Chuyện giải thoát cô Cl.Reiss khỏi nhà tù Téhéran ở Iran đang làm xôn xao dư luận nước Pháp hơn 1 tháng nay.
Cô giáo về ngôn ngữ Reiss, tròn 24 tuổi, học giỏi tiếng ba-tư hè này sang Téhéran thủ đô Iran đi du lịch và muốn tìm chỗ dạy tiếng Pháp bên đó.
Téhéran đang sống những ngày sôi động về chính trị. Sau cuộc bàu tổng thống ngày 12-6-2009, tổng thống trúng cử Mahmoud Ahmadinajad bị tố cáo gian lận, các cuộc biểu tình liên tiếp nổ ra. Cuối tháng 6, cô Reiss gặp một cuộc tuần hành lớn, liền đi theo quan sát, tò mò chụp vài pô ảnh vào trong chiếc điện thoại di động và kể chuyện cho một cô bạn. Cô bị cảnh sát và mật vụ theo dõi.
Ngày 1-7 cô sắp lên máy bay để trở về Pháp thì bị giữ lại và bị giam chờ ngày ra toà về tội: "do thám và khuyến khích hoạt động chống đối", có thể bị tù 5 năm.
Dư luận Pháp tìm hiểu tình hình, bộ ngoại giao Pháp khẳng định cô vô tội, tổng thống Pháp Sarkosy yêu cầu chính quyền Iran thả ngay không điều kiện cô giáo trẻ này.
Cùng bị bắt với cô còn có một số người Pháp, Anh làm việc tại Iran; Chính quyền Iran cố tạo nên chứng cớ là bất ổn chính trị là do các nước phương Tây gây nên, nhằm xoa dịu sự chống đối ở trong nước. Toà án Cách mạng (!) Iran mở phiên toà đầu tiên ngày 8-8 để xét xử hàng loạt người chống đối, người Iran và cả người nước ngoài. Cách xử án theo kiểu độc đoán, không có luật sư, buộc tội một cách mơ hồ vũ đoán. Cô Reiss không nhận tội, chỉ nói : "lẽ ra tôi không nên có mặt tại cuộc tuần hành ấy!". Cô còn chờ phiên xử tiếp và kết luận của toà án.
Thế rồi bỗng nhiên sự giải thoát cô giáo Reiss trở nên một khả năng hiện thực gần. Tổng thống Sarkosy từng có sáng kiến tham gia giải thoát 8 cô ý tá Bungari khỏi chính quyền Libye năm ngoái, gần đây còn giải thoát được bà Bétancourt khỏi nhà tù Colombie, 2 thành tích làm tăng đáng kể uy tín của ông cả trong và ngoài nước. Nay ông cũng tìm ra sáng kiến mới là nhân có quan hệ khá tốt với tổng thống Syrie Bachar El-Assad, một người rất thân thiết với chính quyền Iran, ông đã yêu cầu ông El-Assad làm người trung gian thương lượng, đồng thời chấp nhận sự mặc cả của Téhéran là đóng một số tiền ký quỹ (caution) là 300.000 USD (bằng 210.000 Euro).
Thế là tối 16-8 cô Reiss được chuyển từ trại giam đến đại sứ quán Pháp, chờ quyết định tiếp theo của nền tư pháp Iran, chưa được tự do về Pháp. Cô vui mừng được nói chuyện điện thoại với Bố cô ở Pháp.
Dù sao đây cũng là tin mừng của nước Pháp, chính phủ Pháp, đặc biệt là của bố mẹ và người thân của cô Reiss và cũng là của tổng thống Sarkosy.
Sắp đến sẽ ra sao? Bao giờ cô Reiss được tự do về Pháp. Vấn đề này còn đang treo lơ lửng. Và có nhiều bàn tán khác nhau.
Ai là người quyết định việc này trong chính quyền Iran? Tổng thống mới uy tín thấp, còn chưa lập xong chính phủ. Người hiện nắm quyền quyết định là Lãnh Đạo Tôn giáo tối cao Ali Khamenei. Ông này chưa thấy nói gì.
Cũng có thể Toà án Cách mạng(!) Tehéran sẽ kêu án 45 ngày tù giam (vừa bằng những ngày đã giam giữ) rồi trục xuất.
Có tin tuần sau, tổng thống Syrie sang Iran thăm hữu nghị, ông có thể thúc đẩy việc trả tự do cho cô Reiss, để tăng thêm uy tín với châu Âu. Vì vừa qua 27 nước Liên Âu đều lên tiếng đòi Téhéran phải trả ngay và không điều kiện cô Reiss, đặc biệt là Thuỵ điển, hiện là chủ tịch của Liên Âu.
Tuần sau, vào ngày thứ sáu 28-8 sẽ bắt đầu đại lễ Hồi giáo tuần Chay Ramadan, có thể nhà nước hồi giáo Iran sẽ có cử chỉ thích đáng mà mọi người chờ đợi. Nhiều người hy vọng.
Chúc cô giáo Cl.Reiss sớm được hoàn toàn tự do và đoàn tụ với người thân.
Có một sự trùng hợp lý thú. Ở Bắc Hàn, cựu tổng thống B.Clinton đã đón được người Mỹ khỏi nhà tù của Cộng sản Kim Chung Il. Ở Miến điện, thượng nghị sỹ Mỹ J.Webb đón được người Mỹ trở về gọn gàng, nhanh chóng khỏi nhà tù của bọn quân phiệt bất lương.
Còn ở nước ta, chẳng có ai tìm cách giải thoát hàng chục ngư dân nghèo khổ của các tỉnh Thanh hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi ...đang bị bọn Đại Hán giam cầm và tước đoạt hết mọi ngư cụ, còn bị đòi tiền phạt, tiền chuộc...!
Nhà cầm quyền mà vô trách nhiệm, vô lương tâm, còn lo "đớp", "mút" và "múc" cho thật lực cho riêng họ thì ... chẳng còn gì để nói!
Paris, 19-8-2009
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Thế giới แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Thế giới แสดงบทความทั้งหมด
วันพุธที่ 19 สิงหาคม พ.ศ. 2552
วันอังคารที่ 18 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No440: Một Số Chuyện Trong Chuyến Đi Bình Nhưỡng Của Ông Clinton
Nguyễn Khanh và Nam Phương
Theo Radio Chân Trời Mới
Trưa ngày 4 tháng 8 vừa qua, hầu như tất cả báo chí phát hành trên khắp thế giới đều sử dụng hai chữ "đột ngột" cho bản tin nhanh về chuyến viếng thăm Bình Nhưỡng của cựu Tổng thống Bill Clinton. Đối với mọi người thì đây đúng là một sự đột ngột, nhưng giữa Bình Nhưỡng và Washington chẳng có gì gọi là đột ngột cả vì nó đã được bàn thảo gần ba tuần trước ngày ông Clinton lên đường.
Theo một số tin tức vừa mới tiết lộ cho biết thì vào ngày 18 tháng 7 năm 2009, một trong hai nữ ký giả người Mỹ gốc Á châu bị bắt điện thoại từ một trại tù ở Bắc Hàn về cho gia đình ở California nói rằng nếu cựu Tổng thống Bill Clinton bay sang Bình Nhưỡng nói chuyện với ông Kim Chính Nhật thì Bắc Triều Tiên sẽ thả. Gia đình người nữ ký giả này đã trình bày câu chuyện này với những người hữu trách. Chính phủ Mỹ sau khi phân tích sự việc đã kết luận rằng đây là một thông điệp mà Bình Nhưỡng muốn gởi cho Washington, nhưng để chắc ăn Nhà Trắng (White House) đã tiếp xúc với Đại diện chính quyền Bình Nhưỡng ở Liên Hiệp Quốc để xác nhận có đúng như vậy hay không. Sau khi được trả lời là đúng như vậy, Nhà Trắng mới điện thoại cho cựu Tổng thống Bill Clinton để nhờ ông ta bay sang Bình Nhưỡng. Ngày 25 tháng 7, trên nguyên tắc ông Clinton đã nhận lời nhưng hỏi lại Nhà Trắng rằng có chắc là Bình Nhưỡng sẽ trả tự do cho hai nữ ký giả Mỹ hay không. White House lại liên lạc với Đại sứ Bắc Triều Tiên ở New York và biết được rằng đây là ý kiến lãnh tụ của họ. Ông Kim Chính Nhật nói thẳng ra là đối tượng mà ông ta muốn giao thiệp là cựu Tổng thống Bill Clinton.
Tại sao vậy, vì khi ông Clinton làm Tổng thống đã nhờ cựu Tổng thống Jimmy Carter làm đặc sứ bay sang Bắc Hàn hội đàm với ông Kim Nhật Thành về vấn đề vũ khí hạt nhân với nhiều nhượng bộ. Kết quả thì ai cũng biết, Hoa Kỳ đã viện trợ năng lượng cho Bắc Triều Tiên theo như lời hứa còn Bình Nhưỡng thì xé rào, không giữ đúng cam kết vẫn bí mật chế tạo tên lửa, bom nguyên tử mà chính quyền Clinton vẫn để yên.
Sau khi xác định được Bình Nhưỡng có ý định thả hai nữ ký giả Mỹ, White House đã điện thoại thông báo cho hai nước đồng minh cật ruột của mình biết chuyện này và nhận được sự yêu cầu là khi nói chuyện với ông Kim Chính Nhật cần phải đặt vấn đề người Nhật và Hàn bị Bình Nhưỡng bắt cóc. White House đã chuyển những lơi yêu cầu này cho ông Clinton vì thế trong cuộc nói chuyện với ông Kim Chính Nhật, cựu Tổng thống Clinton đã đề nghị Bắc Triều Tiên nên thật tâm giải quyết vấn đề bắt cóc người Nhật, người Đại Hàn mới mong hai quốc gia này bãi bỏ lệnh cấm vận và tái viện trợ.
Mặc dù White House sắp xếp chuyến đi này cho ông Clinton, nhưng vì muốn giữ bí mật cho đến lúc dẫn được hai nữ ký giả về, nên trước đó chẳng hề lên tiếng và chiếc chuyên cơ Boeing 737 chở ông Clinton khi đáp xuống phi trường quốc tế Sunan ở Bình Nhưỡng chỉ là một chiếc phi cơ sơn màu trắng toát, chẳng có một biểu tượng gì liên hệ đến chính phủ Hoa Kỳ. Đây là chiếc máy bay riêng của tỷ phú Steve Bing (44 tuổi), một người ủng hộ đảng Dân Chủ Mỹ, quen thân với ông Clinton, cho mượn. Ngày 30 tháng 7 năm 2009, người của tỷ phú Steve Bing điện thoại cho hãng Avjet đang quản lý chiếc máy bay này bảo rằng hãy chuẩn bị sẵn để có thể bay đi Bình Nhưỡng bất cứ lúc nào. Người của hãng Avjet lấy làm thắc mắc vì theo luật hàng không hiện hành của Hoa Kỳ thì cấm tất cả máy bay Mỹ không được đáp xuống bất kỳ một phi trường nào của Bắc Triều Tiên. Thắc mắc này được giải đáp ngay là đã có phép của Cục Hàng không Hoa Kỳ.
Các ký giả đã tìm đủ mọi cách để yêu cầu chính quyền Bình Nhưỡng làm rõ hai chuyện, nhưng bị khước từ. Chuyện thứ nhất là theo như hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên loan tin thì Tổng thống Obama đã nhờ ông Clinton chuyển một bức thư thân thiện đến ông Kim Chính Nhật trong đó có viết những lời tạ lỗi, sự thật như thế nào xin cho biết, nếu không thì sẽ bị mang tiếng loan tin thất thiệt vì phía Hoa Kỳ đã khẳng định rằng chẳng bao giờ có chuyện đó, mà xin lỗi về việc gì. Chuyện thứ hai là theo thỏa thuận giữa Bình Nhưỡng với Washington thì chỉ loan tin khi chiếc máy bay chở cựu Tổng thống Bill Clinton đáp xuống phi trường Sunan thì tại sao trước đó khoảng 10 phút đài truyền hình Bình Nhưỡng lại cho đi tin để rồi một phút sau thì cắt ngang rồi cho phát một vài bản nhạc ngay trong lúc xướng ngôn viên đang đọc tin.
Chắc chắn còn rất nhiều chuyện liên quan đến chuyến đi Bình Nhưỡng của cựu Tổng thống Bill Clinton chưa được tiết lộ, Nguyễn Khanh và Nam Phương sẽ tiếp tục theo dõi để tường trình cùng quý thính giả.
Theo Radio Chân Trời Mới
Trưa ngày 4 tháng 8 vừa qua, hầu như tất cả báo chí phát hành trên khắp thế giới đều sử dụng hai chữ "đột ngột" cho bản tin nhanh về chuyến viếng thăm Bình Nhưỡng của cựu Tổng thống Bill Clinton. Đối với mọi người thì đây đúng là một sự đột ngột, nhưng giữa Bình Nhưỡng và Washington chẳng có gì gọi là đột ngột cả vì nó đã được bàn thảo gần ba tuần trước ngày ông Clinton lên đường.
Theo một số tin tức vừa mới tiết lộ cho biết thì vào ngày 18 tháng 7 năm 2009, một trong hai nữ ký giả người Mỹ gốc Á châu bị bắt điện thoại từ một trại tù ở Bắc Hàn về cho gia đình ở California nói rằng nếu cựu Tổng thống Bill Clinton bay sang Bình Nhưỡng nói chuyện với ông Kim Chính Nhật thì Bắc Triều Tiên sẽ thả. Gia đình người nữ ký giả này đã trình bày câu chuyện này với những người hữu trách. Chính phủ Mỹ sau khi phân tích sự việc đã kết luận rằng đây là một thông điệp mà Bình Nhưỡng muốn gởi cho Washington, nhưng để chắc ăn Nhà Trắng (White House) đã tiếp xúc với Đại diện chính quyền Bình Nhưỡng ở Liên Hiệp Quốc để xác nhận có đúng như vậy hay không. Sau khi được trả lời là đúng như vậy, Nhà Trắng mới điện thoại cho cựu Tổng thống Bill Clinton để nhờ ông ta bay sang Bình Nhưỡng. Ngày 25 tháng 7, trên nguyên tắc ông Clinton đã nhận lời nhưng hỏi lại Nhà Trắng rằng có chắc là Bình Nhưỡng sẽ trả tự do cho hai nữ ký giả Mỹ hay không. White House lại liên lạc với Đại sứ Bắc Triều Tiên ở New York và biết được rằng đây là ý kiến lãnh tụ của họ. Ông Kim Chính Nhật nói thẳng ra là đối tượng mà ông ta muốn giao thiệp là cựu Tổng thống Bill Clinton.
Tại sao vậy, vì khi ông Clinton làm Tổng thống đã nhờ cựu Tổng thống Jimmy Carter làm đặc sứ bay sang Bắc Hàn hội đàm với ông Kim Nhật Thành về vấn đề vũ khí hạt nhân với nhiều nhượng bộ. Kết quả thì ai cũng biết, Hoa Kỳ đã viện trợ năng lượng cho Bắc Triều Tiên theo như lời hứa còn Bình Nhưỡng thì xé rào, không giữ đúng cam kết vẫn bí mật chế tạo tên lửa, bom nguyên tử mà chính quyền Clinton vẫn để yên.
Sau khi xác định được Bình Nhưỡng có ý định thả hai nữ ký giả Mỹ, White House đã điện thoại thông báo cho hai nước đồng minh cật ruột của mình biết chuyện này và nhận được sự yêu cầu là khi nói chuyện với ông Kim Chính Nhật cần phải đặt vấn đề người Nhật và Hàn bị Bình Nhưỡng bắt cóc. White House đã chuyển những lơi yêu cầu này cho ông Clinton vì thế trong cuộc nói chuyện với ông Kim Chính Nhật, cựu Tổng thống Clinton đã đề nghị Bắc Triều Tiên nên thật tâm giải quyết vấn đề bắt cóc người Nhật, người Đại Hàn mới mong hai quốc gia này bãi bỏ lệnh cấm vận và tái viện trợ.
Mặc dù White House sắp xếp chuyến đi này cho ông Clinton, nhưng vì muốn giữ bí mật cho đến lúc dẫn được hai nữ ký giả về, nên trước đó chẳng hề lên tiếng và chiếc chuyên cơ Boeing 737 chở ông Clinton khi đáp xuống phi trường quốc tế Sunan ở Bình Nhưỡng chỉ là một chiếc phi cơ sơn màu trắng toát, chẳng có một biểu tượng gì liên hệ đến chính phủ Hoa Kỳ. Đây là chiếc máy bay riêng của tỷ phú Steve Bing (44 tuổi), một người ủng hộ đảng Dân Chủ Mỹ, quen thân với ông Clinton, cho mượn. Ngày 30 tháng 7 năm 2009, người của tỷ phú Steve Bing điện thoại cho hãng Avjet đang quản lý chiếc máy bay này bảo rằng hãy chuẩn bị sẵn để có thể bay đi Bình Nhưỡng bất cứ lúc nào. Người của hãng Avjet lấy làm thắc mắc vì theo luật hàng không hiện hành của Hoa Kỳ thì cấm tất cả máy bay Mỹ không được đáp xuống bất kỳ một phi trường nào của Bắc Triều Tiên. Thắc mắc này được giải đáp ngay là đã có phép của Cục Hàng không Hoa Kỳ.
Các ký giả đã tìm đủ mọi cách để yêu cầu chính quyền Bình Nhưỡng làm rõ hai chuyện, nhưng bị khước từ. Chuyện thứ nhất là theo như hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên loan tin thì Tổng thống Obama đã nhờ ông Clinton chuyển một bức thư thân thiện đến ông Kim Chính Nhật trong đó có viết những lời tạ lỗi, sự thật như thế nào xin cho biết, nếu không thì sẽ bị mang tiếng loan tin thất thiệt vì phía Hoa Kỳ đã khẳng định rằng chẳng bao giờ có chuyện đó, mà xin lỗi về việc gì. Chuyện thứ hai là theo thỏa thuận giữa Bình Nhưỡng với Washington thì chỉ loan tin khi chiếc máy bay chở cựu Tổng thống Bill Clinton đáp xuống phi trường Sunan thì tại sao trước đó khoảng 10 phút đài truyền hình Bình Nhưỡng lại cho đi tin để rồi một phút sau thì cắt ngang rồi cho phát một vài bản nhạc ngay trong lúc xướng ngôn viên đang đọc tin.
Chắc chắn còn rất nhiều chuyện liên quan đến chuyến đi Bình Nhưỡng của cựu Tổng thống Bill Clinton chưa được tiết lộ, Nguyễn Khanh và Nam Phương sẽ tiếp tục theo dõi để tường trình cùng quý thính giả.
วันศุกร์ที่ 14 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No432: Tân Cương – Palestine của Trung Quốc?
Mark O’Neill
Thứ Năm, ngày 13-8-2009
Cuốn sách được bán với số lượng tăng vọt như tên lửa cho chúng ta một thể loại phóng sự tốt nhất về cuộc khủng hoảng ở Duy Ngô Nhĩ [Uighur]
“Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những chính sách của mình ở Tân Cương, thì dần dần họ sẽ đem tới một cuộc chiến tranh sắc tộc như là cuộc chiến giữa Israel và những người Palestine, một cuộc chiến không có cách gì giải quyết nổi và không có hồi kết.”
Đây là ý kiến của tác giả và là nhà báo người Trung Quốc Wang Lixiong, người đã viết lên mảng phóng sự hấp dẫn nhất về khu vực tranh chấp này – cuốn “Vùng Đông Thổ của anh, Miền Tây của tôi.” Nhà xuất bản Locus của Đài Loan ấn hành lần thứ nhất cuốn sách vào tháng Mười năm 2007 rồi đã và đang tái bản với số lượng tăng lên đột ngột nhằm đáp ứng nhu cầu độc giả trong năm nay. Số sách bán ra trong giới nói tiếng Trung đã tăng vọt khi mà người dân đã phải cố gắng để giải thích những sự kiện gây xúc động sâu sắc tại Thiên Sơn [Urumqi] kể từ khi xảy ra vào tháng Bảy. Tuy nhiên cuốn sách đã không được dịch ra tiếng Anh, và có lẽ sẽ không được dịch, căn cứ trên thực tế là phương Tây và đặc biệt là Âu châu đã phải sửng sốt với những luận điệu của người Hán Trung Quốc tại Tây Tạng và phần lớn họ không hay biết về những gì đang xảy ra tại Thiên Sơn.
