bản đã thôi không còn là chủ nghĩa tư bản nữa vì nó không còn bóc lột; vừa là - về khách quan - mặc nhiên thừa nhận chế độ tư bản đích thực, truyền thống, nguyên xi như bản thân nó, đã hết lý do tồn tại, đã hết khả năng tự biện minh; có nghĩa ngay các nhà tư tưởng tư sản cũng đã mất niềm tin ở chính chủ nghĩa tư bản, đã mặc nhiên và gián tiếp phải nói đến một chế độ mới đang gõ cửa chủ nghĩa tư bản.”
Nhận xét của ông Bình có căn cứ không ? Tất nhiên cũng chỉ là đoán mò. Thái độ này cũng giống như Cương lĩnh 1991 viết: “Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Chính sự vận động của tất cả những mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.”
Nhưng 17 năm sau khi Cương lĩnh 1991 ra đời, các chế độ theo Tư bản Chủ nghĩa vẫn tồn tại hùng mạnh. Nếu có nước nào nghiêng ngả theo Xã hội Chủ nghĩa mới thì cũng vẫn giữ nguyên lối làm kinh tế theo Tư bản. Tuyệt nhiên không nước nào dám mon men theo chủ trương kinh tế phá sản kiểu Cộng sản. Và cũng không có thêm nước nào lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng xây dựng đất nước như Việt Nam
Cả thế giới đến cuối năm 2008, chỉ có vỏn vẹn 4 nước cô đơn còn trung thành với Chủ nghĩa Cộng sản là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba. Tuy Trung Hoa và Việt Nam có nền kinh tế khá hơn, nhưng nhân dân cả 4 nước đều không có các quyền tự do như nhau và số người dân đói nghèo tại 4 nước vẫn cao hơn số người đủ ăn và giầu mà đa phần là những kẻ có chức, có quyền.
Vậy mà ông Bình vẫn như người mơ ngủ để kêu gọi toàn đảng kiên định và giữ vững 4 điều xưa như trái đất:
1- Tiếp tục khẳng định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2- Tiếp tục khẳng định nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, thực hiện đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa.
3- Khẳng định và tiếp tục phát triển khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
4- Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Loại trừ những phần tử cơ hội, tiêu cực, thoái hoá, biến chất. Nâng cao tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức và trí tuệ cán bộ, đảng viên ngang tầm đòi hỏi cao của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Phát huy cao độ dân chủ và kỷ luật trong Đảng. Số đảng viên nên "thà ít mà tốt"
Không có gì mới lạ trong 4 điều này. Những gì gọi là “của dân, do dân, vì dân” thì thực tế toàn là “của đảng, do đảng, vì đảng”, trong khi các “giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, toàn thể nhân dân lao động” được đảng đề cao lại là những thành phần chịu thiệt thòi nhất trong xã hội.
Còn về việc ông Bình kêu gọi “loại trừ những phần tử cơ hội, tiêu cực, thoái hoá, biến chất” trong đảng thì có khác nào việc lặp lại tiếng con chim cuốc đơn côi kêu trong mùa hè? Càng kêu cuốc càng khan cổ, nhưng những kẻ tham nhũng, thoái hoá trong đảng Cộng sản lại càng phát tài, phát lộc từ khi có Luật phòng, chống tham nhũng ra đời năm 2005!
Nhưng việc ông Bình phải lặp lại những điều thất bại này vào thời điểm Cương lĩnh 1991 sắp được đưa lên bàn mổ để xem đảng đã làm được đến đâu trong 4 điều cơ bản này chứng tỏ những kẻ như ông Bình cũng đã cạn kiệt tư tưởng trước làn sóng thoái trào trong nội bộ đảng CSVN.
Phạm Trần
Một tiếng kêu lạc lõng giữa đường
Nguyễn Đức Bình, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vừa lên tiếng kêu gọi toàn đảng tiếp tục chấp hành theo Cương lĩnh năm 1991 để “khẳng định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Việc này không làm ai ngạc nhiên đối với một người như Nguyễn Đức Bình, cựu Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương vào thời kỳ Liên Xô và khối Cộng sản Đông Âu tan vỡ năm 1991. Ông Bình đã đem cả sự nghiệp chính trị của mình để đầu tư vào việc thành hình bản “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.
Điều quan trọng nhất của Cương lĩnh 1991 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.”
Nhưng tại sao Nguyễn Đức Bình đã phải khổ công viết một loạt bài dài 5 kỳ trên Tạp chí Tuyên Giáo, cơ quan tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Trung ương vào tháng 11/2008, để biện minh cho việc phải “Tiếp tục một cách kiên định và sáng tạo con đường xã hội chủ nghĩa”?
Theo nội dung bài viết thì ông Bình đã để lộ ra một số mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ đảng và trong hàng ngũ cán bộ lý luận tư tưởng đối với nội dung của Cương lĩnh 1991, trong đó có ý kiến phê bình có nhiều điểm mơ hồ và không thực tế. Cũng có người còn mạnh dạn, theo lời ông Bình, “khuyên Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ:
“Trước tình hình đó, nhiều người hoang mang, giao động về lý tưởng, có người khuyên Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn bởi, theo họ, thời thế (thời đại) đã thay đổi.”
Nhưng nguyên do sâu xa hơn khiến ông Bình phải lên tiếng bảo vệ Cương lĩnh 1991 là vì trong thời gian tới đây, có thể tại Hội nghị đảng giữa nhiệm kỳ của khoá X, sẽ có việc rà soát lại Cương lĩnh 1991 và bổ sung cho phù hợp với tình hình. Tất nhiên những lời phê bình, kiểm điểm, dù thuận hay nghịch sẽ khiến ông Bình khó xử.
Vì vậy Nguyễn Đức Bình đã cố giải thích để trấn an: “Con đường cách mạng trước sau như một của Đảng ta và nhân dân ta - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là tư tưởng cơ bản xuyên suốt Cương lĩnh của Đảng năm 1930, Cương lĩnh năm 1991, là đường hướng cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta hiện nay, không gì lay chuyển nổi. Giai đoạn hiện nay người cộng sản Việt Nam phải rất kiên định và sáng tạo hơn bao giờ hết trên đường hướng đó.
Giữa lúc tình hình thế giới còn rối ren, lộn xộn, lịch sử chưa định hình, những xáo động về tư tưởng là khó tránh khỏi. Những kẻ cơ hội tuyên bố xã hội đương đại có 3, 7 đường, thậm chí hàng trăm con đường chứ không chỉ có một. Có những kẻ dao động nghiêm trọng về lý tưởng cách mạng mà họ vẫn tôn thờ, họ quay sang con đường xã hội dân chủ, hay "con đường thứ ba".
Nhưng “Những kẻ cơ hội”và “những kẻ dao động” trong đảng là ai, nhiều hay ít đã đổi chiều? Từ lâu không thấy những người làm công tác tư tưởng hay cấp lãnh đạo dùng nhóm chữ “chệch hướng”để nói về những người đòi xét lại vai trò lịch sử của đảng Cộng sản đối với đất nước, hay nghi vấn về nhu cầu của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với dân tộc.
Điều này không có nghĩa tình trạng thờ ơ với lý thuyết Cộng sản hay hoang mang về định hướng của đảng trong cán bộ, đảng viên đã chấm dứt. Bằng chứng đã phản ảnh trong bài viết của ông Bình: “Lại có đồng chí cho rằng với thực trạng thế giới hiện nay, sau khi Liên Xô tan rã, không cần nhắc lại nữa định nghĩa thời đại vì chủ nghĩa xã hội trên thế giới còn rất xa vời, khẳng định thời đại lúc này không ích gì, trái lại dễ gây ảo tưởng chủ quan, phiêu lưu trong hành động thực tế. Quan điểm này không có sức thuyết phục. Thời đại nếu đã không còn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta không còn cơ sở lịch sử thế giới khách quan và những người cách mạng mất đi một cơ sở vững chắc cho niềm tin lý tưởng ở quy luật lịch sử và tiền đồ cách mạng.”
Nhưng cái “thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”của người Cộng sản, theo quan điểm của ông Bình, đã bắt đấu từ sau Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mà nay thì nước Nga Cộng sản không còn nữa. Nhân dân Nga đã đạp đổ cả chế độ mà tiến sang Tư bản từ năm 1991, sau 74 năm sống lầm than mà vẫn chưa đến được ngưỡng cửa “thiên đàng”của chủ nghĩa xã hội.
Còn ở Việt Nam thì người Cộng sản đã “quá độ” từ bao giờ?
Họ không thống nhất. Có tài liệu nói từ 1954, sau khi đảng Cộng sản cai trị miền Bắc Việt Nam, nhưng cũng có văn kiện đảng CSVN nói từ sau năm 1975. Nguyễn Đức Bình thuộc vào hàng ngũ lấy điểm khởi hành sau 1975 khi viết: “Với chiến thắng oanh liệt Mùa Xuân 1975, cả nước độc lập, thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.”
Nếu như vậy thì ít ra đảng của ông Bình đã “quá độ”được 33 năm mà chưa thấy có ai trong đảng dám nói đã “tìm thấy lối vào”của chủ nghĩa xã hội.
Chính điểm mơ hồ này đang gây tranh luận trong nội bộ đảng CSVN khiến cho các “nhà” lí luận Cộng sản như Nguyễn Đức Bình lúng túng trong cả trong lý luận lẫn hành động để đưa ra mô hình tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà đảng đang cố gắng “qúa độ” tới đó.
Ông Bình phản bác: “Ý kiến phủ định thời đại chúng ta vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là một bước lùi về lập trường chính trị cơ bản, xuất phát. Thực tế nếu vậy thì đất nước ta, Đảng ta từ nay đi con đường nào đây? Và nếu vậy thì phải chăng Cương lĩnh của Đảng năm 1991 đã không còn căn cứ thời đại?”.