Theo các phương tiện truyền thông nhà nước, ít nhất có 197 người chết và 1.720 người bị thương trong những cuộc náo loạn sắc tộc vào trưa và tối ngày 5 tháng Bảy. Một đám đông người Duy Ngô Nhĩ, được vũ trang bằng kiếm và gậy gộc, đã kéo tới quảng trường trung tâm, theo tin tức cho hay thì họ phản kháng về vụ giết hại ít nhất là hai người Duy Ngô Nhĩ tại một nhà máy ở Shaoguan, Tỉnh Quảng Đông trong tháng Sáu. Các lực lượng an ninh đã ngăn chặn những người phản kháng và nổ súng, giết hại ít nhất là 12 người. Từ đó đám đông đã nổi cơn thịnh nộ, tấn công và giết những công dân người Trung Quốc gốc Hán không có vũ trang.
Để đối phó với tình trạng bạo lực, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã phải huỷ bỏ một chuyến công du dự hội nghị G20 ở Rome để trở về nước. Chính phủ trung ương đã phái 130.000 binh lính từ khắp nơi trong nước tới các thành phố lớn ở Tân Cương, nơi mà có khả năng họ phải lưu lại ít nhất là cho tới ngày 1 tháng Mười, là dịp kỷ niệm lần thứ 60 quốc khánh nhà nước Cộng sản này.
Những người muốn hiểu về điều gì đã xảy ra trong tháng qua ở đây thì có thể không gì hơn là nhắm vào cuốn sách của Wang, một tác giả độc lập từng đi đây đi đó khắp vùng Tân Cương, phỏng vấn người dân từ tất cả mọi hạng người sống tại đó. Vào tháng Một năm 1999, ông đã bị tống giam ở đây trong sáu tuần vì “chiếm hữu những bí mật quốc gia”. Trong thời gian bị giam giữ, ông đã giúp đỡ một trí thức người Duy Ngô Nhĩ, người mà sau này khi được trả tự do, đã giới thiệu ông với các vùng thuộc xã hội Duy Ngô Nhĩ thường gần với người Trung Quốc gốc Hán.
Đối với Wang, sự gần gũi tương đồng nhất của vùng này là Palestine. Vào năm 1949, khi những người Cộng sản giành được chính quyền, người Trung Quốc gốc Hán chiếm 6% dân số ở Tân Cương, tương phản với 75% người Duy Ngô Nhĩ. Tới năm 2005, tỉ lệ người Duy Ngô Nhĩ đã rớt xuống 45,9% và tỉ lệ người Hán đã lên tới 39,6%. Giữa năm 1990 và 2000, số người Hán đã gia tăng thêm 1,79 triệu và những sắc dân thiểu số tăng 1,5 triệu.
Sự gia tăng này là kết quả từ chính sách của chính phủ nhằm siết chặt quyền kiểm soát khu vực rộng lớn nhất này của Trung Quốc với một nguồn dự trữ to lớn dầu lửa, khí gas, các loại kháng sản, than đá, bông và những tài nguyên thiên nhiên khác, và cho định cư hàng chục ngàn dân dư thừa. Trong ba thập kỷ đầu của chế độ cai trị Cộng sản, chính phủ đã lệnh cho dân chúng tới định cư ở Tân Cương, trong đó có các binh lính giải ngũ, “các thành phần tội phạm”, “các phần tư hữu khuynh” và “những tầng lớp không được ưa thích” khác. Kể từ năm 1980, chính phủ này đã dùng những lối khuyến khích về kinh tế, đặc biệt là chính sách “Về miền Tây”, trong đó có việc bơm hàng tỉ nhân dân tệ vào Tân Cương và ban cho nhiều quyền lợi trong công ăn việc làm.
“Những người nhập cư gốc Hán này đã đưa đến cuộc đối đầu hàng ngày giữ các sắc tộc, một cuộc chiến giành nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ, và làm cho việc đối đầu trở thành một chuyện thường ngày,” ông Wang viết. “Điều này có thể dẫn đến ’sự hình thành một kiểu Palestine’ trong xung đột”. Hai cộng đồng này sống phần lớn riêng biệt, ngoại trừ tại nơi làm việc; hôn nhân ngoại chủng rất hiếm xảy ra và thường bị phản đối quyết liệt.
Quyền lực nằm trong tay các quan chức người Hán, đặc biệt trong chính quyền và các lực lượng an ninh; những vị trí hàng đầu để ngỏ cho người Duy Ngô Nhĩ là công việc hành chính, dân sự. Các mối quan hệ giữa người Hán và người Duy Ngô Nhĩ, nhất là trong giới trẻ, đã trở nên xấu đi, đặc biệt kể từ khi có các cuộc đánh bom tại khu vực này năm 1997 do những đòi hỏi được độc lập. Nó làm cho người Duy Ngô Nhĩ trở nên bị nghi ngờ trong mắt của người Hán, tại Tân Cương và phần còn lại trên đất nước Trung Quốc, nơi mà họ bị đối xử trong nỗi e sợ và hoài nghi. “Nếu anh cư xử với tôi như là một kẻ ăn cắp, thì tại sao chúng ta lại phải cùng chung một đất nước với nhau?”
Sức mạnh kinh tế ở Tân Cương nằm trong tay người Hán, những người có điều kiện tiếp cận giáo dục, công nghệ, tài chính và thị trường tốt hơn. Các công ty, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, thiên về thuê mướn người Hán, có vẻ được đào tạo tốt hơn, có khả năng hơn và nói tiếng Phổ thông tốt hơn là người Duy Ngô Nhĩ.
Một trong những công cụ cho “quá trình thực dân hóa” này là Tập đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương [Xinjang Production and Construction Corp], được biết đến dưới cái tên Bing Tuan (nhóm quân đội), một tổ chức của những người được quân sự hóa tới đây khai khẩn, thành lập vào những năm 1950. Hiện tập đoàn này có 2,6 triệu thành viên và kiểm soát một khu vực rộng 75.000 km2. Người sáng lập ra nó là Wang Zhen, một viên tướng kỳ cựu sau đó trở thành Phó Chủ tịch tập đoàn. Vào những năm 1950, ông ta đã xử sự như hoang thú với những người Duy Ngô Nhĩ đấu tranh đòi li khai; cứ với mỗi binh lính bị họ giết là ông ta ra lệnh xử tử năm người đàn ông Duy Ngô Nhĩ trong ngôi làng nơi xảy ra cuộc giết chóc.
Ông ta là một trong ba nhà lãnh đạo người Hán bị người Duy Ngô Nhĩ gọi là “kẻ bạo chúa ở Tân Cương”. Người thứ nhất là Sheng Shicai, một viên tướng được những kẻ dân tộc chủ nghĩa ủng hộ, từng kiểm soát khu vực này từ năm 1933-1944. Người thứ ba là Wang Lequan, từng là bí thư Đảng Cộng sản khu vực này và là người đứng đầu nhóm Bing Tuan từ năm 1994.
Ông Wang coi chính sách về ngôn ngữ và tôn giáo như là một khía cạnh quan trọng của cuộc thực dân hóa này. Nhà thờ Hồi giáo không được phép mở trường học kinh Ko-ran, các học sinh dưới 18 tuổi không được phép tới nhà thờ và không có tôn giáo nào được dạy trong trường học. Các công chức không được phép thờ phượng cũng như không được để râu – thậm chí cho dù là Karl Marx và Lenin cũng từng có râu như vậy.
Tiếng phổ thông Quan thoại là ngôn ngữ trong nhà trường, chính quyền và giao dịch kinh doanh. Việc nắm vững tiếng phổ thông – chứ không phải tiếng Duy Ngô Nhĩ – là yêu cầu thiết yếu cho một sự nghiệp thành đạt trong hầu hết mọi lĩnh vực. Cho nên, trong khi việc dạy tiếng Duy Ngô Nhĩ có ở trong nhiều trường học, nhưng hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ đã chọn cách gửi con em họ tới học ở các trường nói tiếng phổ thông Quan thoại.
Làm cho nhiều vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa chính là những thay đổi trong văn bản chữ viết của Duy Ngô Nhĩ. Văn bản lúc ban đầu là bằng chữ A-rập, rồi nó đã bị đổi sang chữ Latin vào năm 1962 và tiếp đến là quay trở lại chữ A-rập vào những năm 1980. Như một hệ quả, hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ từng học vào những năm 1960 và 1970 không thể đọc được ngôn ngữ của riêng họ.
“Hầu hết người Hán tới Tân Cương trên 20 năm trước đã học tiếng Duy Ngô Nhĩ, song những người đến đây trong 20 năm nay thì không. Họ cũng không muốn học ngôn ngữ này. Tiếp đến là một lượng chương trình học chính trị khổng lồ, đặc biệt kể từ chuyến viếng thăm của ông Jiang Zemin năm 1998. Mỗi chuyến như vậy là bạn lại phải ghi chép những lời dạy và giữ chúng lại. Khổ sở nhất là các giáo viên trong làng – thu nhập của họ thấp mà lại phải làm việc nhiều cho chương trình dạy chính trị. Họ không có thời gian mà nghỉ ngơi.”
Ở Tân Cương, y như ở Palestine, chẳng thể nào thấy xung đột chấm dứt.
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
Thứ Năm, ngày 13-8-2009
Cuốn sách được bán với số lượng tăng vọt như tên lửa cho chúng ta một thể loại phóng sự tốt nhất về cuộc khủng hoảng ở Duy Ngô Nhĩ [Uighur]
“Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những chính sách của mình ở Tân Cương, thì dần dần họ sẽ đem tới một cuộc chiến tranh sắc tộc như là cuộc chiến giữa Israel và những người Palestine, một cuộc chiến không có cách gì giải quyết nổi và không có hồi kết.”
Đây là ý kiến của tác giả và là nhà báo người Trung Quốc Wang Lixiong, người đã viết lên mảng phóng sự hấp dẫn nhất về khu vực tranh chấp này – cuốn “Vùng Đông Thổ của anh, Miền Tây của tôi.” Nhà xuất bản Locus của Đài Loan ấn hành lần thứ nhất cuốn sách vào tháng Mười năm 2007 rồi đã và đang tái bản với số lượng tăng lên đột ngột nhằm đáp ứng nhu cầu độc giả trong năm nay. Số sách bán ra trong giới nói tiếng Trung đã tăng vọt khi mà người dân đã phải cố gắng để giải thích những sự kiện gây xúc động sâu sắc tại Thiên Sơn [Urumqi] kể từ khi xảy ra vào tháng Bảy. Tuy nhiên cuốn sách đã không được dịch ra tiếng Anh, và có lẽ sẽ không được dịch, căn cứ trên thực tế là phương Tây và đặc biệt là Âu châu đã phải sửng sốt với những luận điệu của người Hán Trung Quốc tại Tây Tạng và phần lớn họ không hay biết về những gì đang xảy ra tại Thiên Sơn.
Theo các phương tiện truyền thông nhà nước, ít nhất có 197 người chết và 1.720 người bị thương trong những cuộc náo loạn sắc tộc vào trưa và tối ngày 5 tháng Bảy. Một đám đông người Duy Ngô Nhĩ, được vũ trang bằng kiếm và gậy gộc, đã kéo tới quảng trường trung tâm, theo tin tức cho hay thì họ phản kháng về vụ giết hại ít nhất là hai người Duy Ngô Nhĩ tại một nhà máy ở Shaoguan, Tỉnh Quảng Đông trong tháng Sáu. Các lực lượng an ninh đã ngăn chặn những người phản kháng và nổ súng, giết hại ít nhất là 12 người. Từ đó đám đông đã nổi cơn thịnh nộ, tấn công và giết những công dân người Trung Quốc gốc Hán không có vũ trang.
Để đối phó với tình trạng bạo lực, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã phải huỷ bỏ một chuyến công du dự hội nghị G20 ở Rome để trở về nước. Chính phủ trung ương đã phái 130.000 binh lính từ khắp nơi trong nước tới các thành phố lớn ở Tân Cương, nơi mà có khả năng họ phải lưu lại ít nhất là cho tới ngày 1 tháng Mười, là dịp kỷ niệm lần thứ 60 quốc khánh nhà nước Cộng sản này.
Những người muốn hiểu về điều gì đã xảy ra trong tháng qua ở đây thì có thể không gì hơn là nhắm vào cuốn sách của Wang, một tác giả độc lập từng đi đây đi đó khắp vùng Tân Cương, phỏng vấn người dân từ tất cả mọi hạng người sống tại đó. Vào tháng Một năm 1999, ông đã bị tống giam ở đây trong sáu tuần vì “chiếm hữu những bí mật quốc gia”. Trong thời gian bị giam giữ, ông đã giúp đỡ một trí thức người Duy Ngô Nhĩ, người mà sau này khi được trả tự do, đã giới thiệu ông với các vùng thuộc xã hội Duy Ngô Nhĩ thường gần với người Trung Quốc gốc Hán.
Đối với Wang, sự gần gũi tương đồng nhất của vùng này là Palestine. Vào năm 1949, khi những người Cộng sản giành được chính quyền, người Trung Quốc gốc Hán chiếm 6% dân số ở Tân Cương, tương phản với 75% người Duy Ngô Nhĩ. Tới năm 2005, tỉ lệ người Duy Ngô Nhĩ đã rớt xuống 45,9% và tỉ lệ người Hán đã lên tới 39,6%. Giữa năm 1990 và 2000, số người Hán đã gia tăng thêm 1,79 triệu và những sắc dân thiểu số tăng 1,5 triệu.
Sự gia tăng này là kết quả từ chính sách của chính phủ nhằm siết chặt quyền kiểm soát khu vực rộng lớn nhất này của Trung Quốc với một nguồn dự trữ to lớn dầu lửa, khí gas, các loại kháng sản, than đá, bông và những tài nguyên thiên nhiên khác, và cho định cư hàng chục ngàn dân dư thừa. Trong ba thập kỷ đầu của chế độ cai trị Cộng sản, chính phủ đã lệnh cho dân chúng tới định cư ở Tân Cương, trong đó có các binh lính giải ngũ, “các thành phần tội phạm”, “các phần tư hữu khuynh” và “những tầng lớp không được ưa thích” khác. Kể từ năm 1980, chính phủ này đã dùng những lối khuyến khích về kinh tế, đặc biệt là chính sách “Về miền Tây”, trong đó có việc bơm hàng tỉ nhân dân tệ vào Tân Cương và ban cho nhiều quyền lợi trong công ăn việc làm.
“Những người nhập cư gốc Hán này đã đưa đến cuộc đối đầu hàng ngày giữ các sắc tộc, một cuộc chiến giành nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ, và làm cho việc đối đầu trở thành một chuyện thường ngày,” ông Wang viết. “Điều này có thể dẫn đến ’sự hình thành một kiểu Palestine’ trong xung đột”. Hai cộng đồng này sống phần lớn riêng biệt, ngoại trừ tại nơi làm việc; hôn nhân ngoại chủng rất hiếm xảy ra và thường bị phản đối quyết liệt.
Quyền lực nằm trong tay các quan chức người Hán, đặc biệt trong chính quyền và các lực lượng an ninh; những vị trí hàng đầu để ngỏ cho người Duy Ngô Nhĩ là công việc hành chính, dân sự. Các mối quan hệ giữa người Hán và người Duy Ngô Nhĩ, nhất là trong giới trẻ, đã trở nên xấu đi, đặc biệt kể từ khi có các cuộc đánh bom tại khu vực này năm 1997 do những đòi hỏi được độc lập. Nó làm cho người Duy Ngô Nhĩ trở nên bị nghi ngờ trong mắt của người Hán, tại Tân Cương và phần còn lại trên đất nước Trung Quốc, nơi mà họ bị đối xử trong nỗi e sợ và hoài nghi. “Nếu anh cư xử với tôi như là một kẻ ăn cắp, thì tại sao chúng ta lại phải cùng chung một đất nước với nhau?”
Sức mạnh kinh tế ở Tân Cương nằm trong tay người Hán, những người có điều kiện tiếp cận giáo dục, công nghệ, tài chính và thị trường tốt hơn. Các công ty, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, thiên về thuê mướn người Hán, có vẻ được đào tạo tốt hơn, có khả năng hơn và nói tiếng Phổ thông tốt hơn là người Duy Ngô Nhĩ.
Một trong những công cụ cho “quá trình thực dân hóa” này là Tập đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương [Xinjang Production and Construction Corp], được biết đến dưới cái tên Bing Tuan (nhóm quân đội), một tổ chức của những người được quân sự hóa tới đây khai khẩn, thành lập vào những năm 1950. Hiện tập đoàn này có 2,6 triệu thành viên và kiểm soát một khu vực rộng 75.000 km2. Người sáng lập ra nó là Wang Zhen, một viên tướng kỳ cựu sau đó trở thành Phó Chủ tịch tập đoàn. Vào những năm 1950, ông ta đã xử sự như hoang thú với những người Duy Ngô Nhĩ đấu tranh đòi li khai; cứ với mỗi binh lính bị họ giết là ông ta ra lệnh xử tử năm người đàn ông Duy Ngô Nhĩ trong ngôi làng nơi xảy ra cuộc giết chóc.
Ông ta là một trong ba nhà lãnh đạo người Hán bị người Duy Ngô Nhĩ gọi là “kẻ bạo chúa ở Tân Cương”. Người thứ nhất là Sheng Shicai, một viên tướng được những kẻ dân tộc chủ nghĩa ủng hộ, từng kiểm soát khu vực này từ năm 1933-1944. Người thứ ba là Wang Lequan, từng là bí thư Đảng Cộng sản khu vực này và là người đứng đầu nhóm Bing Tuan từ năm 1994.
Ông Wang coi chính sách về ngôn ngữ và tôn giáo như là một khía cạnh quan trọng của cuộc thực dân hóa này. Nhà thờ Hồi giáo không được phép mở trường học kinh Ko-ran, các học sinh dưới 18 tuổi không được phép tới nhà thờ và không có tôn giáo nào được dạy trong trường học. Các công chức không được phép thờ phượng cũng như không được để râu – thậm chí cho dù là Karl Marx và Lenin cũng từng có râu như vậy.
Tiếng phổ thông Quan thoại là ngôn ngữ trong nhà trường, chính quyền và giao dịch kinh doanh. Việc nắm vững tiếng phổ thông – chứ không phải tiếng Duy Ngô Nhĩ – là yêu cầu thiết yếu cho một sự nghiệp thành đạt trong hầu hết mọi lĩnh vực. Cho nên, trong khi việc dạy tiếng Duy Ngô Nhĩ có ở trong nhiều trường học, nhưng hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ đã chọn cách gửi con em họ tới học ở các trường nói tiếng phổ thông Quan thoại.
Làm cho nhiều vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa chính là những thay đổi trong văn bản chữ viết của Duy Ngô Nhĩ. Văn bản lúc ban đầu là bằng chữ A-rập, rồi nó đã bị đổi sang chữ Latin vào năm 1962 và tiếp đến là quay trở lại chữ A-rập vào những năm 1980. Như một hệ quả, hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ từng học vào những năm 1960 và 1970 không thể đọc được ngôn ngữ của riêng họ.
“Hầu hết người Hán tới Tân Cương trên 20 năm trước đã học tiếng Duy Ngô Nhĩ, song những người đến đây trong 20 năm nay thì không. Họ cũng không muốn học ngôn ngữ này. Tiếp đến là một lượng chương trình học chính trị khổng lồ, đặc biệt kể từ chuyến viếng thăm của ông Jiang Zemin năm 1998. Mỗi chuyến như vậy là bạn lại phải ghi chép những lời dạy và giữ chúng lại. Khổ sở nhất là các giáo viên trong làng – thu nhập của họ thấp mà lại phải làm việc nhiều cho chương trình dạy chính trị. Họ không có thời gian mà nghỉ ngơi.”
Ở Tân Cương, y như ở Palestine, chẳng thể nào thấy xung đột chấm dứt.
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
วันพุธที่ 12 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No426:Thành kiến về sắc tộc
BÙI VĂN PHÚ

TT Obama cụng ly bia với Giáo sư Harvard Louis Gates, trái, và Trung sĩ Cảnh sát James Crowley, giữa, tại vườn Bạch Ốc hôm 30 tháng 7, 2009. Pete Souza/White House/Getty Images
Chiều thứ Năm tuần trước tôi cũng như nhiều người Mỹ khác đã mở ti-vi để xem buổi nhậu bia do Tổng thống Barack Obama làm chủ xị.Giới quan sát thời cuộc trước đó có đoán già đoán non về những điều mà những người liên quan sẽ nói với nhau. Liệu có ai xin lỗi ai hay không về những lời nói đã phát biểu, những hành động đã làm?
Câu chuyện xảy ra giữa giáo sư Henry Louis Gates Jr. và cảnh sát viên James Crowley tưởng là chuyện nhỏ giữa hai người, nhưng khi nó được đưa lên tranh luận trên báo đài toàn quốc thì dư luận bàn tán. Đến khi một phóng viên hỏi Tổng thống Obama về sự việc ông trả lời rằng “cảnh sát đã hành động một cách ngu xuẩn” thì cả nước Mỹ xôn xao lên.