Ông Bình muốn nói nhăng nói cuội gì cũng được, nhưng khi viết rằng “con đường cách mạng trước sau như một của Đảng ta và nhân dân ta hiện nay” là vơ đũa cả nắm, mạo nhận không căn cứ.
Trước nhất, nhân dân không chọn đảng Cộng sản để lãnh đạo.
Thứ nhì, nhân dân đã bị áp chế sống với chế độ độc tài, đảng trị và không có quyền quyết định gì trong cơ chế hiện nay. Ngay cả quyền bầu cử người đại diện cho mình điều hành việc nước cũng do đảng quyết định.
Thứ ba, nhân dân không có tiếng nói nào trong việc hình thành hai Cương lĩnh 1930 và Cương lĩnh 1991.
Vì vậy “con đường”được gọi là “cách mạng trước sau như một” là con đường riêng của các đảng viên đảng Cộng sản mà thôi.
Lạc quan tếu
Trong bài viết trong Tạp chí Tuyên Giáo, ông Bình không quên nhắc lại lời tiên đoán “ăn ốc nói mò”của Cương lĩnh 1991: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử.”
Vậy thì ông Bình đã đoán việc này sẽ xẩy ra trong những điều kiện nào ?
Ông Bình viết: “Mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại ngày nay là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại, nhưng hình thái biểu hiện đã khác trước nhiều. Đó không còn là mâu thuẫn giữa hai hệ thống thế giới đối lập, nhưng cũng không phải sau khi chủ nghĩa xã hội bị sập đổ một mảng lớn thì mâu thuẫn đó không còn. Ngoài một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, khá có trọng lượng, phải kể đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cả đến phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình,vì độc lập và chủ quyền dân tộc, vì dân chủ và tiến bộ xã hội, những lực lượng này vẫn là lực lượng xã hội chủ nghĩa hoặc đồng minh tự nhiên của chủ nghĩa xã hội…”
“…Chừng nào còn chủ nghĩa tư bản, còn những mâu thuẫn nan giải của chủ nghĩa tư bản như hiện nay và, cùng với quá trình chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn toàn cầu hoá, những mâu thuẫn ấy ngày càng tích lũy sâu sắc và mở rộng, thì lịch sử vẫn không ngừng vận động và, theo quy luật lịch sử - tự nhiên, chỉ có thể vận động theo hướng chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ tiêu vong và được thay thế bằng chủ nghĩa xã hội…”
Sau khi đã võ đoán như thế, ông Bình lại đưa mọi người vào hỏa mù: “Có điều cần ghi nhận: Ngày nay ít ai còn mang ảo tưởng chủ nghĩa tư bản sắp chết đến nơi, nhưng phải chăng số người tin tuyệt đối vào sức sống vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản cũng ngày càng vơi dần? Xem ra đa số đánh giá chủ nghĩa tư bản còn lâu mới tiêu vong nhưng cuối cùng nhất định nó không tránh khỏi tiêu vong…”.
Quan điểm mò mẫm, dự đoán như thầy bói chợ chiều của ông Bình về “giờ hấp hối”của Chủ nghĩa Tư bản còn đi xa hơn: “Rõ ràng chủ nghĩa tư bản cũng đang "tự phản tỉnh”, "tự phê phán”, đang thấy khó mà tự duy trì nếu không có phép gì mầu nhiệm hơn những phép đã dùng gần như cạn kiệt để tự điều chỉnh, thích nghi. Những khái niệm "xã hội hậu tư bản", hay "chủ nghĩa tư bản mới", "chủ nghĩa tư bản nhân dân", v.v... mà một số học giả phương Tây ưa dùng nói lên hai mặt. Nó vừa là một sự nguỵ biện rằng chủ nghĩa tư bản đã thôi không còn là chủ nghĩa tư bản nữa vì nó không còn bóc lột; vừa là - về khách quan - mặc nhiên thừa nhận chế độ tư bản đích thực, truyền thống, nguyên xi như bản thân nó, đã hết lý do tồn tại, đã hết khả năng tự biện minh; có nghĩa ngay các nhà tư tưởng tư sản cũng đã mất niềm tin ở chính chủ nghĩa tư bản, đã mặc nhiên và gián tiếp phải nói đến một chế độ mới đang gõ cửa chủ nghĩa tư bản.”
Nhận xét của ông Bình có căn cứ không ? Tất nhiên cũng chỉ là đoán mò. Thái độ này cũng giống như Cương lĩnh 1991 viết: “Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Chính sự vận động của tất cả những mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.”
Nhưng 17 năm sau khi Cương lĩnh 1991 ra đời, các chế độ theo Tư bản Chủ nghĩa vẫn tồn tại hùng mạnh. Nếu có nước nào nghiêng ngả theo Xã hội Chủ nghĩa mới thì cũng vẫn giữ nguyên lối làm kinh tế theo Tư bản. Tuyệt nhiên không nước nào dám mon men theo chủ trương kinh tế phá sản kiểu Cộng sản. Và cũng không có thêm nước nào lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng xây dựng đất nước như Việt Nam
Cả thế giới đến cuối năm 2008, chỉ có vỏn vẹn 4 nước cô đơn còn trung thành với Chủ nghĩa Cộng sản là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba. Tuy Trung Hoa và Việt Nam có nền kinh tế khá hơn, nhưng nhân dân cả 4 nước đều không có các quyền tự do như nhau và số người dân đói nghèo tại 4 nước vẫn cao hơn số người đủ ăn và giầu mà đa phần là những kẻ có chức, có quyền.