Vì thế mới có một chiều uống bia để giải bầu tâm sự.
Khi cảnh bên hông Vườn Hồng trong sân Bạch Cung được sở báo chí phủ tổng thống cho phép quay phim và chụp hình ít giây đồng hồ, giới quan sát nhận ra điều ngạc nhiên trước tiên là Phó Tổng thống Joe Biden cũng được mời mà truyền thông không hay biết trước.
Tôi đoán vì Tổng thống Obama và giáo sư Gates là người da đen, trong khi đó trung sĩ cảnh sát Crowley người da trắng, hai đen một trắng xem ra không được quân bình nên sự có mặt của ông phó Biden cũng là điều dễ hiểu. Vừa quân bình về con số, vừa chứng tỏ sự quan tâm của chính phủ ở mức cao nhất.
Lúc đầu, buổi gặp gỡ dự định được coi như cơ hội để đưa ra những bài học về quan hệ sắc tộc tại Hoa Kỳ cho cả nước học hỏi. Nhưng sau có thay đổi. Đây là buổi gặp gỡ không có thư kí hay bí thư ghi lại nội dung – It’s off record. Vì thế bốn người đã nói, tâm sự gì với nhau thì không một người ngoài nào được biết.
Sau chầu bia, trung sĩ Crowley họp báo cho biết trước khi vào bàn nhậu hai gia đình đã gặp nhau, trò chuyện thân mật, vui vẻ trong lúc được hướng dẫn tham quan nội thất Bạch Cung. Cũng theo ông, buổi uống bia diễn ra trong không khí thân mật. Sau mấy ly bia, ông và giáo sư Gates có kế hoạch sẽ gặp lại nhau trong tương lai để trao đổi thêm và rút ra những bài học về vụ việc vừa rồi. Qua buổi họp báo, cảnh sát viên Crowley còn cho biết gia đình ông bị đe doạ và đã được cảnh sát bảo vệ. Phía giáo sư Gates những ngày sau cũng nói gia đình ông bị hăm doạ. Ngoài ra, ông đã gửi một bó hoa và thư riêng đến bà Lucia Whalen, người đã gọi báo cảnh sát khi thấy ông và một người khác tìm cách đẩy cửa vào nhà mà bà nghi là kẻ trộm. Về người cảnh sát, giáo sư Gates có nhận xét như sau: “Khi ông ta không đang bắt giam bạn, trung sĩ Crowley thật sự là một người đáng mến.”
Sau khi đãi chầu bia, Bạch Cung ra thông cáo báo chí ghi cảm tưởng của Tổng thống Obama: “Điều mang chúng ta lại gần nhau hơn có sức mạnh hơn là những gì kéo chúng ta xa nhau.”
Vụ việc giữa cảnh sát da trắng và nạn nhân da mầu, như trường hợp cảnh sát bắt giáo sư Gates về đồn công an, thường được cho là hành vi mang tính “thành kiến sắc tộc” – racial profiling – của những người có trách nhiệm công vụ.
Qua vụ việc này, theo thăm dò dư luận do Wall Street Journal/NBC News thực hiện và loan báo vào thứ Tư tuần trước thì có 4% người da đen cho rằng giáo sư Gates có lỗi, 30% cho rằng cảnh sát viên. Trong khi đó 32% người da trắng nói lỗi là từ giáo sư Gates, 7% nói cảnh sát viên Crowley. Theo khuynh hướng chính trị, 47% đảng viên cộng hoà cho rằng lỗi tại giáo sư Gates so với 11% đảng viên dân chủ nói giáo sư Gates có lỗi.
Như thế vẫn còn nhiều khác biệt trong cách nhìn sự việc tuỳ theo mầu da và khuynh hướng chính trị. Trên một số kênh truyền hình đã có những phát biểu gọi Tổng thống Obama là người mang đầu óc kì thị chủng tộc.
Đối với Tổng thống Obama thì chầu bia chỉ là cách để ông chữa lửa cho lời phát biểu đã gây sốc quá mạnh trong dư luận trong những ngày qua. Bây giờ vụ việc coi như đã qua để dư luận chú ý đến những vấn đề đại cuộc như kinh tế, cải tổ y tế.
Nhưng không biết đến kì bầu cử tới chuyện này có được đối thủ của ông bỏ qua? Và cử tri có quên không?

TT Obama cụng ly bia với Giáo sư Harvard Louis Gates, trái, và Trung sĩ Cảnh sát James Crowley, giữa, tại vườn Bạch Ốc hôm 30 tháng 7, 2009. Pete Souza/White House/Getty Images
Chiều thứ Năm tuần trước tôi cũng như nhiều người Mỹ khác đã mở ti-vi để xem buổi nhậu bia do Tổng thống Barack Obama làm chủ xị.Giới quan sát thời cuộc trước đó có đoán già đoán non về những điều mà những người liên quan sẽ nói với nhau. Liệu có ai xin lỗi ai hay không về những lời nói đã phát biểu, những hành động đã làm?
Câu chuyện xảy ra giữa giáo sư Henry Louis Gates Jr. và cảnh sát viên James Crowley tưởng là chuyện nhỏ giữa hai người, nhưng khi nó được đưa lên tranh luận trên báo đài toàn quốc thì dư luận bàn tán. Đến khi một phóng viên hỏi Tổng thống Obama về sự việc ông trả lời rằng “cảnh sát đã hành động một cách ngu xuẩn” thì cả nước Mỹ xôn xao lên.
Vì thế mới có một chiều uống bia để giải bầu tâm sự.
Khi cảnh bên hông Vườn Hồng trong sân Bạch Cung được sở báo chí phủ tổng thống cho phép quay phim và chụp hình ít giây đồng hồ, giới quan sát nhận ra điều ngạc nhiên trước tiên là Phó Tổng thống Joe Biden cũng được mời mà truyền thông không hay biết trước.
Tôi đoán vì Tổng thống Obama và giáo sư Gates là người da đen, trong khi đó trung sĩ cảnh sát Crowley người da trắng, hai đen một trắng xem ra không được quân bình nên sự có mặt của ông phó Biden cũng là điều dễ hiểu. Vừa quân bình về con số, vừa chứng tỏ sự quan tâm của chính phủ ở mức cao nhất.
Lúc đầu, buổi gặp gỡ dự định được coi như cơ hội để đưa ra những bài học về quan hệ sắc tộc tại Hoa Kỳ cho cả nước học hỏi. Nhưng sau có thay đổi. Đây là buổi gặp gỡ không có thư kí hay bí thư ghi lại nội dung – It’s off record. Vì thế bốn người đã nói, tâm sự gì với nhau thì không một người ngoài nào được biết.
Sau chầu bia, trung sĩ Crowley họp báo cho biết trước khi vào bàn nhậu hai gia đình đã gặp nhau, trò chuyện thân mật, vui vẻ trong lúc được hướng dẫn tham quan nội thất Bạch Cung. Cũng theo ông, buổi uống bia diễn ra trong không khí thân mật. Sau mấy ly bia, ông và giáo sư Gates có kế hoạch sẽ gặp lại nhau trong tương lai để trao đổi thêm và rút ra những bài học về vụ việc vừa rồi. Qua buổi họp báo, cảnh sát viên Crowley còn cho biết gia đình ông bị đe doạ và đã được cảnh sát bảo vệ. Phía giáo sư Gates những ngày sau cũng nói gia đình ông bị hăm doạ. Ngoài ra, ông đã gửi một bó hoa và thư riêng đến bà Lucia Whalen, người đã gọi báo cảnh sát khi thấy ông và một người khác tìm cách đẩy cửa vào nhà mà bà nghi là kẻ trộm. Về người cảnh sát, giáo sư Gates có nhận xét như sau: “Khi ông ta không đang bắt giam bạn, trung sĩ Crowley thật sự là một người đáng mến.”
Sau khi đãi chầu bia, Bạch Cung ra thông cáo báo chí ghi cảm tưởng của Tổng thống Obama: “Điều mang chúng ta lại gần nhau hơn có sức mạnh hơn là những gì kéo chúng ta xa nhau.”
Vụ việc giữa cảnh sát da trắng và nạn nhân da mầu, như trường hợp cảnh sát bắt giáo sư Gates về đồn công an, thường được cho là hành vi mang tính “thành kiến sắc tộc” – racial profiling – của những người có trách nhiệm công vụ.
Qua vụ việc này, theo thăm dò dư luận do Wall Street Journal/NBC News thực hiện và loan báo vào thứ Tư tuần trước thì có 4% người da đen cho rằng giáo sư Gates có lỗi, 30% cho rằng cảnh sát viên. Trong khi đó 32% người da trắng nói lỗi là từ giáo sư Gates, 7% nói cảnh sát viên Crowley. Theo khuynh hướng chính trị, 47% đảng viên cộng hoà cho rằng lỗi tại giáo sư Gates so với 11% đảng viên dân chủ nói giáo sư Gates có lỗi.
Như thế vẫn còn nhiều khác biệt trong cách nhìn sự việc tuỳ theo mầu da và khuynh hướng chính trị. Trên một số kênh truyền hình đã có những phát biểu gọi Tổng thống Obama là người mang đầu óc kì thị chủng tộc.
Đối với Tổng thống Obama thì chầu bia chỉ là cách để ông chữa lửa cho lời phát biểu đã gây sốc quá mạnh trong dư luận trong những ngày qua. Bây giờ vụ việc coi như đã qua để dư luận chú ý đến những vấn đề đại cuộc như kinh tế, cải tổ y tế.
Nhưng không biết đến kì bầu cử tới chuyện này có được đối thủ của ông bỏ qua? Và cử tri có quên không?
วันจันทร์ที่ 10 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No416: Cuộc cách mạng cùng quẫn của Cuba
Ngày 6-8-2009 – HAVANA
Từ bản báo in The Economist
Lời hứa cải cách và đổi mới bị trì hoãn dưới thời của Raúl Castro
Khi Cuba chào mừng ngày kỷ niệm cách mạng của mình vào cuối tháng trước với một cuộc mít tinh khổng lồ tại trung tâm thành phố Holguín, một tòa cao ốc gần đó đã được trang trí bằng một bức hình kếch xù Fidel và Raúl đang cùng vung nắm tay lên trời dưới dòng chữ, “Cuộc Cách mạng đầy Sinh lực và Chiến thắng vẫn Tiến về Phía trước.” Thế nhưng thái độ hân hoan chiến thắng vẫn thành một thứ thói quen tôn giáo này đã tương phản rõ ràng với những thông điệp mà Raúl, được sắp đặt năm ngoái vào vị trí của người anh trai ốm yếu của mình trong vai trò là chủ tịch nước, được đưa ra suốt trong bài diễn văn của ông trước đám đông và trong một cuộc họp khác vào tuần này tại Quốc hội. Ông loan báo việc trì hoãn một cách bất ngờ và không hạn định thời gian cho một kỳ đại hội Đảng Cộng sản vốn đã quá thời hạn từ lâu rồi, trong khi ông đã lên chương trình nghị sự là vào cuối năm nay. Và ông đã nói toạc móng heo về những vấn nạn kinh tế của Cuba.
Giá cả nickel trên thế giới đã xuống thấp hơn và một tình trạng sút giảm thu nhập từ du lịch đã đưa chính phủ nước này tới chỗ phải cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế của mình trong năm nay từ 6% xuống còn 1,7%. Quốc đảo này vẫn đang bình phục từ ba trận bão tàn phá vào năm ngoái, mà theo chính phủ cho biết thì đã gây thiệt hại trị giá 10 tỉ USD. Cấm vận kinh tế của Mỹ cũng vẫn còn đó.
Thế nhưng ông Raúl Castro đã đổ lỗi cho “những thiếu sót của chúng ta” trước thực tế này là “trong nhiều trường hợp như hai cộng hai thành ra ba.” Thậm chí khi ông bít những vẫn nạn này lại, thì những người khác lại mở nó ra. Ông đã giải đáp cho những dư luận càu nhàu kéo dài từ lâu về vấn đề vận tải công cộng bằng cách cho sửa chữa những con đường đầy ổ gà ở Cuba và mua những chiếc xe buýt mới của Trung Quốc. Tháng trước ông đã ra lệnh tăng lương cho 543.000 giáo viên và công nhân viên ngành giáo dục.
Song ông cũng đã yêu cầu cắt giảm các khoản chi tiêu cho giáo dục và sức khỏe “không thực chất”, cũng như những khẩu phần ăn không mất tiền vốn đã rất đạm bạc mà người Cuba nhận được từ nhà nước. Một số trong những giải pháp này là để đối phó với tình trạng thâm thủng cán cân thương mại đã vọt lên tới 65% trong năm 2008. Một phần do giá lương thực thực phẩm và nhiên xăng dầu tăng cao hơn, hàng hóa nhập khẩu tăng 41%, đạt 14,2 tỉ USD, trong khi xuất khẩu chỉ có 3,7 tỉ USD.
Hugo Chávez, tổng thống Venezuela, đã cấp cho Cuba dầu lửa giá rẻ để đổi lấy các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các chuyên gia về an ninh và tình báo của Cuba. Nhưng mức tiêu thụ dầu lửa của Cuba lại tăng lên đột ngột, do chính phủ phải đối phó với tình trạng mất điện liên miên bằng việc mua sắm hàng ngàn máy phát điện diesel ngốn nhiều nhiên liệu. Để tiết kiệm năng lượng, vào tháng Sáu, chính phủ đã lệnh cho các nhà máy, cửa hàng và các cán bộ nhà nước chỉ được bật máy điều hòa nhiệt độ mỗi ngày năm tiếng vào buổi trưa thôi. Thế nên các cửa hàng vắng teo vào buổi sáng và các nhân viên rảnh rỗi thì ngồi quanh cửa sổ, cửa ra vào mở toang.
Lương thực thực phẩm cũng thiếu thốn. Mặc dù đất trồng trọt chăn nuôi dư thừa, nhưng Cuba lại phải nhập 80% lương thực thực phẩm (phần lớn là từ Hoa Kỳ kể từ khi kẽ hở của lệnh cấm vận được mở ra năm 2001). Các nông trại của nhà nước làm ăn không hiệu quả chiếm tới ba phần tư đất đai tốt nhất song lại để phần lớn trong tình trạng nhàn rỗi. Ông Raúl Castro đã cố gắng phát động đẩy mạnh sản xuất bằng cách giao ruộng đất cho nông dân cá thể. Nhưng kế hoạch này đã chậm đi tới kết quả tốt đẹp đưa ra từ ban đầu: sản xuất nông nghiệp thậm chí đã giảm 7,3% vào quý đầu, và sản lượng thịt giảm 14,7%. “Đất đai cho người Cuba có ở khắp nơi, hãy tưởng tượng xem nếu như chúng ta biết tận dụng nó,” ông nói vậy khi ở Holguín.
Trong việc nối nghiệp anh trai với vai trò như một chủ tịch nước, Raúl Castro đã kêu gọi cho “những thay đổi cấu trúc và khái niệm” trong kinh tế, làm dấy lên những hy vọng trong vài tuần trăng rằng Cuba sẽ theo gương Việt Nam trong việc hướng tới một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới sự kiểm soát chính trị cộng sản. Những mối hy vọng vẫn chưa được đáp ứng. Thay vào đó, ông ta tập trung vào việc quản lý tốt hơn, lặng lẽ thăng cấp cho đội ngũ thân cận của riêng mình vào các vị trí trọng yếu trong bộ máy quan liêu nhà nước. Ông đã nhấn mạnh tới kỷ luật và kiểm soát. Quốc hội đã phê chuẩn một bộ luật cho thành lập một chức vụ kiểm toán trưởng mới, nhằm dập tắt nạn tham nhũng. Bộ trưởng giáo dục và hiệu trưởng trường Đại học Havana đã bị cách chức sau một cuộc thăm dò ý kiến xác định tinh thần cách mạng đang thiếu vắng trong cả sinh viên lẫn giáo viên.
Thái độ thận trọng này đã được phản ánh trong quyết định trì hoãn đại hội đảng, một sự kiện ắt sẽ định rõ ra “mô hình kinh tế chỉ đạo cho vận mệnh dân tộc,” ông tuyên bố. Người ta cũng hy vọng trông thấy sự chuyển giao cương vị lãnh đạo chính trị, từ lớp lãnh đạo cách mạng cộng sản lớn tuổi sang một thế hệ trẻ hơn. Nhưng ông Raúl nói rằng đảng vẫn chưa sẵn sàng. Lý do thực sự xuất hiện cho thấy ảnh hưởng của Fidel vẫn còn tiếp tục. Bị buộc phải từ bỏ cương vị chủ tịch khi phải trải qua cuộc phẫu thuật ổ bụng vào ba năm trước, ông vẫn sử dụng ảnh hưởng và một quyền phủ quyết hiển nhiên đằng sau hậu trường. Thay vì tổ chức một đại hội, Raúl Castro đã triệu tập “một hội nghị toàn quốc” để bầu lên những nhà lãnh đạo đảng mới.
Hệ thống cai trị và nhân dân Cuba phải đối mặt với một mùa hè nóng bức khác thường. Nhưng không có những tín hiệu việc kiểm soát chính trị đang yếu đi. Không như Fidel Castro, Raúl đang phải chống chọi với việc phải sử dụng thuật hùng biện về ý thức hệ đinh tai nhức óc của mình. Trong những bài diễn văn ông đã có chút ít ám chỉ tới Hoa Kỳ và lệnh cấm vận của nước này. Ông hoan nghênh việc tiếp tục lại những cuộc đối thoại về di dân vào tháng trước, được dỡ bỏ dưới thời Tổng thống George Bush. Song ông đã nhắc nhở quốc hội, và cả thế giới, rằng “tôi đã được bầu lên để bảo vệ, duy trì và tiếp tục hoàn thiện chủ nghĩa xã hội, chứ không phải để tiêu diệt nó.”
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
————
Cuba’s penurious revolution
Từ bản báo in The Economist
Lời hứa cải cách và đổi mới bị trì hoãn dưới thời của Raúl Castro
Khi Cuba chào mừng ngày kỷ niệm cách mạng của mình vào cuối tháng trước với một cuộc mít tinh khổng lồ tại trung tâm thành phố Holguín, một tòa cao ốc gần đó đã được trang trí bằng một bức hình kếch xù Fidel và Raúl đang cùng vung nắm tay lên trời dưới dòng chữ, “Cuộc Cách mạng đầy Sinh lực và Chiến thắng vẫn Tiến về Phía trước.” Thế nhưng thái độ hân hoan chiến thắng vẫn thành một thứ thói quen tôn giáo này đã tương phản rõ ràng với những thông điệp mà Raúl, được sắp đặt năm ngoái vào vị trí của người anh trai ốm yếu của mình trong vai trò là chủ tịch nước, được đưa ra suốt trong bài diễn văn của ông trước đám đông và trong một cuộc họp khác vào tuần này tại Quốc hội. Ông loan báo việc trì hoãn một cách bất ngờ và không hạn định thời gian cho một kỳ đại hội Đảng Cộng sản vốn đã quá thời hạn từ lâu rồi, trong khi ông đã lên chương trình nghị sự là vào cuối năm nay. Và ông đã nói toạc móng heo về những vấn nạn kinh tế của Cuba.
Giá cả nickel trên thế giới đã xuống thấp hơn và một tình trạng sút giảm thu nhập từ du lịch đã đưa chính phủ nước này tới chỗ phải cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế của mình trong năm nay từ 6% xuống còn 1,7%. Quốc đảo này vẫn đang bình phục từ ba trận bão tàn phá vào năm ngoái, mà theo chính phủ cho biết thì đã gây thiệt hại trị giá 10 tỉ USD. Cấm vận kinh tế của Mỹ cũng vẫn còn đó.
Thế nhưng ông Raúl Castro đã đổ lỗi cho “những thiếu sót của chúng ta” trước thực tế này là “trong nhiều trường hợp như hai cộng hai thành ra ba.” Thậm chí khi ông bít những vẫn nạn này lại, thì những người khác lại mở nó ra. Ông đã giải đáp cho những dư luận càu nhàu kéo dài từ lâu về vấn đề vận tải công cộng bằng cách cho sửa chữa những con đường đầy ổ gà ở Cuba và mua những chiếc xe buýt mới của Trung Quốc. Tháng trước ông đã ra lệnh tăng lương cho 543.000 giáo viên và công nhân viên ngành giáo dục.
Song ông cũng đã yêu cầu cắt giảm các khoản chi tiêu cho giáo dục và sức khỏe “không thực chất”, cũng như những khẩu phần ăn không mất tiền vốn đã rất đạm bạc mà người Cuba nhận được từ nhà nước. Một số trong những giải pháp này là để đối phó với tình trạng thâm thủng cán cân thương mại đã vọt lên tới 65% trong năm 2008. Một phần do giá lương thực thực phẩm và nhiên xăng dầu tăng cao hơn, hàng hóa nhập khẩu tăng 41%, đạt 14,2 tỉ USD, trong khi xuất khẩu chỉ có 3,7 tỉ USD.
Hugo Chávez, tổng thống Venezuela, đã cấp cho Cuba dầu lửa giá rẻ để đổi lấy các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các chuyên gia về an ninh và tình báo của Cuba. Nhưng mức tiêu thụ dầu lửa của Cuba lại tăng lên đột ngột, do chính phủ phải đối phó với tình trạng mất điện liên miên bằng việc mua sắm hàng ngàn máy phát điện diesel ngốn nhiều nhiên liệu. Để tiết kiệm năng lượng, vào tháng Sáu, chính phủ đã lệnh cho các nhà máy, cửa hàng và các cán bộ nhà nước chỉ được bật máy điều hòa nhiệt độ mỗi ngày năm tiếng vào buổi trưa thôi. Thế nên các cửa hàng vắng teo vào buổi sáng và các nhân viên rảnh rỗi thì ngồi quanh cửa sổ, cửa ra vào mở toang.
Lương thực thực phẩm cũng thiếu thốn. Mặc dù đất trồng trọt chăn nuôi dư thừa, nhưng Cuba lại phải nhập 80% lương thực thực phẩm (phần lớn là từ Hoa Kỳ kể từ khi kẽ hở của lệnh cấm vận được mở ra năm 2001). Các nông trại của nhà nước làm ăn không hiệu quả chiếm tới ba phần tư đất đai tốt nhất song lại để phần lớn trong tình trạng nhàn rỗi. Ông Raúl Castro đã cố gắng phát động đẩy mạnh sản xuất bằng cách giao ruộng đất cho nông dân cá thể. Nhưng kế hoạch này đã chậm đi tới kết quả tốt đẹp đưa ra từ ban đầu: sản xuất nông nghiệp thậm chí đã giảm 7,3% vào quý đầu, và sản lượng thịt giảm 14,7%. “Đất đai cho người Cuba có ở khắp nơi, hãy tưởng tượng xem nếu như chúng ta biết tận dụng nó,” ông nói vậy khi ở Holguín.
Trong việc nối nghiệp anh trai với vai trò như một chủ tịch nước, Raúl Castro đã kêu gọi cho “những thay đổi cấu trúc và khái niệm” trong kinh tế, làm dấy lên những hy vọng trong vài tuần trăng rằng Cuba sẽ theo gương Việt Nam trong việc hướng tới một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới sự kiểm soát chính trị cộng sản. Những mối hy vọng vẫn chưa được đáp ứng. Thay vào đó, ông ta tập trung vào việc quản lý tốt hơn, lặng lẽ thăng cấp cho đội ngũ thân cận của riêng mình vào các vị trí trọng yếu trong bộ máy quan liêu nhà nước. Ông đã nhấn mạnh tới kỷ luật và kiểm soát. Quốc hội đã phê chuẩn một bộ luật cho thành lập một chức vụ kiểm toán trưởng mới, nhằm dập tắt nạn tham nhũng. Bộ trưởng giáo dục và hiệu trưởng trường Đại học Havana đã bị cách chức sau một cuộc thăm dò ý kiến xác định tinh thần cách mạng đang thiếu vắng trong cả sinh viên lẫn giáo viên.
Thái độ thận trọng này đã được phản ánh trong quyết định trì hoãn đại hội đảng, một sự kiện ắt sẽ định rõ ra “mô hình kinh tế chỉ đạo cho vận mệnh dân tộc,” ông tuyên bố. Người ta cũng hy vọng trông thấy sự chuyển giao cương vị lãnh đạo chính trị, từ lớp lãnh đạo cách mạng cộng sản lớn tuổi sang một thế hệ trẻ hơn. Nhưng ông Raúl nói rằng đảng vẫn chưa sẵn sàng. Lý do thực sự xuất hiện cho thấy ảnh hưởng của Fidel vẫn còn tiếp tục. Bị buộc phải từ bỏ cương vị chủ tịch khi phải trải qua cuộc phẫu thuật ổ bụng vào ba năm trước, ông vẫn sử dụng ảnh hưởng và một quyền phủ quyết hiển nhiên đằng sau hậu trường. Thay vì tổ chức một đại hội, Raúl Castro đã triệu tập “một hội nghị toàn quốc” để bầu lên những nhà lãnh đạo đảng mới.
Hệ thống cai trị và nhân dân Cuba phải đối mặt với một mùa hè nóng bức khác thường. Nhưng không có những tín hiệu việc kiểm soát chính trị đang yếu đi. Không như Fidel Castro, Raúl đang phải chống chọi với việc phải sử dụng thuật hùng biện về ý thức hệ đinh tai nhức óc của mình. Trong những bài diễn văn ông đã có chút ít ám chỉ tới Hoa Kỳ và lệnh cấm vận của nước này. Ông hoan nghênh việc tiếp tục lại những cuộc đối thoại về di dân vào tháng trước, được dỡ bỏ dưới thời Tổng thống George Bush. Song ông đã nhắc nhở quốc hội, và cả thế giới, rằng “tôi đã được bầu lên để bảo vệ, duy trì và tiếp tục hoàn thiện chủ nghĩa xã hội, chứ không phải để tiêu diệt nó.”
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
————
Cuba’s penurious revolution
วันศุกร์ที่ 7 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No412:Thấy gì trong dĩa DVD về Tân Cương do Bắc Kinh đưa ra
Bà Rebiya Kadeer
Này 28/07/2009, bộ ngoại giao Trung Quốc gọi Đại sứ Nhật ở Bắc Kinh đến để phản đối việc Tokyo cho vị Chủ tịch Liên đoàn Uyghur hải ngoại là bà Kadeer vào Nhật. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vũ Đại Vĩ nói với Đại sứ Nhật Miyamoto rằng, Trung Quốc cực lực phản đối việc Tokyo cấp chiếu khán cho bà Kadeer vào Nhật, và yêu cầu chính phủ Nhật phải ra lịnh cấm bà Kadeer tổ chức các buổi hội họp hay thảo luận làm phân hóa sự thống nhất đất nước và tình đoàn kết dân tộc của Trung Quốc. Vũ Đại Vĩ còn đe dọa rằng, nếu Nhật không làm theo lời yêu cầu của Trung Quốc thì sự bang giao giữa hai nước sẽ trở nên căng thẳng, phong trào bài Nhật tại Trung quốc sẽ bộc phát mạnh trong tương lai rất gần, và Nhật Bản phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hậu quả này.
Cùng với sự phản đối vừa kể, Vũ Đại Vĩ còn trao cho đại sứ Nhật một dĩa DVD do Quốc vụ viện, tức phủ Thủ tướng Trung Quốc, phát hành, nội dung nói về vụ nổi loạn ở Tân Cương vừa qua. Bộ ngoại giao Trung Quốc muốn phía Nhật sẽ phân phối DVD này cho giới truyền thông Nhật, hầu người Nhật nhận ra ai là kẻ chủ mưu cuộc bạo loạn này. Đại sứ Miyamoto hứa sẽ chuyển những lời kháng nghị của Bắc Kinh cho Tokyo; tuy nhiên ông cũng cho Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc biết rằng, ở Nhật chẳng ai có quyền cấm người dân hội họp trong tinh thần ôn hoà để bàn thảo về bất cứ một vấn đề gì. Luật pháp Nhật đã quy định rõ như thế. Tuy nhận dĩa DVD, nhưng Đại sứ Miyamoto không hứa là sẽ phân phối lại cho giới truyền thông Nhật theo yêu cầu của Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu, vì trên cương vị Đại sứ, ông Miyamoto không có nhiệm vụ làm theo những gì Bắc Kinh yêu cầu để tuyên truyền dùm cho Trung Quốc; trong khi cả nước Nhật hầu như ai cũng biết vụ bạo loạn ở Tân Cương vừa qua bắt nguồn từ việc Trung quốc ra tay đàn áp những cuộc biểu tình ôn hòa của người dân Uyghur.
Bắc Kinh hy vọng với áp lực của họ, Tokyo sẽ gây khó khăn cho những cuộc vận động nhân quyền cho sắc tộc Uyghur của bà Kadeer. Thế nhưng, sự việc lại trái ngược với những gì mà nhà cầm quyền Bắc Kinh mong đợi, nghĩa là chuyến đi Nhật của bà Kadeer thành công ngoài dự tưởng. Sứ quán Trung quốc ở Nhật hẳn nhiên là không vui với những diễn tiến đó, nên vào ngày 30/07/2009 họ đã mời các ký giả đến để xem trình chiếu dĩa DVD về cuộc bạo động ở Tân Cương, mà họ cho rằng bà Kadeer là chủ mưu.
DVD này dài khoảng 20 phút, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nội dung là những hình ảnh đã được chiếu trên hệ thống truyền hình của Trung Quốc được sắp xếp lại, nhưng lồng thêm mấy cuộc điện đàm của bà Kadeer với những người trong tổ chức Liên đoàn Uyghur… Sau khi xem xong, nhiều ký giả đã chất vấn Đặng Vĩ, Đệ nhất Tham tán sứ quán Trung quốc ở Tokyo, về tính cách hợp pháp trong việc Trung Quốc lén lút ghi âm các cuộc điện đàm của bà Kadeer. Đặng Vĩ tránh né trả lời trực tiếp vấn đề, và cho rằng không nên quan tâm đến nguồn cung cấp những cuộc điện đàm đó, mà hãy chú ý đến nội dung để thấy rằng không ai khác hơn là bà Kadeer đã chủ mưu cuộc bạo động, khủng bố ở Tân Cương vừa rồi.
Một trong những người Nhật ủng hộ
bà Kadeer
Trong các cuộc điện đàm bị thu lén có những trao đổi tại cuộc họp qua điện thoại hôm 1 tháng 7 năm 2009 của những người trong Ban chấp hành Liên đoàn Uyghur hải ngoại; mà nội dung gồm ba điểm chính: Thứ nhất kêu gọi người Uyghur ở trong nước đừng sợ hãi nữa, mà hãy tích cực đứng lên đòi quyền sống; thứ hai kêu gọi thế giới đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh của người Uyghur, và liên kết với dân tộc Tây Tạng trong tất cả các cuộc đấu tranh; và thứ ba chọn ngày 26 tháng 6 (tức là ngày hai người Uyghur bị người Hán sát hại) làm ngày liệt sĩ.
Cuộc trao đổi giữa bà Kadeer với ông Seyit Tumturk (Phó Chủ tịch Liên đoàn Uyghur hải ngoại) vào ngày 30/06/2009 cũng bị ghi âm lén. Qua đó, bà Kadeer nhấn mạnh rằng, cần phải đặc biệt lưu tâm đến sự kiện hai người Uyghur bị người Hán sát hại ở Quảng Đông, và phải tận dụng biến cố này… Cuộc điện đàm thứ ba bị thâu lén là điện thoại của bà Kadeer từ Hoa Kỳ về Urumqui (thủ phủ Tân Cương) báo cho người em trai biết rằng ngày mai (05/07/2009) sẽ có biểu tình, và khuyên người em hãy cẩn thận.
Các ký giả cũng chất vấn Đặng Vĩ về những hình ảnh biểu tình ôn hoà của người Uyghur mà họ đều thu nhận được, nhưng DVD của Trung Quốc lại dấu nhẹm những hình ảnh đó. Họ cho rằng người Uyghur biểu tình ôn hòa nhưng vẫn bị đàn áp, nên mới phát sinh bạo động. Hơn nữa, nội dung những cuộc điện đàm của bà Kadeer đều là bình thường, không hề có chủ trương bạo động hay khủng bố. Những điều bà Kadeer quan tâm chỉ là những điều bình thường và đó cũng là mối quan tâm của mọi người dân Uyghur khác.
Không những báo chí phát hành ở Nhật, mà báo chí tại nhiều nước khác cũng đều đã lên tiếng chỉ trích rất gay gắt việc nhà cầm quyền cộng sản Trung quốc đàn áp người dân Uyghur ở Tân Cương. Bị dư luận phản đối, Bắc Kinh “giận cá chém thớt”, nên ngày 1 tháng 8 họ đã ra lệnh các hãng máy bay không cho phóng viên báo chí ngoại ngữ dùng các phòng đợi (Lounge) dành cho thượng khách ở các sân bay quốc tế của Trung Quốc. Theo ghi nhận của các phóng viên nước ngoài tại Trung quốc, thì tại các sạp báo vẫn có bày bán những tờ báo ngoại ngữ, nhưng đã bị kiểm duyệt nội dung. Một số báo Hoa ngữ phát hành ở Hồng Kông vẫn không được phép lưu hành, vì trong đó có bài viết về Tân Cương không phù hợp những gì mà chính quyền Bắc Kinh công bố.
Chuyện đàn áp người dân Uyghur đã rõ như ban ngày, nhưng nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn cố bẻ cong sự thật. Do đó, trong việc lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam, Trung Quốc chắc chắn đã và đang ra sức nguỵ tạo ra những bằng chứng lịch sử của họ. Điều không may cho dân tộc Việt Nam là chính những người cầm quyền ở Hà Nội không những đã không dám lên tiếng phản đối, mà nhiều khi còn ủng hộ những nguỵ tạo lịch sử của Trung Quốc, đồng thời tạo điều kiện để Trung Quốc hợp thức hoá sự lấn chiếm của họ. Vì vậy, chỉ có sự can đảm lên tiếng của người Việt Nam mới bẻ gãy được những nguỵ tạo của Trung Quốc và ngăn chặn được sự thông đồng của nhà cầm quyền Hà Nội trong việc Trung Quốc gặm nhấm dần giang sơn Việt Nam.
Ngô Văn
Này 28/07/2009, bộ ngoại giao Trung Quốc gọi Đại sứ Nhật ở Bắc Kinh đến để phản đối việc Tokyo cho vị Chủ tịch Liên đoàn Uyghur hải ngoại là bà Kadeer vào Nhật. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vũ Đại Vĩ nói với Đại sứ Nhật Miyamoto rằng, Trung Quốc cực lực phản đối việc Tokyo cấp chiếu khán cho bà Kadeer vào Nhật, và yêu cầu chính phủ Nhật phải ra lịnh cấm bà Kadeer tổ chức các buổi hội họp hay thảo luận làm phân hóa sự thống nhất đất nước và tình đoàn kết dân tộc của Trung Quốc. Vũ Đại Vĩ còn đe dọa rằng, nếu Nhật không làm theo lời yêu cầu của Trung Quốc thì sự bang giao giữa hai nước sẽ trở nên căng thẳng, phong trào bài Nhật tại Trung quốc sẽ bộc phát mạnh trong tương lai rất gần, và Nhật Bản phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hậu quả này.
Cùng với sự phản đối vừa kể, Vũ Đại Vĩ còn trao cho đại sứ Nhật một dĩa DVD do Quốc vụ viện, tức phủ Thủ tướng Trung Quốc, phát hành, nội dung nói về vụ nổi loạn ở Tân Cương vừa qua. Bộ ngoại giao Trung Quốc muốn phía Nhật sẽ phân phối DVD này cho giới truyền thông Nhật, hầu người Nhật nhận ra ai là kẻ chủ mưu cuộc bạo loạn này. Đại sứ Miyamoto hứa sẽ chuyển những lời kháng nghị của Bắc Kinh cho Tokyo; tuy nhiên ông cũng cho Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc biết rằng, ở Nhật chẳng ai có quyền cấm người dân hội họp trong tinh thần ôn hoà để bàn thảo về bất cứ một vấn đề gì. Luật pháp Nhật đã quy định rõ như thế. Tuy nhận dĩa DVD, nhưng Đại sứ Miyamoto không hứa là sẽ phân phối lại cho giới truyền thông Nhật theo yêu cầu của Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu, vì trên cương vị Đại sứ, ông Miyamoto không có nhiệm vụ làm theo những gì Bắc Kinh yêu cầu để tuyên truyền dùm cho Trung Quốc; trong khi cả nước Nhật hầu như ai cũng biết vụ bạo loạn ở Tân Cương vừa qua bắt nguồn từ việc Trung quốc ra tay đàn áp những cuộc biểu tình ôn hòa của người dân Uyghur.
Bắc Kinh hy vọng với áp lực của họ, Tokyo sẽ gây khó khăn cho những cuộc vận động nhân quyền cho sắc tộc Uyghur của bà Kadeer. Thế nhưng, sự việc lại trái ngược với những gì mà nhà cầm quyền Bắc Kinh mong đợi, nghĩa là chuyến đi Nhật của bà Kadeer thành công ngoài dự tưởng. Sứ quán Trung quốc ở Nhật hẳn nhiên là không vui với những diễn tiến đó, nên vào ngày 30/07/2009 họ đã mời các ký giả đến để xem trình chiếu dĩa DVD về cuộc bạo động ở Tân Cương, mà họ cho rằng bà Kadeer là chủ mưu.
DVD này dài khoảng 20 phút, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nội dung là những hình ảnh đã được chiếu trên hệ thống truyền hình của Trung Quốc được sắp xếp lại, nhưng lồng thêm mấy cuộc điện đàm của bà Kadeer với những người trong tổ chức Liên đoàn Uyghur… Sau khi xem xong, nhiều ký giả đã chất vấn Đặng Vĩ, Đệ nhất Tham tán sứ quán Trung quốc ở Tokyo, về tính cách hợp pháp trong việc Trung Quốc lén lút ghi âm các cuộc điện đàm của bà Kadeer. Đặng Vĩ tránh né trả lời trực tiếp vấn đề, và cho rằng không nên quan tâm đến nguồn cung cấp những cuộc điện đàm đó, mà hãy chú ý đến nội dung để thấy rằng không ai khác hơn là bà Kadeer đã chủ mưu cuộc bạo động, khủng bố ở Tân Cương vừa rồi.
Một trong những người Nhật ủng hộ
bà Kadeer
Trong các cuộc điện đàm bị thu lén có những trao đổi tại cuộc họp qua điện thoại hôm 1 tháng 7 năm 2009 của những người trong Ban chấp hành Liên đoàn Uyghur hải ngoại; mà nội dung gồm ba điểm chính: Thứ nhất kêu gọi người Uyghur ở trong nước đừng sợ hãi nữa, mà hãy tích cực đứng lên đòi quyền sống; thứ hai kêu gọi thế giới đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh của người Uyghur, và liên kết với dân tộc Tây Tạng trong tất cả các cuộc đấu tranh; và thứ ba chọn ngày 26 tháng 6 (tức là ngày hai người Uyghur bị người Hán sát hại) làm ngày liệt sĩ.
Cuộc trao đổi giữa bà Kadeer với ông Seyit Tumturk (Phó Chủ tịch Liên đoàn Uyghur hải ngoại) vào ngày 30/06/2009 cũng bị ghi âm lén. Qua đó, bà Kadeer nhấn mạnh rằng, cần phải đặc biệt lưu tâm đến sự kiện hai người Uyghur bị người Hán sát hại ở Quảng Đông, và phải tận dụng biến cố này… Cuộc điện đàm thứ ba bị thâu lén là điện thoại của bà Kadeer từ Hoa Kỳ về Urumqui (thủ phủ Tân Cương) báo cho người em trai biết rằng ngày mai (05/07/2009) sẽ có biểu tình, và khuyên người em hãy cẩn thận.
Các ký giả cũng chất vấn Đặng Vĩ về những hình ảnh biểu tình ôn hoà của người Uyghur mà họ đều thu nhận được, nhưng DVD của Trung Quốc lại dấu nhẹm những hình ảnh đó. Họ cho rằng người Uyghur biểu tình ôn hòa nhưng vẫn bị đàn áp, nên mới phát sinh bạo động. Hơn nữa, nội dung những cuộc điện đàm của bà Kadeer đều là bình thường, không hề có chủ trương bạo động hay khủng bố. Những điều bà Kadeer quan tâm chỉ là những điều bình thường và đó cũng là mối quan tâm của mọi người dân Uyghur khác.
Không những báo chí phát hành ở Nhật, mà báo chí tại nhiều nước khác cũng đều đã lên tiếng chỉ trích rất gay gắt việc nhà cầm quyền cộng sản Trung quốc đàn áp người dân Uyghur ở Tân Cương. Bị dư luận phản đối, Bắc Kinh “giận cá chém thớt”, nên ngày 1 tháng 8 họ đã ra lệnh các hãng máy bay không cho phóng viên báo chí ngoại ngữ dùng các phòng đợi (Lounge) dành cho thượng khách ở các sân bay quốc tế của Trung Quốc. Theo ghi nhận của các phóng viên nước ngoài tại Trung quốc, thì tại các sạp báo vẫn có bày bán những tờ báo ngoại ngữ, nhưng đã bị kiểm duyệt nội dung. Một số báo Hoa ngữ phát hành ở Hồng Kông vẫn không được phép lưu hành, vì trong đó có bài viết về Tân Cương không phù hợp những gì mà chính quyền Bắc Kinh công bố.