Vậy mà ông Bình vẫn như người mơ ngủ để kêu gọi toàn đảng kiên định và giữ vững 4 điều xưa như trái đất:
1- Tiếp tục khẳng định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2- Tiếp tục khẳng định nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, thực hiện đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa.
3- Khẳng định và tiếp tục phát triển khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
4- Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Loại trừ những phần tử cơ hội, tiêu cực, thoái hoá, biến chất. Nâng cao tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức và trí tuệ cán bộ, đảng viên ngang tầm đòi hỏi cao của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Phát huy cao độ dân chủ và kỷ luật trong Đảng. Số đảng viên nên "thà ít mà tốt"
Không có gì mới lạ trong 4 điều này. Những gì gọi là “của dân, do dân, vì dân” thì thực tế toàn là “của đảng, do đảng, vì đảng”, trong khi các “giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, toàn thể nhân dân lao động” được đảng đề cao lại là những thành phần chịu thiệt thòi nhất trong xã hội.
Còn về việc ông Bình kêu gọi “loại trừ những phần tử cơ hội, tiêu cực, thoái hoá, biến chất” trong đảng thì có khác nào việc lặp lại tiếng con chim cuốc đơn côi kêu trong mùa hè? Càng kêu cuốc càng khan cổ, nhưng những kẻ tham nhũng, thoái hoá trong đảng Cộng sản lại càng phát tài, phát lộc từ khi có Luật phòng, chống tham nhũng ra đời năm 2005!
Nhưng việc ông Bình phải lặp lại những điều thất bại này vào thời điểm Cương lĩnh 1991 sắp được đưa lên bàn mổ để xem đảng đã làm được đến đâu trong 4 điều cơ bản này chứng tỏ những kẻ như ông Bình cũng đã cạn kiệt tư tưởng trước làn sóng thoái trào trong nội bộ đảng CSVN.
Phạm Trần
วันอังคารที่ 30 ธันวาคม พ.ศ. 2551
No213: Tại sao cách mạng cộng sản không xẩy ra ở những nước Tây Âu ? «
TẠI SAO CÁCH MẠNG CỘNG SẢN LẠI XẨY RA
Ở NGA, TÀU, VIỆT NAM, MÀ KHÔNG Ở TÂY ÂU
Nhìn vào lịch sử cận đại, nhất là nghiên cứu lịch sử phong trào cộng sản của thế kỷ 20, một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là : « Tại sao cách mạng cộng sản lại xẩy ra ở Nga, Tàu, Việt Nam, mà không xẩy ra ở những nước Tây Âu ? « . Chúng ta sẽ cùng nhau trả lời câu hỏi này. Ở đây chúng ta lấy 3 nước tiêu biểu theo cộng sản là Nga, Tàu và Việt Nam, vì giới trí thức tả của ba nước này hầu như tự nguyện theo cộng sản, cho rằng chủ nghĩa cộng sản là một thần dược, trị bá bệnh ; không dè nó là một độc dược, mang lại tất cả mọi bệnh. Chúng ta không nói đến những nước Đông Âu bắt buộc theo cộng sản vì dưới gót giày của quân đội chiếm đóng Liên sô.
I ) Quan niệm cách mạng tất yếu của K. Marx và với quan niệm này, thì cách mạng tất yếu chỉ xẩy ra ở những nước kỹ nghệ tân tiến như ở các nước Tây Ây..
K. Marx mở đầu quyển Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng sản bằng câu : « Lịch sử của bất cứ xã hội nào cho tới ngày hôm nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp » ( Le manifeste du Parti communiste – trang 19 – Union générale d’Editions – 1962 – Paris )
Thật vậy, Marx chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp và đã đơn giản hóa lịch sử, đơn giản hóa xã hội bằng cách cho rằng xã hội chia thành hai giai cấp. Giai cấp chủ nhân thì càng ngày càng giàu và càng ít, giai cấp thợ thuyền thì càng ngày càng đông và càng nghèo. Từ đó, hố ngăn cách giữa hai giai cấp càng ngày càng lớn, đi đến cách mạng tất yếu. (1) Marx viết : « Sự phát triển kỹ nghệ nặng đã đào hố sâu dưới chân giai tầng tư sản, dưới mảnh đất mà chính giai tầng này đã xây dựng lên hệ thống tư hữu của mình. Giai tầng tư sản đã tự đào mồ chôn mình. » ( Sách đã dẫn – trang 34).