Chuyện đàn áp người dân Uyghur đã rõ như ban ngày, nhưng nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn cố bẻ cong sự thật. Do đó, trong việc lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam, Trung Quốc chắc chắn đã và đang ra sức nguỵ tạo ra những bằng chứng lịch sử của họ. Điều không may cho dân tộc Việt Nam là chính những người cầm quyền ở Hà Nội không những đã không dám lên tiếng phản đối, mà nhiều khi còn ủng hộ những nguỵ tạo lịch sử của Trung Quốc, đồng thời tạo điều kiện để Trung Quốc hợp thức hoá sự lấn chiếm của họ. Vì vậy, chỉ có sự can đảm lên tiếng của người Việt Nam mới bẻ gãy được những nguỵ tạo của Trung Quốc và ngăn chặn được sự thông đồng của nhà cầm quyền Hà Nội trong việc Trung Quốc gặm nhấm dần giang sơn Việt Nam.
Ngô Văn
วันพฤหัสบดีที่ 6 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No411:Vấn đề Tân Cương nghiêm trọng đối với TQ
Thông Tấn Xã Việt Nam
Mạng “Tin tức Hong Kong” ngày 23/7 đăng bài bình luận của Francesco Sisci, biên tập viên chính về khu vực châu Á của nhật báo lớn nhất Italia “La Stampa” đặt vấn đề sau nửa tháng trôi qua, vụ bạo loạn Tân Cương với quy mô nghiêm trọng nhất ở Trung Quốc trong hàng thập kỷ vẫn ẩn chứa nhiều tình tiết chưa rõ ràng và không ít sự kiện dường như quá trùng hợp.
Yếu tố nổi bật nhất là thời điểm bắt đầu vụ bạo loạn trùng với chuyến thăm chính thức Italia đồng thời dự Hội nghị thượng đỉnh G-8 của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại đây. Hồ Cẩm Đào rời Bắc Kinh trong buổi sáng ngày 5/7 và tới Rome lúc 7 giờ tối (giờ địa phương). Vào khoảng 6 giờ tối cùng ngày, một đám đông tụ tập ở quảng trường Nhân dân tại Urumqi (thủ phủ Tân Cương) và đến 8 giờ tối, bạo lực bắt đầu diễn ra. Cảnh sát vũ trang can thiệp lúc khoảng 10 giờ tối và tình trạng bạo loạn kéo dài suốt đêm.
Dĩ nhiên, với thực tế là nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc đang ở Italia và bận họp với quan chức chủ nhà khiến phản ứng và các quyết định tại Urumqi trở nên phức tạp hơn.
Đây có thể chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên, một điều kém may mắn cho Hồ Cẩm Đào và Trung Quốc. Nhưng “ngẫu nhiên” thường không xảy ra trong các phân tích chính trị và khắp thế giới đang nghi ngờ đằng sau đó là những âm mưu và tính toán ngầm.
Khả năng có một âm mưu xung quanh vụ bạo loạn ở Tân Cương không phải là lý do bào chữa cho những sai lầm trong chính sách của Bắc Kinh với người Duy Ngô Nhĩ. Nhưng nếu quả thực có một âm mưu như vậy, rõ ràng một số người đã không nhận ra hoặc cố tình lờ đi cho đến khi mọi chuyện bùng nổ ngày 5/7.
Trước khi đi xa hơn trong phân tích về động cơ và đối tượng mà âm mưu này nhắm vào, hãy lùi lại thời gian để xem xét quá trình bắt đầu vụ bạo loạn. Ngày 16/6, Huang Jiangyuan, một thanh niên 23 tuổi tức giận vì không được nhận vào làm tại nhà máy đồ chơi Xuri Toy Factory (chủ Hong Kong) ở tỉnh Quảng Đông đã viết một bài trên diễn đàn Internet www.sg169.com kể rằng “6 thanh niên Tân Cương cưỡng hiếp 2 cô gái vô tội ở nhà máy Xuri”. Mười ngày sau, một nhóm người Hán tấn công các công nhân người Duy Ngô Nhĩ tại đây làm 2 người Duy Ngô Nhĩ thiệt mạng và hơn 100 người bị thương. Đến ngày 28/6, Huang Zhangsha, 19 tuổi, viết trên mạng rằng “8 người Tân Cương bị đánh chết trong một cuộc xung đột ở nhà máy”. Hãy thử tính toán. Mất 10 ngày cho câu chuyện bịa đặt của Huang Jiangyuan gây ra vụ đụng độ tại nhà máy Xuri. Rồi cũng mất 10 ngày để việc những người Duy Ngô Nhĩ bị giết châm ngòi cho ngọn lửa Urumqi. Tại sao phản ứng trong hai vụ này lại chậm chạp như vậy? Đó là dấu hiệu cho thấy có sự chuẩn bị và tổ chức kỹ lưỡng. Thực tế, ở nhà máy Xuri, đó không phải là cơn giận dữ bộc phát của một vài người mà là dạng tấn công trừng trị quy mô lớn khiến hơn 100 người bị thương. Phải mất thời gian để thuyết phục đông đảo người tham gia và tổ chức họ thực hiện cuộc tấn công đó.
Nhiều khả năng, kịch bản tương tự với quy mô còn lớn hơn đã xảy ra ở Urumqi. Một phản ứng giận dữ tự phát đáng lẽ đã phải xảy ra từ ngày 27/6, một ngày sau vụ tấn công ở nhà máy đồ chơi và là khi mà các gia đình nạn nhân đón nhận tin dữ về người thân ở Quảng Đông. Hoặc muộn một chút, nó đáng lẽ đã phải xảy ra vào ngày 29 hoặc 30/6, khi câu chuyện lan rộng trên Internet. Nhưng tại sao phải mất tới một tuần lễ, người ta mới xuống đường gây bạo loạn?
Có thể nguyên nhân là “ai đó” đã xem xét đến chuyến công du Italia của Hồ Cẩm Đào. Chủ tịch Trung Quốc sẽ vắng mặt trong vài ngày và chính phủ sẽ lộn xộn cho đến khi người đứng đầu quay trở về. Tình huống hoàn toàn có lợi cho những kẻ gây rối. Nếu Hồ Cẩm Đào cắt ngắn chuyến thăm (như thực tế đã xảy ra và đây là lần đầu tiên, một nhà lãnh đạo Trung Quốc phải huỷ bỏ kế hoạch chính thức ở nước ngoài vì một vụ lộn xộn trong nước), ông sẽ “mất mặt” trên trường quốc tế. Còn nếu tiếp tục lịch trình, những kẻ tổ chức bạo loạn sẽ có thêm thời gian bởi giới lãnh đạo sẽ chậm chạp trong phản ứng vì không có mặt Hồ Cẩm Đào.
Thực tế, khi xảy ra những vụ nghiêm trọng, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc cần đạt được sự nhất trí toàn diện trong cách xử lý mà tất cả đều tán thành và không ai được phép lật lại quan điểm. Tháng 4/2001, Chủ tịch Trung Quốc khi đó là Giang Trạch Dân phải cắt ngắn chuyến đi thăm Mỹ Latinh vì vụ EP3 (một máy bay do thám Mỹ va chạm với máy bay chiến đấu Trung Quốc và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam). Ông Giang nói rằng ông không được thông tin đầy đủ khi ở nước ngoài. Thực tế, sự hiện diện cần thiết của Tổng bí thư trong các vụ lớn ở Trung Quốc còn được chứng minh từ lâu hơn thế như hồi tháng 4/1989. Khi đó, Tổng bí thư là Triệu Tử Dương đang thăm Bắc Triều Tiên, Bộ Chính trị đã họp nhất trí về một bài xã luận trên tờ “Nhân dân Nhật báo” phản đối phong trào của sinh viên. Triệu Tử Dương được cho là dù vắng mặt nhưng cũng đồng ý.
Tuy nhiên, sau khi xuất hiện, bài xã luận không “hăm doạ” được sinh viên trở lại trường và thay vào đó càng đổ thêm dầu vào lửa khiến tình hình phức tạp hơn. Khi Triệu Tử Dương trở về Bắc Kinh, ông nói rằng ông đã bị thông tin sai lệch. Ông lật lại quan điểm, tuyên bố ủng hộ việc rút lại bài xã luận gây tranh cãi trên, điều khiến nhiều Uỷ viên Bộ Chính trị không hài lòng. Tình tiết này làm cho nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc mất đoàn kết và góp phần dẫn đến vụ đàn áp Thiên An Môn ngày 4/6/1989.
Để tránh bài học tương tự, các quyết định quan trọng của Bộ Chính trị Trung Quốc được đưa ra với sự hiện diện của tất cả các uỷ viên. Vì thế, Hồ Cẩm Đào phải vội vã từ Italia về nước khí mức độ nghiêm trọng của vụ bạo loạn tại Tây Cương đã rõ ràng và cần có những biện pháp mạnh tay để giải quyết tình hình. Đó là một tiến trình ra quyết định rất cồng kềnh và nặng nề. Cho dù tránh được nguy cơ quyền lực tập trung vào một nhân vật (như trường hợp Mao Trạch Đông), nó vẫn kém hiệu quả hơn một tiến trình ra quyết định kiểu dân chủ, cởi mở mà không cần sự đồng thuận tuyệt đối. Với một hệ thống dân chủ, chính phủ có thể nhanh chóng ra quyết định khi đối mặt với một thách thức rõ ràng.
Trước khi trở lại với tiến trình này, cần đặt ra vài câu hỏi: Phải chăng, không ai nhận thấy cuộc nổi loạn đang đến? Phải chăng, sự chuẩn bị của những đối tượng nổi loạn không được phát hiện? Đến ngày 28/6, khi câu chuyện công nhân Duy Ngô Nhĩ bị giết hại ở Quảng Đông lan rộng trên Internet, rõ ràng vài điều nghiêm trọng sẽ xảy ra và sẽ có tình trạng “báo thù” sắc tộc. Phải chăng không ai nghĩ đến hậu quả của tin này ở vùng Tân Cương vốn “bất kham”? Quan trọng hơn, khi vụ bạo loạn dường như là có tổ chức và chuẩn bị kỹ lưỡng, phải chăng không ai thấy quá trình hình thành nó trước chuyến đi Italia của Hồ Cẩm Đào? Trừ phi tin rằng vụ bạo loạn hoàn toàn bột phát, cần xem xét khả năng Bắc Kinh đã đánh giá sai nghiêm trọng với tình hình hoặc thậm chí ai đó đã cố tình che giấu việc chuẩn bị cho cuộc bạo loạn này.
Nhà chính trị lão làng của Italia, cựu Thủ tướng nước này Giulio Andreotti, từng có câu nói để đời về chính trị: “Nghĩ xấu là một tội lỗi. Nhưng thường đó lại là suy nghĩ đúng”. Trong trường hợp này, suy nghĩ tiêu cực là ai đó đã thấy trước vụ bạo loạn nhưng không đánh động, cảnh báo. Tại sao? Có thể nhằm hạ bệ uy tín của Hồ Cẩm Đào? Vì lý do gì? Có thể đơn giản đây là một cơ hội, một thủ đoạn chính trị lớn hướng tới Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012. Đại hội sẽ quyết định việc thăng tiến của một nhóm các quan chức mới và đương nhiên Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào sẽ có tiếng nói lớn nhất trong việc lựa chọn này.
Hồ Cẩm Đào có một thành tích lẫy lừng. Về cơ bản, ông đang giải quyết được vấn đề Đài Loan, điều mà ngay cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình đều không làm được. Ông chống đỡ được cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong 80 năm qua, làm chao đảo tất cả các nền kinh tế phương Tây. Ông cải thiện được quan hệ với Mỹ (có tầm quan trọng chiến lược), tổ chức thành công Thế vận hội Olympic năm 2008 và nâng cao được sự ủng hộ trong dân chúng đối với chính phủ. Ngay cả những kêu ca thường trực của phương Tây về vấn đề nhân quyền cũng xẹp hơi. “Bảng vàng công trạng” đó đem lại cho Hồ Cẩm Đào một quyền lực lớn.
Nhưng những quan điểm bất đồng trong Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể nhằm vào những điểm có thể gây hại cho uy tín Hồ Cẩm Đào: Tình hình ở Tây Tạng thì sao? Tình hình ở Tân Cương thế nào? Phải chăng đều tệ hơn trước đây? Liệu Hồ Cẩm Đào có đánh mất sự ổn định ở Tây Tạng và Tân Cương trong khi bị cuốn hút vào giấc mơ Đài Loan và Mỹ? Liệu Hồ Cẩm Đào có tuột khỏi tầm tay sự kiểm soát đã từng làm tốt ở Tây Tạng và Tân Cương trong khi theo đuổi những thứ chưa có hoặc không bao giờ có là Đài Loan và Mỹ? Dĩ nhiên với quan điểm này, mọi chuyện càng lộn xộn ở các điểm nóng trên càng tốt. Vì vậy, nhiệm vụ sống còn của Hồ Cẩm Đào là giữ kiểm soát được Tây Tạng và Tân Cương bằng mọi giá, mọi hình thức.
Thực tế, khó mà biết được liệu có mâu thuẫn, tranh giành quyền lực nào đang xảy ra ở Trung Nam Hải, “Nhà Trắng” của Trung Quốc. Và dĩ nhiên những lập luận trên đều mang tính suy đoán. Nó có thể không thực, nhưng cũng có thể là thực. Bên cạnh những âm mưu giả định đó, hãy trở lại với một điều rõ ràng hơn là vụ bạo loạn Urumqi cùng hậu quả của nó đã chứng minh rằng Bắc Kinh cần cải cách cơ cấu của tiến trình đưa ra những quyết định. Sở dĩ cần sự nhất trí toàn diện lúc này vì tiến trình đưa ra quyết định là bí mật, và Đảng Cộng sản Trung Quốc phải tránh tình trạng có những mưu toan “âm thầm” trong các quan chức Đảng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc có nhiều quy định và bí mật mang tính chính thức còn những bí mật không chính thức thường bị cấm đoán. Có nhiều hạn chế áp đặt với các chính trị gia cấp cao trong việc ngăn cản họ đi lại, trao đổi với nhau để tránh hình thành những “âm mưu” và bảo đảm rằng tất cả các quyết định chỉ được thảo luận tại các cuộc họp chính thức.
Dĩ nhiên, những bí mật không chính thức hay có thể gọi là các “âm mưu” là điều gì đó khá tự nhiên và bất cứ hệ thống chính trị nào cũng có chuyện âm thầm đi cửa sau như vậy. Một phần, nó là truyền thống từ lâu ở Trung Quốc khi bất cứ triều đại nào cũng có những âm mưu và toan tính. Tuy nhiên, vụ bạo loạn Tân Cương cho thấy vấn đề này cần được giải quyết mà giải pháp không thể là thắt chặt hơn nữa các quy định bởi như thế sẽ càng làm tình trạng “đi đêm” trong giới lãnh đạo càng nhiều thêm. Thay vào đó, tranh luận chính trị cần được cởi mở hơn, các nhà chính trí hàng đầu cần được tự do hơn. Nó sẽ giúp làm sáng tỏ về cách cư xử của cá nhân các nhà chính trị. Theo nghĩa khác, dân chủ hóa hơn nữa là cần thiết để tránh và ngăn ngừa mối nguy hiểm của những âm mưu mới.
Ngoài ra, tốc độ đô thị hóa nhanh ở Trung Quốc đang kéo theo những cuộc biểu tình thành thị. Tình trạng suy giảm kinh tế khiến hàng nghìn người dân ở các thành phổ lớn giận dữ, dễ nổi loạn. Nếu nó xảy ra ở những làng mạc nhỏ, ảnh hưởng chính trị và xã hội sẽ nhỏ. Nhưng tại các thành phố lớn, tác động được khuyếch đại vì quy mô. Sự suy yếu kinh tế, dịp cho sự bất mãn nảy sinh với bất cứ vấn đề gì, là không thể tránh khỏi và thực tế đang tăng lên với quy mô của các thành phố. Dù vẫn có quá ít cuộc nổi loạn ở các thành phố Trung Quốc, nhưng như thế vẫn là nhiều cho một quốc gia mà sự tăng trưởng kinh tế lẫn chính trị đang làm thay đổi cán cân quyền lực thế giới.
Có một thực tế là quá trình đô thị hóa nhanh, dân chủ hóa là cách tốt nhất cho người dân “xả hơi” và giữ ổn định cơ cấu xã hội chung. Giới lãnh đạo Trung Quốc dĩ nhiên hiểu điều đó. Tuy nhiên, tốc độ dân chủ hóa có thể bị kiềm chế bởi sự bùng nổ những cuộc biểu tình thành thị (trừ phi chính quyền có thể lường trước và ngăn chặn). Vấn đề là tốc độ đô thị hóa và biểu tình xã hội đang không phù hợp với thời gian biểu mà Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra cho quá trình dân chủ hóa. Đảng dường như muốn một tốc độ chậm hơn, nhưng những cuộc biểu tình cho thấy còn ít thời gian cho giai đoạn tạm lắng.
Có hay không một âm mưu đằng sau vụ bạo loạn Tân Cương, kẻ giật dây là tay trong hay ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc thì vấn đề đô thị hóa và dân chủ hóa dường như sẽ là đề tài chính trị trong nước lớn nhất mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải thảo luận trong đại hội sắp tới.
Mạng “Tin tức Hong Kong” ngày 23/7 đăng bài bình luận của Francesco Sisci, biên tập viên chính về khu vực châu Á của nhật báo lớn nhất Italia “La Stampa” đặt vấn đề sau nửa tháng trôi qua, vụ bạo loạn Tân Cương với quy mô nghiêm trọng nhất ở Trung Quốc trong hàng thập kỷ vẫn ẩn chứa nhiều tình tiết chưa rõ ràng và không ít sự kiện dường như quá trùng hợp.
Yếu tố nổi bật nhất là thời điểm bắt đầu vụ bạo loạn trùng với chuyến thăm chính thức Italia đồng thời dự Hội nghị thượng đỉnh G-8 của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại đây. Hồ Cẩm Đào rời Bắc Kinh trong buổi sáng ngày 5/7 và tới Rome lúc 7 giờ tối (giờ địa phương). Vào khoảng 6 giờ tối cùng ngày, một đám đông tụ tập ở quảng trường Nhân dân tại Urumqi (thủ phủ Tân Cương) và đến 8 giờ tối, bạo lực bắt đầu diễn ra. Cảnh sát vũ trang can thiệp lúc khoảng 10 giờ tối và tình trạng bạo loạn kéo dài suốt đêm.
Dĩ nhiên, với thực tế là nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc đang ở Italia và bận họp với quan chức chủ nhà khiến phản ứng và các quyết định tại Urumqi trở nên phức tạp hơn.
Đây có thể chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên, một điều kém may mắn cho Hồ Cẩm Đào và Trung Quốc. Nhưng “ngẫu nhiên” thường không xảy ra trong các phân tích chính trị và khắp thế giới đang nghi ngờ đằng sau đó là những âm mưu và tính toán ngầm.
Khả năng có một âm mưu xung quanh vụ bạo loạn ở Tân Cương không phải là lý do bào chữa cho những sai lầm trong chính sách của Bắc Kinh với người Duy Ngô Nhĩ. Nhưng nếu quả thực có một âm mưu như vậy, rõ ràng một số người đã không nhận ra hoặc cố tình lờ đi cho đến khi mọi chuyện bùng nổ ngày 5/7.
Trước khi đi xa hơn trong phân tích về động cơ và đối tượng mà âm mưu này nhắm vào, hãy lùi lại thời gian để xem xét quá trình bắt đầu vụ bạo loạn. Ngày 16/6, Huang Jiangyuan, một thanh niên 23 tuổi tức giận vì không được nhận vào làm tại nhà máy đồ chơi Xuri Toy Factory (chủ Hong Kong) ở tỉnh Quảng Đông đã viết một bài trên diễn đàn Internet www.sg169.com kể rằng “6 thanh niên Tân Cương cưỡng hiếp 2 cô gái vô tội ở nhà máy Xuri”. Mười ngày sau, một nhóm người Hán tấn công các công nhân người Duy Ngô Nhĩ tại đây làm 2 người Duy Ngô Nhĩ thiệt mạng và hơn 100 người bị thương. Đến ngày 28/6, Huang Zhangsha, 19 tuổi, viết trên mạng rằng “8 người Tân Cương bị đánh chết trong một cuộc xung đột ở nhà máy”. Hãy thử tính toán. Mất 10 ngày cho câu chuyện bịa đặt của Huang Jiangyuan gây ra vụ đụng độ tại nhà máy Xuri. Rồi cũng mất 10 ngày để việc những người Duy Ngô Nhĩ bị giết châm ngòi cho ngọn lửa Urumqi. Tại sao phản ứng trong hai vụ này lại chậm chạp như vậy? Đó là dấu hiệu cho thấy có sự chuẩn bị và tổ chức kỹ lưỡng. Thực tế, ở nhà máy Xuri, đó không phải là cơn giận dữ bộc phát của một vài người mà là dạng tấn công trừng trị quy mô lớn khiến hơn 100 người bị thương. Phải mất thời gian để thuyết phục đông đảo người tham gia và tổ chức họ thực hiện cuộc tấn công đó.
Nhiều khả năng, kịch bản tương tự với quy mô còn lớn hơn đã xảy ra ở Urumqi. Một phản ứng giận dữ tự phát đáng lẽ đã phải xảy ra từ ngày 27/6, một ngày sau vụ tấn công ở nhà máy đồ chơi và là khi mà các gia đình nạn nhân đón nhận tin dữ về người thân ở Quảng Đông. Hoặc muộn một chút, nó đáng lẽ đã phải xảy ra vào ngày 29 hoặc 30/6, khi câu chuyện lan rộng trên Internet. Nhưng tại sao phải mất tới một tuần lễ, người ta mới xuống đường gây bạo loạn?
Có thể nguyên nhân là “ai đó” đã xem xét đến chuyến công du Italia của Hồ Cẩm Đào. Chủ tịch Trung Quốc sẽ vắng mặt trong vài ngày và chính phủ sẽ lộn xộn cho đến khi người đứng đầu quay trở về. Tình huống hoàn toàn có lợi cho những kẻ gây rối. Nếu Hồ Cẩm Đào cắt ngắn chuyến thăm (như thực tế đã xảy ra và đây là lần đầu tiên, một nhà lãnh đạo Trung Quốc phải huỷ bỏ kế hoạch chính thức ở nước ngoài vì một vụ lộn xộn trong nước), ông sẽ “mất mặt” trên trường quốc tế. Còn nếu tiếp tục lịch trình, những kẻ tổ chức bạo loạn sẽ có thêm thời gian bởi giới lãnh đạo sẽ chậm chạp trong phản ứng vì không có mặt Hồ Cẩm Đào.
Thực tế, khi xảy ra những vụ nghiêm trọng, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc cần đạt được sự nhất trí toàn diện trong cách xử lý mà tất cả đều tán thành và không ai được phép lật lại quan điểm. Tháng 4/2001, Chủ tịch Trung Quốc khi đó là Giang Trạch Dân phải cắt ngắn chuyến đi thăm Mỹ Latinh vì vụ EP3 (một máy bay do thám Mỹ va chạm với máy bay chiến đấu Trung Quốc và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam). Ông Giang nói rằng ông không được thông tin đầy đủ khi ở nước ngoài. Thực tế, sự hiện diện cần thiết của Tổng bí thư trong các vụ lớn ở Trung Quốc còn được chứng minh từ lâu hơn thế như hồi tháng 4/1989. Khi đó, Tổng bí thư là Triệu Tử Dương đang thăm Bắc Triều Tiên, Bộ Chính trị đã họp nhất trí về một bài xã luận trên tờ “Nhân dân Nhật báo” phản đối phong trào của sinh viên. Triệu Tử Dương được cho là dù vắng mặt nhưng cũng đồng ý.
Tuy nhiên, sau khi xuất hiện, bài xã luận không “hăm doạ” được sinh viên trở lại trường và thay vào đó càng đổ thêm dầu vào lửa khiến tình hình phức tạp hơn. Khi Triệu Tử Dương trở về Bắc Kinh, ông nói rằng ông đã bị thông tin sai lệch. Ông lật lại quan điểm, tuyên bố ủng hộ việc rút lại bài xã luận gây tranh cãi trên, điều khiến nhiều Uỷ viên Bộ Chính trị không hài lòng. Tình tiết này làm cho nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc mất đoàn kết và góp phần dẫn đến vụ đàn áp Thiên An Môn ngày 4/6/1989.
Để tránh bài học tương tự, các quyết định quan trọng của Bộ Chính trị Trung Quốc được đưa ra với sự hiện diện của tất cả các uỷ viên. Vì thế, Hồ Cẩm Đào phải vội vã từ Italia về nước khí mức độ nghiêm trọng của vụ bạo loạn tại Tây Cương đã rõ ràng và cần có những biện pháp mạnh tay để giải quyết tình hình. Đó là một tiến trình ra quyết định rất cồng kềnh và nặng nề. Cho dù tránh được nguy cơ quyền lực tập trung vào một nhân vật (như trường hợp Mao Trạch Đông), nó vẫn kém hiệu quả hơn một tiến trình ra quyết định kiểu dân chủ, cởi mở mà không cần sự đồng thuận tuyệt đối. Với một hệ thống dân chủ, chính phủ có thể nhanh chóng ra quyết định khi đối mặt với một thách thức rõ ràng.
Trước khi trở lại với tiến trình này, cần đặt ra vài câu hỏi: Phải chăng, không ai nhận thấy cuộc nổi loạn đang đến? Phải chăng, sự chuẩn bị của những đối tượng nổi loạn không được phát hiện? Đến ngày 28/6, khi câu chuyện công nhân Duy Ngô Nhĩ bị giết hại ở Quảng Đông lan rộng trên Internet, rõ ràng vài điều nghiêm trọng sẽ xảy ra và sẽ có tình trạng “báo thù” sắc tộc. Phải chăng không ai nghĩ đến hậu quả của tin này ở vùng Tân Cương vốn “bất kham”? Quan trọng hơn, khi vụ bạo loạn dường như là có tổ chức và chuẩn bị kỹ lưỡng, phải chăng không ai thấy quá trình hình thành nó trước chuyến đi Italia của Hồ Cẩm Đào? Trừ phi tin rằng vụ bạo loạn hoàn toàn bột phát, cần xem xét khả năng Bắc Kinh đã đánh giá sai nghiêm trọng với tình hình hoặc thậm chí ai đó đã cố tình che giấu việc chuẩn bị cho cuộc bạo loạn này.
Nhà chính trị lão làng của Italia, cựu Thủ tướng nước này Giulio Andreotti, từng có câu nói để đời về chính trị: “Nghĩ xấu là một tội lỗi. Nhưng thường đó lại là suy nghĩ đúng”. Trong trường hợp này, suy nghĩ tiêu cực là ai đó đã thấy trước vụ bạo loạn nhưng không đánh động, cảnh báo. Tại sao? Có thể nhằm hạ bệ uy tín của Hồ Cẩm Đào? Vì lý do gì? Có thể đơn giản đây là một cơ hội, một thủ đoạn chính trị lớn hướng tới Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012. Đại hội sẽ quyết định việc thăng tiến của một nhóm các quan chức mới và đương nhiên Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào sẽ có tiếng nói lớn nhất trong việc lựa chọn này.
Hồ Cẩm Đào có một thành tích lẫy lừng. Về cơ bản, ông đang giải quyết được vấn đề Đài Loan, điều mà ngay cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình đều không làm được. Ông chống đỡ được cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong 80 năm qua, làm chao đảo tất cả các nền kinh tế phương Tây. Ông cải thiện được quan hệ với Mỹ (có tầm quan trọng chiến lược), tổ chức thành công Thế vận hội Olympic năm 2008 và nâng cao được sự ủng hộ trong dân chúng đối với chính phủ. Ngay cả những kêu ca thường trực của phương Tây về vấn đề nhân quyền cũng xẹp hơi. “Bảng vàng công trạng” đó đem lại cho Hồ Cẩm Đào một quyền lực lớn.
Nhưng những quan điểm bất đồng trong Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể nhằm vào những điểm có thể gây hại cho uy tín Hồ Cẩm Đào: Tình hình ở Tây Tạng thì sao? Tình hình ở Tân Cương thế nào? Phải chăng đều tệ hơn trước đây? Liệu Hồ Cẩm Đào có đánh mất sự ổn định ở Tây Tạng và Tân Cương trong khi bị cuốn hút vào giấc mơ Đài Loan và Mỹ? Liệu Hồ Cẩm Đào có tuột khỏi tầm tay sự kiểm soát đã từng làm tốt ở Tây Tạng và Tân Cương trong khi theo đuổi những thứ chưa có hoặc không bao giờ có là Đài Loan và Mỹ? Dĩ nhiên với quan điểm này, mọi chuyện càng lộn xộn ở các điểm nóng trên càng tốt. Vì vậy, nhiệm vụ sống còn của Hồ Cẩm Đào là giữ kiểm soát được Tây Tạng và Tân Cương bằng mọi giá, mọi hình thức.
Thực tế, khó mà biết được liệu có mâu thuẫn, tranh giành quyền lực nào đang xảy ra ở Trung Nam Hải, “Nhà Trắng” của Trung Quốc. Và dĩ nhiên những lập luận trên đều mang tính suy đoán. Nó có thể không thực, nhưng cũng có thể là thực. Bên cạnh những âm mưu giả định đó, hãy trở lại với một điều rõ ràng hơn là vụ bạo loạn Urumqi cùng hậu quả của nó đã chứng minh rằng Bắc Kinh cần cải cách cơ cấu của tiến trình đưa ra những quyết định. Sở dĩ cần sự nhất trí toàn diện lúc này vì tiến trình đưa ra quyết định là bí mật, và Đảng Cộng sản Trung Quốc phải tránh tình trạng có những mưu toan “âm thầm” trong các quan chức Đảng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc có nhiều quy định và bí mật mang tính chính thức còn những bí mật không chính thức thường bị cấm đoán. Có nhiều hạn chế áp đặt với các chính trị gia cấp cao trong việc ngăn cản họ đi lại, trao đổi với nhau để tránh hình thành những “âm mưu” và bảo đảm rằng tất cả các quyết định chỉ được thảo luận tại các cuộc họp chính thức.
Dĩ nhiên, những bí mật không chính thức hay có thể gọi là các “âm mưu” là điều gì đó khá tự nhiên và bất cứ hệ thống chính trị nào cũng có chuyện âm thầm đi cửa sau như vậy. Một phần, nó là truyền thống từ lâu ở Trung Quốc khi bất cứ triều đại nào cũng có những âm mưu và toan tính. Tuy nhiên, vụ bạo loạn Tân Cương cho thấy vấn đề này cần được giải quyết mà giải pháp không thể là thắt chặt hơn nữa các quy định bởi như thế sẽ càng làm tình trạng “đi đêm” trong giới lãnh đạo càng nhiều thêm. Thay vào đó, tranh luận chính trị cần được cởi mở hơn, các nhà chính trí hàng đầu cần được tự do hơn. Nó sẽ giúp làm sáng tỏ về cách cư xử của cá nhân các nhà chính trị. Theo nghĩa khác, dân chủ hóa hơn nữa là cần thiết để tránh và ngăn ngừa mối nguy hiểm của những âm mưu mới.
Ngoài ra, tốc độ đô thị hóa nhanh ở Trung Quốc đang kéo theo những cuộc biểu tình thành thị. Tình trạng suy giảm kinh tế khiến hàng nghìn người dân ở các thành phổ lớn giận dữ, dễ nổi loạn. Nếu nó xảy ra ở những làng mạc nhỏ, ảnh hưởng chính trị và xã hội sẽ nhỏ. Nhưng tại các thành phố lớn, tác động được khuyếch đại vì quy mô. Sự suy yếu kinh tế, dịp cho sự bất mãn nảy sinh với bất cứ vấn đề gì, là không thể tránh khỏi và thực tế đang tăng lên với quy mô của các thành phố. Dù vẫn có quá ít cuộc nổi loạn ở các thành phố Trung Quốc, nhưng như thế vẫn là nhiều cho một quốc gia mà sự tăng trưởng kinh tế lẫn chính trị đang làm thay đổi cán cân quyền lực thế giới.
Có một thực tế là quá trình đô thị hóa nhanh, dân chủ hóa là cách tốt nhất cho người dân “xả hơi” và giữ ổn định cơ cấu xã hội chung. Giới lãnh đạo Trung Quốc dĩ nhiên hiểu điều đó. Tuy nhiên, tốc độ dân chủ hóa có thể bị kiềm chế bởi sự bùng nổ những cuộc biểu tình thành thị (trừ phi chính quyền có thể lường trước và ngăn chặn). Vấn đề là tốc độ đô thị hóa và biểu tình xã hội đang không phù hợp với thời gian biểu mà Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra cho quá trình dân chủ hóa. Đảng dường như muốn một tốc độ chậm hơn, nhưng những cuộc biểu tình cho thấy còn ít thời gian cho giai đoạn tạm lắng.
Có hay không một âm mưu đằng sau vụ bạo loạn Tân Cương, kẻ giật dây là tay trong hay ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc thì vấn đề đô thị hóa và dân chủ hóa dường như sẽ là đề tài chính trị trong nước lớn nhất mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải thảo luận trong đại hội sắp tới.
วันอาทิตย์ที่ 2 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No392:Chính sách ngoại giao “Mèo trắng, mèo đen” của TQ
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt *
Thứ Hai, ngày 20-7-2009
Bình luận về chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với các nước láng giềng đồng minh, mạng Foreignpolicy.com đăng bài viết của Wen Liao cho rằng ngày nay, hình như câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” đang được Trung Quốc áp dụng với các nước láng giềng theo cách “dù là dân chủ hay chuyên chế miễn là nước đó bảo vệ lợi ích của Trung Quốc”.
Giả thuyết đơn giản này giúp giải thích tại sao sau nhiều năm làm việc với chính quyền quân sự Myanma, Trung Quốc giờ đây có thể tìm cách thay đổi chiến thuật. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc lo ngại một chính phủ như vậy là đáng nghi ngờ về mặt tinh thần mà vì họ lo ngại các nhà lãnh đạo Myanma không đủ năng lực điều hành và tình trạng bất ổn định ở nước này có thể dẫn đến những hậu quả không hay cho vận may của chính họ. Từ phía bên kia hàng rào của các nước láng giềng, Trung Quốc trông giống như một bá chủ đang nổi lên, muốn tỏ rõ sức mạnh của mình. Sự can thiệp có tính quyết định của họ trong việc ủng hộ chính phủ trong cuộc nội chiến vừa kết thúc tại Srilanka – một nước bên ngoài vùng ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc – dường như chứng tỏ điều này.
Tuy nhiên, nhìn từ Bắc Kinh, chính các đồng minh của Trung Quốc thỉnh thoảng lại như những con ngựa bất kham. Đặc biệt là hai nước được coi là phụ thuộc Trung Quốc (Bắc Triều Tiên và Myanma) đã làm cho Trung Quốc có cảm giác ngoài tầm kiểm soát, lo ngại rằng bất kỳ một sự mất ổn định nào ở bên ngoài cũng có thể làm đổ vỡ sự ổn định về chính trị mong manh bên trong của Trung Quốc. Như phản ứng nhanh chóng của Trung Quốc trước tình trạng mất ổn định ở Tân Cương cho thấy rõ rằng không gì có thể làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc bị hoảng hốt hơn khả năng xảy ra các bất đồng khu vực và biên giới kích động sự bất ổn định ở bên trong. Với khoảng 200 người thiệt mạng trong các cuộc bạo động gần đây ở Tân Cương, hơn bao giờ hết Trung Quốc nhận thấy các nước láng giềng không ổn định và nguy cơ của dòng người tị nạn nguy hiểm. Vì thế, toan tính đằng sau chiến lược an ninh khu vực của Trung Quốc là rất rõ ràng: Nếu hòa bình và thịnh vượng của các nước láng giềng của Trung Quốc không được bảo đảm, thì hòa bình, thịnh vượng và sự đoàn kết trong nội bộ Trung Quốc cũng bị lâm nguy. Mệnh lệnh chiến lược này nổi lên sau thắng lợi tương đối của Trung Quốc trong việc tránh được cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và 1998. Kinh nghiệm này đã giành được sự tôn trọng trong khu vực và Trung Quốc bắt đầu tăng cường các mối quan hệ với khu vực Đông và Đông Nam châu Á, đặc biệt là các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trung Quốc đồng ý giải quyết những bất đồng về lãnh thổ với các nước ASEAN thông qua cơ chế hòa giải tập thể. Nước này cũng đã ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN, cam kết không bao giờ sử dụng vũ lực chống lại các nước thành viên ASEAN. Đó là cơ cấu rất phù hợp với Trung Quốc từ trước tới nay, trừ hai ngoại lệ Bắc Triều Tiên và Myanma.
Trong trường hợp đầu, sự tồn tại của chế độ Bắc Triều Tiên là mục tiêu hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Bắc Kinh lo ngại làn sóng tị nạn không tránh khỏi sẽ tràn qua biên giới đổ vào nước họ sau sự sụp đổ của nước này. Hơn nữa, một bán đảo Triều Tiên bị chia rẽ phù hợp với mục đích của Trung Quốc, vì một bán đảo Triều Tiên thống nhất có thể trở thành một “thách thức lớn” khác của khu vực, ngang tầm với Nhật Bản. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tham gia tiến trình đàm phán 6 bên về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên do họ lo ngại các biện pháp trừng phạt của phương Tây có thể phá huỷ nền kinh tế dễ đổ vỡ của Bắc Triều Tiên. Giống như một ngân hàng quá lớn không thể để phá sản, Bắc Triều Tiên tạo ra một mối đe doạ kinh hoàng cho Trung Quốc nếu Bắc Kinh gây sức ép quá mạnh đối với nhà lãnh đạo Kim Chính Nhật. Vì thế, ảnh hưởng của Trung Quốc dường như không có hiệu quả lắm.
Bực bội khi cảm thấy bị ràng buộc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc muốn ngăn chặn một nước khác là Myanma, và không để cho nước này có được một động lực như vậy. Mặc dù Myanma nằm trong cái gọi là chính sách “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc, với nỗ lực nhằm xây dựng các căn cứ hải quân và tình báo xung quanh Ấn Độ Dương, song lợi ích của nước này đang bị đe doạ. Những tuần gần đây, Trung Quốc đang lén lút thăm dò xem liệu nhà lãnh đạo đối lập đang bị cầm tù Aung San Suu Kyi có khả năng lãnh đạo Myanma như một người đáng tin cậy và dễ uốn nắn hơn chính quyền quân sự hiện nay hay không.
Tình hình hiện nay cho thấy biên giới không có luật pháp của Myanma cho phép tất cả các tệ nạn độc hại – không chỉ sự nổi dậy mà còn ma tuý và AIDS – xâm nhập vào Trung Quốc. Buôn bán thuốc phiện và ma túy tràn vào Trung Quốc, một phần do các tướng lĩnh cầm quyền Myanma thúc đẩy, phần khác được tiến hành bởi quan nổi loạn mà chính quyền quân sự không chế ngự được trong cuộc chiến kéo dài mấy thập kỷ nay, đẩy nạn nghiện ngập ma túy vào các thành phố miền Nam của Trung Quốc, nơi các dân tộc thiểu số đang sống thành từng nhóm.
Rõ ràng, Myanma là một đối tác không đáng tin cậy của Trung Quốc. Cho tới nay, chính quyền quân sự đang dần suy sụp đã tồn tại trong sự rạn nứt của hệ thống quốc tế, nhất là những nhóm quyền lực được hình thành trong sự nghi kỵ lẫn nhau của các nước láng giềng khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, và nền văn hóa bị trói buộc ASEAN. Thực ra, Trung Quốc từng lặng lẽ giang tay cứu giúp phe đối lập Myanma. Năm ngoái, trong các cuộc biểu tình phản đối do các nhà sư tiến hành ở Myanma, Trung Quốc đã nhắc lại lời kêu gọi kiềm chế và ủng hộ việc đặc phái viên đặc biệt của Liên hiệp quốc đến nước này. Hai tháng trước, Trung Quốc đã ký một kiến nghị chung EU-ASEAN kêu gọi trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi. Giờ đây, Trung Quốc lại đứng sau nỗ lực của Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon đòi chấm dứt việc giam giữ tại gia Aung San Suu Kyi. Trung Quốc dường như muốn thăm dò liệu có thể có sự lựa chọn nào đó hay không.
Bài báo kết luận: Mỹ và Anh ủng hộ một cách chiến thuật Nam Phi với tình trạng phân biệt chủng tộc vì họ lo ngại tình trạng hỗn loạn sẽ nổ ra nếu quyền lực được trao cho đa số người da đen ở nước này. Tuy nhiên, khi nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nelson Mandela nổi lên từ nhà tù, ông đã định hình một chế độ đề ra sự bảo vệ lâu dài tốt hơn cho các quyền lợi của Mỹ và Anh so với chế độ Aparthei trước đây. Đối với Trung Quốc, Aung San Suu Kyi có thể tạo ra một chế độ an toàn tương tự thay cho chế độ quân sự đang suy yếu. Ít nhất, như Đặng Tiểu Bình nói, Aung San Suu Kyi có thể là “con mèo có giá” ở sân sau của Trung Quốc.