Và K. Marx cho rằng cách mạng cộng sản chỉ xẩy ra ở những nước tư bản, đã đạt đến trình độ kỹ nghệ cao ; vì chỉ ở những nước này mới có giai cấp vô sản, giai cấp cách mạng nhất. Ông viết tiếp :
« Trong tất cả những giai cấp chống lại giai cấp tư sản hiện nay, giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất thực sự cách mạng. » ( Sách đã dẫn trang 31).
Chính vì vậy mà K. Marx cho rằng cách mạng cộng sản chỉ xẩy ra tại các nước kỹ nghệ. Tuy nhiên Marx đã chờ cách mạng tất yếu cả cuộc đời ; lúc đầu Marx tin tưởng nó xẩy ra ở Anh, nước kỹ nghệ đầu tiên. Cách mạng cộng sản không xẩy ra ở Anh ; Marx quay sang mong chờ ở Đức, sau đó tới Pháp. Nhưng cách mạng tất yếu cộng sản cũng không xẩy ra cho tới khi Marx chết.
Cách mạng tất yếu cộng sản không xẩy ra tại các nước kỹ nghệ như Marx tiên đóan là do nhiều nguyên do ; trong trong đó có một lý do chính : Đó là giai tầng sỹ phu trí thức của những nước này đã biết rõ tính chất không tưởng và sai lầm của lý thuyết Marx ; chẳng hạn như ở vùng Trèves, nam Đức, gần Pháp, nơi sinh trưởng của Marx, người ta có thấy tượng của Marx với hàng chữ ở dưới : Đây là nơi sinh trưởng của Marx ; nhưng ở đây người ta cũng không chấp nhận tư tưởng của ông. Ở Đức, người dân đánh giá những người như Goeth, Kant, Hégel cao hơn Marx nhiều. Những người như nhà triết học Proudhon ( 1809-1865), cùng thời với Marx (1818-1883), đã cho rằng lý thuyết của Marx nếu được áp dụng, thì sẽ trở thành con sán lãi của xã hội ; những người sau này như Bernstein (1850-1932), thì cho rằng lý thuyết của Marx không có gì là khoa học. Còn bà Rosa Luxemboug( 1871-1919) thì chỉ trích mạnh mẽ quan niệm độc tài vô sản, nhất là cách mà Lénine cướp chính quyền và tổ chức một đảng độc tài, đứng sau một nhà nước độc tài. Theo bà, những cái này là hoàn toàn đi ngược với tinh thần xã hội chủ nghĩa ; vì những nguyên tắc chính của xã hội chủ nghĩa là tôn trọng tự do, dân chủ.
Ba mươi bốn năm sau khi Marx chết (1883), Lénine( 1870-1924) làm cách mạng cộng sản ở một nước không có kỹ nghệ cao.
Và ở điểm này, người ta đặt câu hỏi : « Tại sao cách mạng cộng sản lại xẩy ra một cách không tất yếu ở Nga ? «
I I ) Tại sao cách mạng cộng sản lại xẩy ra ở Nga, Tàu và Việt Nam
Đức Datlai Lama có nói : « Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh xôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời. »
Thật vậy, nếu chúng ta xét sự thành hình của 3 chế độ cộng sản Nga, Tàu và Việt Nam, thì đều thấy xuất hiện ở cuối 2 trận thế chiến, Thế Chiến Thứ Nhất với Nga,Thế Chiến Thứ Hai với Tàu và Việt Nam.
Chính Mao trạch Đông, khi tiếp tướng Anh, Lord Mountbatten, Tư lệnh Hải quân Đồng minh ở vùng Đông Nam Á, vào Đệ Nhị Thế Chiến, không ngần ngại, dấu diếm tuyên bố : « Nếu không có chiến tranh Trung - Nhật và Thế Chiến Thứ Hai, thì đảng cộng sản không bao giờ có chính quyền. »
Đối với Lénine, ông ý thức rất rõ là không thể nào ngồi chờ cách mạng tất yếu như Marx, mà phải làm cách mạng, quan niệm hạ tầng cơ sở kinh tế gồm sức sản xuất và tương quan sản xuất sẽ quyết định thượng tầng gồm tổ chức nhà nước, luật pháp, triết học, thẩm mỹ của K. Marx là không thực tế. Chính vì vậy mà Lénine nói : « Nếu không có ý thức cách mạng, thì không có cách mạng. « Đây là câu nói có nghĩa là phải dùng thương tầng để thay đổi hạ tầng. Thực tế cộng sản từ nhà nước cộng sản đầu tiên do Lénine lập ra cho tới nay ở những nước cộng sản là đã dùng thượng tầng để ép hạ tầng, dùng công an, thông tin tuyên truyền để đàn áp, ru ngủ, đánh lạc hướng dân.
Thật ra, cuộc cách mạng Tháng 10/1917 ở Nga chỉ là sản phẩm của Lénine, Trotski và những người đấu tranh chính trị nhà nghề, lợi dụng tình thế nước Nga lúc gần cuối Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1917), với sự giúp đỡ của Bộ Tham Mưu Đức dưới chế độ quân chủ của vua Guillaume, tạo ra. Đây chỉ là một cuộc đảo chính, với sự thờ ơ của dân và ngay cả thợ thuyền. (1) Chính vì vậy mà Karl Kautski ( 1854-1938), nhà lý thuyết của đảng Xã hội dân chủ Đức, cùng hoạt động với Lénine và là lãnh tụ của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng sản, đã cho rằng « cuộc cách mạng « , do Lénine làm ra chỉ là cuộc cách mạng « đẻ non, sớm muộn sẽ hoài thai « . Kautski cũng như bà Rosa Luxemboug tin rằng những nguyên tắc chính và đầu tiên của xã hội chủ nghĩa là tôn trọng tự do, dân chủ. Ông cho rằng chế độ đại nghị, qua những cuộc bầu cử tự do thật sự sẽ giúp thợ thuyền thực hiện những quyền tự do căn bản của mình. Lénine đã chỉ trích ông mạnh mẽ trong quyển Chủ Nghĩa tả khuynh, bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản ( Le Gauchisme, la maladie infantile du communisme ). Ngày hôm nay sau gần 100, người ta mới thấy chính Lénine mới là ấu trĩ, cuộc cách mạng Nga chỉ là một cuộc cách mạng đẻ non và đã hoài thai, khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Nga sô đầu năm 1991.
Cách mạng cộng sản Tàu và Cách mạng cộng sản Việt Nam cũng vậy, cũng chỉ là những cuộc cách mạng đẻ non, sớm muộn sẽ hoài thai.
Thật vậy, khi đảo chánh thành cộng, Lénine tìm cách xuất cảng « cách mạng « , đã lập ra trường đại học Đông phương, huấn luyện cho những người như Lưu thiếu Kỳ, Chu ân Lai, Đặng tử Bình, Dương thiệu Côn v. v.. của Tàu, và Hồ chí Minh, Trần Phú, Lê hồng Phong v.v.. của Việt Nam, để làm cách mạng đẻ non ở những nước này. Và tình thế đã tới, đó là cuối Đệ Nhị Thế Chiến, lợi dụng thời cơ, cùng sự giúp đỡ của Đệ Tam Quốc tế, hai đảng cộng sản ở hai xứ này, nổi lên cướp chính quyền. Vụ cướp chính quyền ở Tàu hơi khác, nhưng cũng nhờ tình thế và sự giúp đỡ của Đệ Tam Quốc tế như chính Mao đã nói với tướng Mounbatten.
Lý thuyết của Marx quả là không tưởng, sai lầm, mặc dầu ông đã bỏ ra hơn 1/3 nội dung quyển Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng Sản, để phê bình những nhà tư tưởng trước ông như Robert Owen, Charles Fourrier, Saint Simon là không tưởng. Cách mạng cộng sản Nga và cách mạng cộng sản Tàu, Việt Nam quả thật là cách mạng đẻ non.Chế độ cộng sản quả là một độc dược, mang lại mọi thứ bệnh cho kẻ nào theo nó (1). Hậu quả là lịch sử nhân loại, cũng như lịch sử các nước cộng sản, đã có những trang sử đau thương, đẫm máu ; nhưng chưa có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản. Nga đã từ bỏ cộng sản. Mong rằng những nước cộng sản còn lại, trong đó có Tàu và Việt Nam, sớm từ bỏ chế độ này ; vì ngày nào còn cộng sản, thì còn đau thương cho dân tộc và đất nước..
Paris ngày 24/12/2008
Chu chi Nam
(1) Xin Qui vi xem : « Tại sao cách mạng tất yếu không xẩy ra tại các nước Tây Âu, mà lại xẩy ra tại những nước cộng sản « , « Phê bình lý thuyết của Marx » , « Chế độ cộng sản, đống tro tàn… « , trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
Ở NGA, TÀU, VIỆT NAM, MÀ KHÔNG Ở TÂY ÂU
Nhìn vào lịch sử cận đại, nhất là nghiên cứu lịch sử phong trào cộng sản của thế kỷ 20, một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là : « Tại sao cách mạng cộng sản lại xẩy ra ở Nga, Tàu, Việt Nam, mà không xẩy ra ở những nước Tây Âu ? « . Chúng ta sẽ cùng nhau trả lời câu hỏi này. Ở đây chúng ta lấy 3 nước tiêu biểu theo cộng sản là Nga, Tàu và Việt Nam, vì giới trí thức tả của ba nước này hầu như tự nguyện theo cộng sản, cho rằng chủ nghĩa cộng sản là một thần dược, trị bá bệnh ; không dè nó là một độc dược, mang lại tất cả mọi bệnh. Chúng ta không nói đến những nước Đông Âu bắt buộc theo cộng sản vì dưới gót giày của quân đội chiếm đóng Liên sô.
I ) Quan niệm cách mạng tất yếu của K. Marx và với quan niệm này, thì cách mạng tất yếu chỉ xẩy ra ở những nước kỹ nghệ tân tiến như ở các nước Tây Ây..