* Nguồn: China’s Black Cat, White Cat Diplomacy.
Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên, Myanma | Leave a Comment »
Tài liệu tham khảo đặc biệt *
Thứ Hai, ngày 20-7-2009
Bình luận về chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với các nước láng giềng đồng minh, mạng Foreignpolicy.com đăng bài viết của Wen Liao cho rằng ngày nay, hình như câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” đang được Trung Quốc áp dụng với các nước láng giềng theo cách “dù là dân chủ hay chuyên chế miễn là nước đó bảo vệ lợi ích của Trung Quốc”.
Giả thuyết đơn giản này giúp giải thích tại sao sau nhiều năm làm việc với chính quyền quân sự Myanma, Trung Quốc giờ đây có thể tìm cách thay đổi chiến thuật. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc lo ngại một chính phủ như vậy là đáng nghi ngờ về mặt tinh thần mà vì họ lo ngại các nhà lãnh đạo Myanma không đủ năng lực điều hành và tình trạng bất ổn định ở nước này có thể dẫn đến những hậu quả không hay cho vận may của chính họ. Từ phía bên kia hàng rào của các nước láng giềng, Trung Quốc trông giống như một bá chủ đang nổi lên, muốn tỏ rõ sức mạnh của mình. Sự can thiệp có tính quyết định của họ trong việc ủng hộ chính phủ trong cuộc nội chiến vừa kết thúc tại Srilanka – một nước bên ngoài vùng ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc – dường như chứng tỏ điều này.
Tuy nhiên, nhìn từ Bắc Kinh, chính các đồng minh của Trung Quốc thỉnh thoảng lại như những con ngựa bất kham. Đặc biệt là hai nước được coi là phụ thuộc Trung Quốc (Bắc Triều Tiên và Myanma) đã làm cho Trung Quốc có cảm giác ngoài tầm kiểm soát, lo ngại rằng bất kỳ một sự mất ổn định nào ở bên ngoài cũng có thể làm đổ vỡ sự ổn định về chính trị mong manh bên trong của Trung Quốc. Như phản ứng nhanh chóng của Trung Quốc trước tình trạng mất ổn định ở Tân Cương cho thấy rõ rằng không gì có thể làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc bị hoảng hốt hơn khả năng xảy ra các bất đồng khu vực và biên giới kích động sự bất ổn định ở bên trong. Với khoảng 200 người thiệt mạng trong các cuộc bạo động gần đây ở Tân Cương, hơn bao giờ hết Trung Quốc nhận thấy các nước láng giềng không ổn định và nguy cơ của dòng người tị nạn nguy hiểm. Vì thế, toan tính đằng sau chiến lược an ninh khu vực của Trung Quốc là rất rõ ràng: Nếu hòa bình và thịnh vượng của các nước láng giềng của Trung Quốc không được bảo đảm, thì hòa bình, thịnh vượng và sự đoàn kết trong nội bộ Trung Quốc cũng bị lâm nguy. Mệnh lệnh chiến lược này nổi lên sau thắng lợi tương đối của Trung Quốc trong việc tránh được cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và 1998. Kinh nghiệm này đã giành được sự tôn trọng trong khu vực và Trung Quốc bắt đầu tăng cường các mối quan hệ với khu vực Đông và Đông Nam châu Á, đặc biệt là các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trung Quốc đồng ý giải quyết những bất đồng về lãnh thổ với các nước ASEAN thông qua cơ chế hòa giải tập thể. Nước này cũng đã ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN, cam kết không bao giờ sử dụng vũ lực chống lại các nước thành viên ASEAN. Đó là cơ cấu rất phù hợp với Trung Quốc từ trước tới nay, trừ hai ngoại lệ Bắc Triều Tiên và Myanma.
Trong trường hợp đầu, sự tồn tại của chế độ Bắc Triều Tiên là mục tiêu hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Bắc Kinh lo ngại làn sóng tị nạn không tránh khỏi sẽ tràn qua biên giới đổ vào nước họ sau sự sụp đổ của nước này. Hơn nữa, một bán đảo Triều Tiên bị chia rẽ phù hợp với mục đích của Trung Quốc, vì một bán đảo Triều Tiên thống nhất có thể trở thành một “thách thức lớn” khác của khu vực, ngang tầm với Nhật Bản. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tham gia tiến trình đàm phán 6 bên về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên do họ lo ngại các biện pháp trừng phạt của phương Tây có thể phá huỷ nền kinh tế dễ đổ vỡ của Bắc Triều Tiên. Giống như một ngân hàng quá lớn không thể để phá sản, Bắc Triều Tiên tạo ra một mối đe doạ kinh hoàng cho Trung Quốc nếu Bắc Kinh gây sức ép quá mạnh đối với nhà lãnh đạo Kim Chính Nhật. Vì thế, ảnh hưởng của Trung Quốc dường như không có hiệu quả lắm.
Bực bội khi cảm thấy bị ràng buộc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc muốn ngăn chặn một nước khác là Myanma, và không để cho nước này có được một động lực như vậy. Mặc dù Myanma nằm trong cái gọi là chính sách “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc, với nỗ lực nhằm xây dựng các căn cứ hải quân và tình báo xung quanh Ấn Độ Dương, song lợi ích của nước này đang bị đe doạ. Những tuần gần đây, Trung Quốc đang lén lút thăm dò xem liệu nhà lãnh đạo đối lập đang bị cầm tù Aung San Suu Kyi có khả năng lãnh đạo Myanma như một người đáng tin cậy và dễ uốn nắn hơn chính quyền quân sự hiện nay hay không.
Tình hình hiện nay cho thấy biên giới không có luật pháp của Myanma cho phép tất cả các tệ nạn độc hại – không chỉ sự nổi dậy mà còn ma tuý và AIDS – xâm nhập vào Trung Quốc. Buôn bán thuốc phiện và ma túy tràn vào Trung Quốc, một phần do các tướng lĩnh cầm quyền Myanma thúc đẩy, phần khác được tiến hành bởi quan nổi loạn mà chính quyền quân sự không chế ngự được trong cuộc chiến kéo dài mấy thập kỷ nay, đẩy nạn nghiện ngập ma túy vào các thành phố miền Nam của Trung Quốc, nơi các dân tộc thiểu số đang sống thành từng nhóm.
Rõ ràng, Myanma là một đối tác không đáng tin cậy của Trung Quốc. Cho tới nay, chính quyền quân sự đang dần suy sụp đã tồn tại trong sự rạn nứt của hệ thống quốc tế, nhất là những nhóm quyền lực được hình thành trong sự nghi kỵ lẫn nhau của các nước láng giềng khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, và nền văn hóa bị trói buộc ASEAN. Thực ra, Trung Quốc từng lặng lẽ giang tay cứu giúp phe đối lập Myanma. Năm ngoái, trong các cuộc biểu tình phản đối do các nhà sư tiến hành ở Myanma, Trung Quốc đã nhắc lại lời kêu gọi kiềm chế và ủng hộ việc đặc phái viên đặc biệt của Liên hiệp quốc đến nước này. Hai tháng trước, Trung Quốc đã ký một kiến nghị chung EU-ASEAN kêu gọi trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi. Giờ đây, Trung Quốc lại đứng sau nỗ lực của Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon đòi chấm dứt việc giam giữ tại gia Aung San Suu Kyi. Trung Quốc dường như muốn thăm dò liệu có thể có sự lựa chọn nào đó hay không.
Bài báo kết luận: Mỹ và Anh ủng hộ một cách chiến thuật Nam Phi với tình trạng phân biệt chủng tộc vì họ lo ngại tình trạng hỗn loạn sẽ nổ ra nếu quyền lực được trao cho đa số người da đen ở nước này. Tuy nhiên, khi nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nelson Mandela nổi lên từ nhà tù, ông đã định hình một chế độ đề ra sự bảo vệ lâu dài tốt hơn cho các quyền lợi của Mỹ và Anh so với chế độ Aparthei trước đây. Đối với Trung Quốc, Aung San Suu Kyi có thể tạo ra một chế độ an toàn tương tự thay cho chế độ quân sự đang suy yếu. Ít nhất, như Đặng Tiểu Bình nói, Aung San Suu Kyi có thể là “con mèo có giá” ở sân sau của Trung Quốc.
* Nguồn: China’s Black Cat, White Cat Diplomacy.
Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên, Myanma | Leave a Comment »
No391: Từ Singapore, nghĩ đến niềm tự hào của Việt Nam

Đến Singapore, chúng ta dễ thấy nó khác hẳn với hầu hết các quốc gia Á châu khác
Tôi đến Singapore chỉ có mấy lần. Lần nào cũng chỉ ở có vài ba ngày. Tuy nhiên, với tôi, như vậy là đủ. Với những thành công kỳ diệu về phương diện kinh tế và xã hội, Singapore phức tạp đủ để các nhà nghiên cứu bỏ ra một thời gian dài, năm mười năm, thậm chí, cả đời để khảo sát. Nhưng với diện tích chỉ có gần 700 cây số vuông, gần bằng một nửa diện tích thành phố Đà Nẵng, Singapore lại quá nhỏ cho các du khách.
Chỉ mấy ngày, tôi đi gần hết các thắng cảnh ở Singapore.
Phải nói một cách thành thực: tôi rất thích. Thích và phục.
Mà không phục sao được? Là một trong 20 quốc gia nhỏ nhất, có mật độ dân số cao thứ nhì trên thế giới (chỉ sau Monaco), mà, chỉ trong vòng mấy chục năm sau khi độc lập (1965), Singapore đã vươn lên hàng cường quốc về kinh tế trên thế giới, vượt qua hẳn các quốc gia đất rộng người đông và giàu tài nguyên thiên nhiên ở chung quanh, kể cả Việt Nam.
Singapore chiếm nhiều kỷ lục trên thế giới. Đó là một trong những quốc gia sạch nhất, có môi trường làm ăn buôn bán tốt nhất, có ngọn thác nhân tạo cao nhất (30 mét), có vườn chim có nhiều chim nhất thế giới (Jurong Bird Park), có phi trường trong nhiều năm được xếp hạng cao nhất thế giới (Changi), có hải cảng thuộc loại tấp nập nhất thế giới, có trường đại học được xếp vào hạng ưu tú nhất thế giới, v.v…
Đến Singapore, chúng ta dễ thấy nó khác hẳn với hầu hết các quốc gia Á châu khác: Ở đây mọi vật đều gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ; mọi công việc đều được tiến hành một cách hợp lý và trong trật tự. Ấn tượng ấy có thể thấy ngay được từ khi bước chân ra khỏi máy bay: Tất cả các thủ tục giấy tờ nhập cảnh, từ việc trình hộ chiếu đến việc nhận lấy hành lý đều nhanh chóng. Ở đâu cũng thấy sạch như lau. Các nhà vệ sinh công cộng, ngay ở những chỗ khuất vắng hoặc đông đúc người qua kẻ lại, đều sạch sẽ và thơm tho.
Với một đất nước như vậy, phục là phải.
Nhưng tại sao ở trên, tôi phải nhấn mạnh “Phải nói một cách thành thực”?
Bởi vì, tôi biết, không phải ai cũng đồng ý như vậy. Và không phải lúc nào tôi cũng thành thực như vậy.
Ví dụ, những lúc tôi nói chuyện với bạn bè người Úc của mình.
Trong lúc nói chuyện phiếm, hễ nghe nhắc đến Singapore là bạn bè Úc của tôi lại lên tiếng chê bai thậm tệ!
“Trời! Cái nước gì mà chán! Mọi thứ cứ máy móc, vô hồn, vô cảm. Ngay các thanh sắt chấn dọc xa lộ cũng không được quyền là sắt; người ta cứ phải trồng hoa hay dây leo cho nó phủ lên trên. Trên các chiếc cầu lộ thiên, băng qua các đường đi cũng vậy; cũng có dây leo phủ trùm lên. Đất nước gì mà cứ như thời trung cổ. Cái gì cũng phạt. Ném chiếc khăn giấy xuống đất: Phạt. Vất mẩu tàn thuốc lá xuống đất: Phạt. Vất bã kẹo cao su xuống đường: Phạt. Đi nhà vệ sinh công cộng, không dội nước: Cũng phạt! Trời! Sống ở đó chẳng khác gì ở tù!”
Đại khái các luận điểm của họ như vậy.
Nghe họ nói hăng đến độ tôi đành im lặng. Tôi biết họ đều là những người yêu thích Á châu; một số là những nhà nghiên cứu Á châu học xuất sắc. Tuy nhiên, cách nhìn của họ có cái gì thiên lệch. Hình như với họ, chỉ có các quốc gia Tây phương mới nên đô thị hoá và cơ giới hoá. Còn các quốc gia Á châu thì, để bảo vệ bản sắc truyền thống của mình, nên có cái gì xô bồ, lộn xộn và bẩn thỉu. Có như thế mới đẹp và quyến rũ chăng?
Trong số những người chê bai Singapore và khen ngợi Việt Nam, có một số là sinh viên hoặc cựu sinh viên của tôi. Có lần tôi tò mò hỏi họ: Điều gì họ thích nhất ở Việt Nam? Thật bất ngờ, câu trả lời tôi nghe được từ khá nhiều người, đặc biệt là sinh viên nam: Ỉa đồng!
Họ kể, trong các chuyến du lịch nào đó về Việt Nam, lên tận các tỉnh miền núi hay miền quê, khi đau bụng, tìm nhà vệ sinh không ra, họ bèn, theo lời chỉ dẫn của người địa phương, ra ngoài đồng vắng xổ bầu tâm sự!
Tôi đọc cho họ nghe câu tục ngữ “Nhất quận công, nhì ỉa đồng” và câu ca dao: “Thứ nhất là đỗ thám hoa / Thứ nhì cưới vợ, thứ ba ỉa đồng”. Và cười. Nhưng ngượng chín người.
Chẳng thà tôi làm dân của một nước bị chê bai là máy móc như Singapore còn hơn làm dân một nước người ngoại quốc thích đến đó chỉ vì được… ỉa đồng
วันเสาร์ที่ 1 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No390:Đức Dalai Lama trở thành công dân danh dự của thủ đô Warsaw, Ba Lan

Trong chuyến thăm viếng Ba Lan từ 28 đến 30-07/2009, đức Dalai Lama đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cho người dân của thủ đô Warsaw của Ba Lan.
Ngày 28 ngài đã thuyết trình đề tài: "Để nhanh chóng đạt tới sự hiểu biết phổ cập về thế giới , cần có một trái tim nhân hậu'' trước các sinh viên và các nhà nghiên cứu khoa học của trường Đại Học Tổng Hợp Warsaw. Buổi thuyết trình đã thu hút sự chú ý đặc biệt của thính giả, hội trường đầy ắp, nhiều thính giả phải đứng nghe.Cùng ngày, ngài đã đến thăm Viện Bảo Tàng Khởi Nghĩa Warsaw. Đây là viện bảo tàng ghi lại các chứng tích anh hùng của quân và dân Warsaw khởi nghĩa chống lại sự chiếm đóng của phát xít Đức trong Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ II. Tại đây, ngài đã thắp nến để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa. Ngài nói: "Tôi luôn ngưỡng mộ tư tưởng tự do của dân tộc Ba Lan".
Sáng ngày 29/7/2009, tại Cung Vua Warsaw, tòa thị chính thủ đô đã tổ chức lễ trao danh hiệu công dân danh dự cho đức Dalai Lama. Đến dự lễ có cựu tổng thống Ba Lan Lech Walesa, cựu thủ tướng không cộng sản đầu tiên của Ba Lan Tadeusz Mazowiecki, đại diện của tổng thống Ba Lan và nhiều chính khách khác.
Trên đường vào Cung Vua, nhiều người hâm mộ tập trung chào đón ngài. Không chỉ có người Ba Lan, mà còn có những khách du lịch nước ngoài. Một người Tây Ban Nha nói: "Nhiều người cho rằng, Dalai Lama diễn tả những vấn đề một cách đơn giản, nhưng đối với tôi, điều đó thật là đẹp". Một phụ nữ trẻ Ba Lan tâm sự: "Tôi rất yêu quý Dalai Lama, tôi đã được bắt tay ông trong một lần ông đến Ba Lan trước đây".
Trong buổi lễ, bà thị trưởng Warsaw, Hanna Gronkiewicz-Waltz đã trao bằng công dân danh dự cho đức Dalai Lama. Chủ tịch hội đồng thành phố Warsaw bà Eva Malinowska-Grupinska đã đọc diễn văn chào mừng. Bà nói: "Với tư cách là những công dân của thành phố không biết khuất phục, chúng tôi tự hào là bắt đầu từ hôm nay, Dalai Lama là một công dân của thành phố chúng tôi”.
Trong đáp từ, Dalai Lama khẳng định: "Trở thành công dân của thành phố Warsaw nổi tiếng thật là một vinh dự to lớn. Tôi sẽ mãi mãi bảo vệ các sắc tộc và sự hòa hợp giữa các tôn giáo. Xin hãy theo dõi tôi, với tư cách một công dân Warsaw, có thực hiện đúng lời hứa trên đây không.''
Trong lời chào mừng, Lech Walesa, người bạn lâu năm của Dalai Lama phát biểu: "Dân tộc chúng ta (dân tộc Ba Lan và dân tộc Tây Tạng - ĐCV) có một quá khứ bi thảm giống nhau. Tôi rất vui mừng Dalai Lama trở thành công dân danh dự của Warsaw. Tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ nhận đươc danh hiệu công dân danh dự từ chính những công dân Tây Tạng trao cho".
Đây không phải là lần đầu tiên Dalai Lama viếng thăm Ba Lan. Trong những lần trước, chính quyềnTrung Quốc đều phản đối Ba Lan về những cuộc viếng thăm này. Thậm chí, họ còn phản đối cả việc đặt tên các đường phố mang tên liên quan đến Tây Tạng. Phía Ba Lan đã trả lời rõ ràng , đây là những vấn đề thuộc chủ quyền của Ba Lan. Ba Lan luôn kính trọng Dalai Lama và ủng hộ chủ trương đấu tranh ôn hòa cho một Tây Tạng tự trị nhiều hơn và bảo tồn nền văn hóa truyền thống của Tây Tạng.
Theo các báo và TV Ba Lan.
วันพฤหัสบดีที่ 30 กรกฎาคม พ.ศ. 2552
No383:Hàn quốc tính sổ lại về chiến tranh Việt Nam

Hạ sĩ An Hạc Thọ (áo trắng)
Hơn bốn thập niên trước, Nam Hàn cùng với các nước đồng minh đã gởi quân đội sang giúp miền Nam Việt Nam chiến đấu chống lại làn sóng đỏ. Chuyện này công khai, cả thế giới đều biết chứ không bị giấu diếm như việc Liên xô, Trung cộng, Bắc Triều Tiên... đưa binh lính, vũ khí đến miền Bắc, giúp Hà Nội xâm lược miền Nam.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, nhà cầm quyền CSVN vẫn muốn giấu kín chuyện này, nhưng rồi thành trì cộng sản Liên xô bị sụp đổ, cộng thêm việc cơm không ngon, canh không ngọt với Trung quốc và Bắc Triều Tiên, nên những gì Hà Nội muốn giấu diếm dần dần được chính các nước đó tiết lộ ra trong một chừng mực nào đó, để vừa kể công, vừa dằn mặt Hà Nội hầu đòi hỏi quyền lợi.
Trong cuộc chiến 1954 – 1975 CSVN đã vay nợ nhiều nước trong khối Xã Hội Chủ Nghĩa để có những phương tiện chiến tranh tàn phá đất nước và gieo rắc đau thương tang tóc cho hàng triệu người dân Việt Nam. Điều này đã được chính cố thủ tướng CSVN thừa nhận qua câu nói: "Cứ 30/4 tới có triệu người vui thì có cả triệu người buồn". Liên Xô và Trung Quốc đã công bố nhiều tài liệu về việc vay nợ này của Hà Nội; tuy nhiên Bắc Triều Tiên thì chưa. Vì một lý do nào đó, hoặc có thể vì Hà Nội không chịu trả số tiền mà Bình Nhưỡng bảo là họ đã cho CSVN vay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, nên mới đây báo đài Bình Nhưỡng đã loan tin là lãnh đạo của họ trong chuyến công du Việt Nam vào năm 2005 đã đến viếng thăm và đặt vòng hoa tưởng niệm tại nghĩa trang quân đội Bắc Triều Tiên ở Hà Nội. Nếu không có sự tiết lộ này thì chẳng mấy ai biết đến việc chính quyền cộng sản Bắc Triều Tiên đã gởi quân đội sang phòng thủ Hà Nội, để cho bộ đội miền Bắc dồn mọi nỗ lực xua quân xâm vào đánh chiếm miền Nam Việt Nam.