K. Marx mở đầu quyển Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng sản bằng câu : « Lịch sử của bất cứ xã hội nào cho tới ngày hôm nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp » ( Le manifeste du Parti communiste – trang 19 – Union générale d’Editions – 1962 – Paris )
Thật vậy, Marx chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp và đã đơn giản hóa lịch sử, đơn giản hóa xã hội bằng cách cho rằng xã hội chia thành hai giai cấp. Giai cấp chủ nhân thì càng ngày càng giàu và càng ít, giai cấp thợ thuyền thì càng ngày càng đông và càng nghèo. Từ đó, hố ngăn cách giữa hai giai cấp càng ngày càng lớn, đi đến cách mạng tất yếu. (1) Marx viết : « Sự phát triển kỹ nghệ nặng đã đào hố sâu dưới chân giai tầng tư sản, dưới mảnh đất mà chính giai tầng này đã xây dựng lên hệ thống tư hữu của mình. Giai tầng tư sản đã tự đào mồ chôn mình. » ( Sách đã dẫn – trang 34).
Và K. Marx cho rằng cách mạng cộng sản chỉ xẩy ra ở những nước tư bản, đã đạt đến trình độ kỹ nghệ cao ; vì chỉ ở những nước này mới có giai cấp vô sản, giai cấp cách mạng nhất. Ông viết tiếp :
« Trong tất cả những giai cấp chống lại giai cấp tư sản hiện nay, giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất thực sự cách mạng. » ( Sách đã dẫn trang 31).
Chính vì vậy mà K. Marx cho rằng cách mạng cộng sản chỉ xẩy ra tại các nước kỹ nghệ. Tuy nhiên Marx đã chờ cách mạng tất yếu cả cuộc đời ; lúc đầu Marx tin tưởng nó xẩy ra ở Anh, nước kỹ nghệ đầu tiên. Cách mạng cộng sản không xẩy ra ở Anh ; Marx quay sang mong chờ ở Đức, sau đó tới Pháp. Nhưng cách mạng tất yếu cộng sản cũng không xẩy ra cho tới khi Marx chết.
Cách mạng tất yếu cộng sản không xẩy ra tại các nước kỹ nghệ như Marx tiên đóan là do nhiều nguyên do ; trong trong đó có một lý do chính : Đó là giai tầng sỹ phu trí thức của những nước này đã biết rõ tính chất không tưởng và sai lầm của lý thuyết Marx ; chẳng hạn như ở vùng Trèves, nam Đức, gần Pháp, nơi sinh trưởng của Marx, người ta có thấy tượng của Marx với hàng chữ ở dưới : Đây là nơi sinh trưởng của Marx ; nhưng ở đây người ta cũng không chấp nhận tư tưởng của ông. Ở Đức, người dân đánh giá những người như Goeth, Kant, Hégel cao hơn Marx nhiều. Những người như nhà triết học Proudhon ( 1809-1865), cùng thời với Marx (1818-1883), đã cho rằng lý thuyết của Marx nếu được áp dụng, thì sẽ trở thành con sán lãi của xã hội ; những người sau này như Bernstein (1850-1932), thì cho rằng lý thuyết của Marx không có gì là khoa học. Còn bà Rosa Luxemboug( 1871-1919) thì chỉ trích mạnh mẽ quan niệm độc tài vô sản, nhất là cách mà Lénine cướp chính quyền và tổ chức một đảng độc tài, đứng sau một nhà nước độc tài. Theo bà, những cái này là hoàn toàn đi ngược với tinh thần xã hội chủ nghĩa ; vì những nguyên tắc chính của xã hội chủ nghĩa là tôn trọng tự do, dân chủ.
Ba mươi bốn năm sau khi Marx chết (1883), Lénine( 1870-1924) làm cách mạng cộng sản ở một nước không có kỹ nghệ cao.
Và ở điểm này, người ta đặt câu hỏi : « Tại sao cách mạng cộng sản lại xẩy ra một cách không tất yếu ở Nga ? «
I I ) Tại sao cách mạng cộng sản lại xẩy ra ở Nga, Tàu và Việt Nam
Đức Datlai Lama có nói : « Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh xôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời. »
Thật vậy, nếu chúng ta xét sự thành hình của 3 chế độ cộng sản Nga, Tàu và Việt Nam, thì đều thấy xuất hiện ở cuối 2 trận thế chiến, Thế Chiến Thứ Nhất với Nga,Thế Chiến Thứ Hai với Tàu và Việt Nam.
Chính Mao trạch Đông, khi tiếp tướng Anh, Lord Mountbatten, Tư lệnh Hải quân Đồng minh ở vùng Đông Nam Á, vào Đệ Nhị Thế Chiến, không ngần ngại, dấu diếm tuyên bố : « Nếu không có chiến tranh Trung - Nhật và Thế Chiến Thứ Hai, thì đảng cộng sản không bao giờ có chính quyền. »
Đối với Lénine, ông ý thức rất rõ là không thể nào ngồi chờ cách mạng tất yếu như Marx, mà phải làm cách mạng, quan niệm hạ tầng cơ sở kinh tế gồm sức sản xuất và tương quan sản xuất sẽ quyết định thượng tầng gồm tổ chức nhà nước, luật pháp, triết học, thẩm mỹ của K. Marx là không thực tế. Chính vì vậy mà Lénine nói : « Nếu không có ý thức cách mạng, thì không có cách mạng. « Đây là câu nói có nghĩa là phải dùng thương tầng để thay đổi hạ tầng. Thực tế cộng sản từ nhà nước cộng sản đầu tiên do Lénine lập ra cho tới nay ở những nước cộng sản là đã dùng thượng tầng để ép hạ tầng, dùng công an, thông tin tuyên truyền để đàn áp, ru ngủ, đánh lạc hướng dân.
Thật ra, cuộc cách mạng Tháng 10/1917 ở Nga chỉ là sản phẩm của Lénine, Trotski và những người đấu tranh chính trị nhà nghề, lợi dụng tình thế nước Nga lúc gần cuối Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1917), với sự giúp đỡ của Bộ Tham Mưu Đức dưới chế độ quân chủ của vua Guillaume, tạo ra. Đây chỉ là một cuộc đảo chính, với sự thờ ơ của dân và ngay cả thợ thuyền. (1) Chính vì vậy mà Karl Kautski ( 1854-1938), nhà lý thuyết của đảng Xã hội dân chủ Đức, cùng hoạt động với Lénine và là lãnh tụ của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng sản, đã cho rằng « cuộc cách mạng « , do Lénine làm ra chỉ là cuộc cách mạng « đẻ non, sớm muộn sẽ hoài thai « . Kautski cũng như bà Rosa Luxemboug tin rằng những nguyên tắc chính và đầu tiên của xã hội chủ nghĩa là tôn trọng tự do, dân chủ. Ông cho rằng chế độ đại nghị, qua những cuộc bầu cử tự do thật sự sẽ giúp thợ thuyền thực hiện những quyền tự do căn bản của mình. Lénine đã chỉ trích ông mạnh mẽ trong quyển Chủ Nghĩa tả khuynh, bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản ( Le Gauchisme, la maladie infantile du communisme ). Ngày hôm nay sau gần 100, người ta mới thấy chính Lénine mới là ấu trĩ, cuộc cách mạng Nga chỉ là một cuộc cách mạng đẻ non và đã hoài thai, khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Nga sô đầu năm 1991.
Cách mạng cộng sản Tàu và Cách mạng cộng sản Việt Nam cũng vậy, cũng chỉ là những cuộc cách mạng đẻ non, sớm muộn sẽ hoài thai.
Thật vậy, khi đảo chánh thành cộng, Lénine tìm cách xuất cảng « cách mạng « , đã lập ra trường đại học Đông phương, huấn luyện cho những người như Lưu thiếu Kỳ, Chu ân Lai, Đặng tử Bình, Dương thiệu Côn v. v.. của Tàu, và Hồ chí Minh, Trần Phú, Lê hồng Phong v.v.. của Việt Nam, để làm cách mạng đẻ non ở những nước này. Và tình thế đã tới, đó là cuối Đệ Nhị Thế Chiến, lợi dụng thời cơ, cùng sự giúp đỡ của Đệ Tam Quốc tế, hai đảng cộng sản ở hai xứ này, nổi lên cướp chính quyền. Vụ cướp chính quyền ở Tàu hơi khác, nhưng cũng nhờ tình thế và sự giúp đỡ của Đệ Tam Quốc tế như chính Mao đã nói với tướng Mounbatten.
Lý thuyết của Marx quả là không tưởng, sai lầm, mặc dầu ông đã bỏ ra hơn 1/3 nội dung quyển Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng Sản, để phê bình những nhà tư tưởng trước ông như Robert Owen, Charles Fourrier, Saint Simon là không tưởng. Cách mạng cộng sản Nga và cách mạng cộng sản Tàu, Việt Nam quả thật là cách mạng đẻ non.Chế độ cộng sản quả là một độc dược, mang lại mọi thứ bệnh cho kẻ nào theo nó (1). Hậu quả là lịch sử nhân loại, cũng như lịch sử các nước cộng sản, đã có những trang sử đau thương, đẫm máu ; nhưng chưa có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản. Nga đã từ bỏ cộng sản. Mong rằng những nước cộng sản còn lại, trong đó có Tàu và Việt Nam, sớm từ bỏ chế độ này ; vì ngày nào còn cộng sản, thì còn đau thương cho dân tộc và đất nước..
Paris ngày 24/12/2008
Chu chi Nam
(1) Xin Qui vi xem : « Tại sao cách mạng tất yếu không xẩy ra tại các nước Tây Âu, mà lại xẩy ra tại những nước cộng sản « , « Phê bình lý thuyết của Marx » , « Chế độ cộng sản, đống tro tàn… « , trên http://perso.orange.fr/chuchinam/
สมัครสมาชิก:
บทความ (Atom)