Sư đoàn Mãnh Hổ Ðại Hàn tham chiến tại Việt Nam
Về phía Nam Hàn thì tuy đưa quân sang tham chiến, nhưng cho đến nay, qua nhiều đời tổng thống, chính phủ quốc gia này vẫn không thừa nhận chuyện binh lính của họ bị mất tích hay bị bắt làm tù binh trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng vào trung tuần tháng 7 vừa qua, chính quyền Hàn quốc đã thừa nhận chuyện này, chẳng phải vì Tổng thống Lý Minh Bác muốn làm khác với các chính quyền trước; mà vì không thể nào bác bỏ được những bằng chứng cụ thể vừa mới được đưa ra do nỗ lực tìm kiếm của gia đình một người lính Hàn quốc bị mất tích tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh. Đó là hạ sĩ An Hạc Thọ (Ahn Hak-soo). Năm 1966, hạ sĩ Thọ (23 tuổi) theo đơn vị sang Việt Nam tham chiến, hai năm sau bỗng nhiên người ta thấy hạ sĩ Thọ xuất hiện trên đài phát thanh Bình Nhưỡng, cho hay là mình đã rời bỏ hàng ngũ, tìm đường sang tị nạn ở Bắc Triều Tiên, và đang được đối xử hết sức nhấn đạo. Hạ sĩ Thọ còn kêu gọi bạn bè đồng ngũ nên tìm cách đào thoát như mình và không quên lên án lẽ chính quyền Nam Hàn là tay sai của đế quốc Mỹ, bắt dân làm lính đánh thuê v.v....
Chính phủ Nam Hàn lúc đó đã ghi vào hồ sơ quân bạ của hạ sĩ An Hạc Thọ là kẻ đào ngũ, chạy theo giặc. Gia đình hạ sĩ Thọ ở Nam Hàn tuy không bị xếp vào thành phần thân cộng, nhưng chẳng hề lãnh được một đồng nào từ tiền lương suốt trong hai năm mà hạ sĩ Thọ chưa lãnh. Vì biết tính của con mình, nên cha mẹ hạ sĩ Thọ không tin con mình đào ngũ chạy theo cộng sản, và cho rằng, có thể trong một cuộc giao tranh nào đó anh đã bị bộ đội cộng sản Việt Nam bắt làm tù binh, rồi giao cho Bắc Triều Tiên để tuyên truyền. Gia đình của hạ sĩ Thọ đã nhiều lần yêu cầu tòa án quân sự xét lại bản án, nhưng không được đáp ứng vì hai lý do. Thứ nhất chẳng bao giờ có chuyện binh lính Nam Hàn mất tích hay bị bắt làm tù binh trong chiến tranh Việt Nam, và thứ hai là chính Thọ đã lên đài phát thanh Bình Nhưỡng nói thẳng là mình đào ngũ. Gia đình của hạ sĩ Thọ không còn cách nào khác hơn là tiếp xúc với những người tị nạn Bắc Triều Tiên ở khắp nơi để hỏi thăm tin tức. Dù sau hơn 10 năm trời không có được kết quả nào, nhưng gia đình hạ sĩ Thọ vẫn không nãn lòng, và vẫn tiếp tục đi tìm kiếm. Mới đây, qua một người tị nạn Bắc Hàn định cư ở Seoul, họ mới biết được một số tin tức của hạ sĩ Thọ. Theo lời của người tị nạn này thì hạ sĩ Thọ đã bị xử tử hình vào năm 1975 khi tìm cách trốn thoát khỏi Bắc Hàn. Theo lời kể của hạ sĩ Thọ thì ông ta bị bắt làm tù binh trong một trận giao tranh ở ngoại ô Sài Gòn, sau đó bị dẫn ra Bắc, rồi giao cho người của sứ quán Bắc Triều Tiên ở Hà Nội. Khi đưa sang Bình Nhưỡng ông bị giam một thời gian dài, sau đó bị đưa lên đài đọc những lời đã viết sẵn. Lời tường thuật của người tị nạn vừa kể được xem là khả tín nếu không muốn nói là đúng sự thực. Là một người hoàn toàn xa lạ với gia đình hạ sĩ Thọ, lại sống ở Bắc Triều Tiên vào lúc hạ sĩ Thọ bị bắt, thì ông ta không thể nào biết được nhiều chi tiết liên quan đến hạ sĩ Thọ tại chiến trường Việt Nam, như số quân, đơn vị, tên người chỉ huy của hạ sĩ Thọ, và nhất là địa danh nơi xảy ra trận giao tranh khiến hạ sĩ Thọ bị bắt làm tù binh.
Sau khi thẩm xét lý lịch và những lời chứng của người tị nạn Bắc Hàn vừa kể, Sở quan An ninh quân đội Hàn Quốc đã đi đến kết luận là, chứng nhân này sẽ chẳng bao giờ biết được những thông tin như thế, nếu như không được chính hạ sĩ Thọ kể lại cho ông ta nghe.
Khi không còn kết tội hạ sĩ An Hạc Thọ là kẻ đào ngũ nữa, thì coi như chính quyền Hàn quốc thừa nhận là có chuyện binh lính của họ bị mất tích hay bị bắt làm tù binh tại chiến trường Việt Nam, việc phải khôi phục lại danh dự cho người hạ sĩ này chỉ là vấn đề thời gian.
Mặc dù trong những ngày cuối tháng 7/2009, dư luận ở Hàn quốc nóng lên vì vấn đề này, nhưng chính quyền Bình Nhưỡng vẫn giữ yên lặng. Những người am hiểu về Bắc Triều Tiên không ngạc nhiên về thái độ im lặng này, vì họ biết rằng có nhiều xác xuất là rồi đây chính quyền Bình Nhưỡng sẽ bằng cách nào đó dùng chuyện này làm điều kiện để đòi chính quyền CSVN phải trả nợ; nếu Hà Nội từ chối thì có thể Bình Nhưỡng sẽ cho công bố thêm những chi tiết liên quan khác để làm Hà Nội mất mặt, như là một cách làm áp lực để đòi nợ từ một con nợ vẫn nổi tiếng là lật lọng.
No381: Thế cân bằng Mỹ – Trung Quốc
Ngoại Trưởng Hillary Clinton và Bộ Trưởng Tài Chánh Tim Geithner đang họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế với các ông Vương Kỳ Sanh, phó thủ tướng và Ðới Bính Quốc, ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ nói nước Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến đến gần nhau hơn. Ông Ðới Bính Quốc mô tả hai nước như cùng đi trên một con thuyền lớn đang bị sóng to gió lớn, và quyền lợi hai bên liên hệ chằng chịt với nhau.
Người Việt nghe câu đó có người giật mình, nghĩ ngay đến những con “tầu lạ” đâm vào các thuyền của ngư phủ Việt Nam ra khơi đánh cá trong mấy tháng qua!
Cuộc gặp mặt hàng năm của hai chính phủ Trung Hoa và Mỹ tiếp nối một chính sách đã bắt đầu từ cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1972 giữa Richard Nixon cùng với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai. Chuyến Hoa du của Nixon thúc đẩy Mao và Chu vào vị thế liên kết với Mỹ để cùng chống Nga, nhưng cũng cho Trung Quốc thấy Mỹ sẵn sàng rút khỏi Việt Nam vì có những quan tâm chiến lược lớn hơn khắp thế giới. Sau đó là chuyến công du lịch sử của Ðặng Tiểu Bình tới Washington năm 1979. Thăm viếng nước Mỹ rồi, Ðặng Tiểu Bình xua quân sang “dậy cho Việt Nam một bài học,” bài học dậy bằng những xác chết người Việt và người Trung Hoa vô tội.
Hôm Thứ Hai, Tổng Thống Barack Obama tuyên bố bang giao Hoa-Mỹ sẽ có ảnh hưởng quyết định trên thế giới trong thế kỷ 21 – “shape the 21st century,” trong nguyên văn. Nói điều này ra cũng chỉ là nói một sự thật. Các chính phủ Mỹ từ thời Nixon đến nay vẫn tiếp tục chính sách giao thương giúp kinh tế Trung Hoa thoát khỏi cảnh trì trệ và lạc hậu do chế độ Cộng Sản gây ra. Họ chấp nhận sẽ có một cường quốc đối thoại ngang hàng với Mỹ bên kia bờ Thái Bình Dương, và viễn tượng đó đã thành hình qua các thời tổng thống thuộc cả hai đảng.
Người Việt Nam lại tự hỏi: Khi Mỹ và Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao của họ lên hàng chiến lược như vậy thì số phận Việt Nam có bị họ quyết định hay không và quyết định ra sao?
Chúng ta không nên quá lo lắng chuyện hai nước Mỹ, Hoa sẽ chia nhau ảnh hưởng trên các quốc gia ở Thái Bình Dương, trong đó các nước nhỏ như Việt Nam sẽ bị dùng làm một vật trao đổi. Kinh nghiệm lịch sử sẽ khiến các chính phủ Mỹ không dám theo con đường phiêu lưu đó. Và các hoạt động ngoại giao hiện đang diễn ra cũng cho thấy nước Mỹ chắc chắn sẽ không để cho Trung Quốc tự do bành trướng, hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ chung quanh.
Trong thế kỷ trước, Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm đau đớn khi một cường quốc Á Châu bành trướng, đó là Nhật Bản. Nước Nhật đã vươn lên từ khi đánh bại hải quân Nga năm 1905, và bắt đầu mở rộng vùng ảnh hưởng trên miền Ðông Bắc Châu Á. Khi Nhật Bản chiếm bán đảo Cao Ly, tới Mãn Châu, rồi gây chiến với Trung Quốc sau “biến cố” Lư Cầu Kiều năm 1937, Mỹ tuy bênh vực Trung Quốc nhưng vẫn đứng ngoài, nhìn các con cọp giao đấu. Những biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ chỉ làm cho Nhật Bản càng thấy nhu cầu phải bành trướng mạnh hơn để chiếm lấy những miền đất nhiều tài nguyên thiên nhiên. Chỉ đến khi quân Nhật tấn công Pearl Harbor cuối năm 1941 thì Mỹ mới chính thức bước vào vòng chiến. Bài học của cuộc chiến tranh đó là chính phủ Mỹ không thể để yên cho một cường quốc Á Châu xâm chiếm, ép buộc các nước Á Châu khác trong kế hoạch bành trướng ảnh hưởng của họ, mà tưởng là nước Mỹ sẽ được yên thân.
Với kinh nghiệm đó, chắc chắn các chính phủ Mỹ trong thế kỷ 21 này sẽ phải ngăn ngừa trước mọi kế hoạch bành trướng của bất cứ quốc gia nào trong vùng Châu Á; trước khi quá trễ. Rõ ràng là quốc gia duy nhất hiện nay có thể nuôi tham vọng bành trướng này là Trung Quốc, một nước với những vị hoàng đế tự xưng là Thiên Tử (Con Trời), mà qua hai ngàn năm vẫn tự coi họ là trung tâm của Thiên Hạ, tất cả mọi thứ dưới bầu trời.
Cho nên ngay trong lúc tiến hành chính sách giao thương và khuyến khích Trung Quốc thay đổi theo đường lối tư bản để cải thiện kinh tế, các chính phủ Mỹ vẫn không quên củng cố những hàng rào chung quanh cường quốc đang lên này. Nước Mỹ không có lý do nào để tiếp tục giữ quân đội đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn, nếu không phải là đề phòng Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục những hiệp ước bảo vệ Ðài Loan, vẫn bán vũ khí chiến lược cho Trung Hoa Dân Quốc, và gần đây nhất bắt đầu hợp tác với Ấn Ðộ về quân sự, năng lượng nguyên tử, và sản xuất vũ khí. Các nước Ðông Nam Á đều nhìn thấy mối đe dọa từ Trung Quốc và thiết tha hợp tác với Mỹ. Úc là một đồng minh tự nhiên của Mỹ vì cả hai đều theo thể chế tự do dân chủ, mà Úc cũng là một quốc gia của di dân như nước Mỹ.
Tuần trước, bà Hillary Clinton mới tới Thái Lan họp và ngày 22 Tháng Bẩy 2009 đã ký vào bản Hiệp Ước Thân Hữu và Cộng Tác với khối Ðông Nam Á ASEAN. Lâu lắm chính phủ Mỹ mới cử một người cấp ngoại trưởng đến dự cuộc họp của khối này, trong thời Tổng Thống George W. Bush chỉ có những viên chức cấp thấp đến dự. Năm 2005, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự một cuộc họp Diễn Ðàn Vùng ASEAN (ARF) của các nước Ðông Nam Á mà từ năm 1982 lúc nào các vị ngoại trưởng Mỹ cũng dự, khiến năm đó nhiều người lo ngại chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi không chú ý đến khu vực này nữa. Năm nay tình thế thay đổi, có thể chính vì chính sách gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong vùng này. Bà Clinton tuyên bố, “Hoa Kỳ đã trở lại Ðông Nam Á.” Bà không ngại nói thẳng đến mối lo ngại của các nước láng giềng của Trung Quốc, và nói, “cho nên chúng tôi muốn tăng cường mối bang giao với các nước ở phía Ðông và Ðông Nam Châu Á. Tuy nhiên chúng tôi hy vọng là mọi nước có thể làm việc với nhau và Trung Quốc sẽ tập trung mọi nỗ lực của họ vào việc nâng cao đời sống kinh tế của dân chúng họ để cạnh tranh trên thị trường (thế giới).”
Sau khi trở về Washington, Hillary Clinton đã dự cuộc họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế cùng với ông Tim Geithner, mà năm ngoái chỉ do ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson trong chính phủ Bush dẫn đầu. Các cuộc họp đối thoại trước đây chỉ nhắm vào các vấn đề kinh tế giữa hai nước. Từ năm ngoái ông Paulson đã mở rộng đề tài bàn cả về vấn đề bom nguyên tử của Bắc Hàn. Giữa Mỹ và Trung Quốc còn nhiều vấn đề chung cần bàn cũng liên can đến kinh tế nữa, cho nên năm nay có mặt của bà Clinton. Trong cơ cấu chính quyền ở Washington, một bộ trưởng ngoại giao có địa vị cao hơn bộ trưởng tài chánh.
Ông Geithner vẫn tiếp tục lời kêu gọi thường lệ của chính phủ Mỹ là Bắc Kinh hãy bớt chú trọng đến xuất cảng hàng hóa mà nên hướng cho người dân Trung Hoa được tiêu thụ nhiều hơn. Nhưng ông Obama đến khai mạc cuộc họp đã không quên nhắc nhở chính phủ Trung Quốc phải tôn trọng quyền làm người bên trong lãnh thổ của họ. Một cách cụ thể, ông nhấn mạnh, “tôn giáo và văn hóa của mọi dân tộc phải được tôn trọng và được bảo vệ.” Ai cũng hiểu rằng ông Obama ám chỉ tới văn hóa và tôn giáo của người Uighur ở Tân Cương và người Tây Tạng. Hiện nay chính phủ Mỹ chưa quyết định ông Obama nên gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trước hay đợi sau chuyến công du của ông sang Trung Quốc rồi mới gặp.
Nếu Mỹ với Trung Quốc không quyết định cho cả thế giới thì mối bang giao giữa hai nước chắc chắn sẽ quyết định tình hình Ðông Nam Á trong thế kỷ 21 này. Ðó là hai cường quốc trong vùng, mặc dù nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương.
Nước Mỹ đã giúp cho Trung Quốc tiến đến địa vị ngày hôm nay, kể từ khi Tổng Thống Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông và Tổng Thống Carter đón tiếp Ðặng Tiểu Bình. Khách tiêu thụ ở Mỹ giúp các xí nghiệp ở Trung Quốc phát triển, những đầu tư của người Mỹ và người Hoa ở Mỹ giúp nâng cao công nghiệp và kỹ thuật ở Ðài Loan rồi từ đó lan sang lục địa. Chính nước Mỹ góp phần nâng địa vị của Trung Quốc trong vùng Ðông Nam Á lên cao hơn.
Trong tình thế đó, đường lối ngoại giao của nước Việt Nam không thể nghiêng về một nước, dù là Trung Quốc hay Mỹ. Nhưng trong lúc bị sức nặng của Trung Quốc đè lên một bên vai, thì cần tái lập thế cân bằng mới, qua những liên hệ mật thiết hơn với Mỹ. Cần phải tái lập thế cân bằng giữa hai cường quốc Thái Bình Dương, nếu không Việt Nam sẽ bị lép vế đối với Trung Quốc mãi mãi.
Nhưng sau cùng, đường lối tốt nhất vẫn là gây dựng cơ bản cho các quan hệ song phương với tất cả các nước Á Ðông, đặc biệt là vùng Ðông Nam Á. Khi khối Ðông Nam Á đoàn kết và phồn thịnh hơn thì không còn sợ Trung Quốc bành trướng, cũng không sợ Mỹ bỏ rơi nữa. Một khối gần 600 triệu dân Ðông Nam Á sẽ đủ sức bảo vệ lẫn nhau.
Cho nên chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam cần phải tự tách dần ra khỏi vòng kềm tỏa của Cộng Sản Trung Quốc, để phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và cả quân sự với các nước Ðông Nam Á. Phải dùng diễn đàn ASEAN nhiều hơn nữa để đưa ra những vấn đề tranh chấp về chủ quyền trên biển và trên đất liền với Trung Quốc. Nếu cứ nhắm mắt cúi đầu xin trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ còn chịu thiệt thòi rất lâu, có khi sẽ trở thành hoàn toàn lệ thuộc. Mà nhiều người Việt lo tình trạng lệ thuộc đó đã diễn ra rồi!
Người Việt nghe câu đó có người giật mình, nghĩ ngay đến những con “tầu lạ” đâm vào các thuyền của ngư phủ Việt Nam ra khơi đánh cá trong mấy tháng qua!
Cuộc gặp mặt hàng năm của hai chính phủ Trung Hoa và Mỹ tiếp nối một chính sách đã bắt đầu từ cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1972 giữa Richard Nixon cùng với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai. Chuyến Hoa du của Nixon thúc đẩy Mao và Chu vào vị thế liên kết với Mỹ để cùng chống Nga, nhưng cũng cho Trung Quốc thấy Mỹ sẵn sàng rút khỏi Việt Nam vì có những quan tâm chiến lược lớn hơn khắp thế giới. Sau đó là chuyến công du lịch sử của Ðặng Tiểu Bình tới Washington năm 1979. Thăm viếng nước Mỹ rồi, Ðặng Tiểu Bình xua quân sang “dậy cho Việt Nam một bài học,” bài học dậy bằng những xác chết người Việt và người Trung Hoa vô tội.
Hôm Thứ Hai, Tổng Thống Barack Obama tuyên bố bang giao Hoa-Mỹ sẽ có ảnh hưởng quyết định trên thế giới trong thế kỷ 21 – “shape the 21st century,” trong nguyên văn. Nói điều này ra cũng chỉ là nói một sự thật. Các chính phủ Mỹ từ thời Nixon đến nay vẫn tiếp tục chính sách giao thương giúp kinh tế Trung Hoa thoát khỏi cảnh trì trệ và lạc hậu do chế độ Cộng Sản gây ra. Họ chấp nhận sẽ có một cường quốc đối thoại ngang hàng với Mỹ bên kia bờ Thái Bình Dương, và viễn tượng đó đã thành hình qua các thời tổng thống thuộc cả hai đảng.
Người Việt Nam lại tự hỏi: Khi Mỹ và Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao của họ lên hàng chiến lược như vậy thì số phận Việt Nam có bị họ quyết định hay không và quyết định ra sao?
Chúng ta không nên quá lo lắng chuyện hai nước Mỹ, Hoa sẽ chia nhau ảnh hưởng trên các quốc gia ở Thái Bình Dương, trong đó các nước nhỏ như Việt Nam sẽ bị dùng làm một vật trao đổi. Kinh nghiệm lịch sử sẽ khiến các chính phủ Mỹ không dám theo con đường phiêu lưu đó. Và các hoạt động ngoại giao hiện đang diễn ra cũng cho thấy nước Mỹ chắc chắn sẽ không để cho Trung Quốc tự do bành trướng, hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ chung quanh.
Trong thế kỷ trước, Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm đau đớn khi một cường quốc Á Châu bành trướng, đó là Nhật Bản. Nước Nhật đã vươn lên từ khi đánh bại hải quân Nga năm 1905, và bắt đầu mở rộng vùng ảnh hưởng trên miền Ðông Bắc Châu Á. Khi Nhật Bản chiếm bán đảo Cao Ly, tới Mãn Châu, rồi gây chiến với Trung Quốc sau “biến cố” Lư Cầu Kiều năm 1937, Mỹ tuy bênh vực Trung Quốc nhưng vẫn đứng ngoài, nhìn các con cọp giao đấu. Những biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ chỉ làm cho Nhật Bản càng thấy nhu cầu phải bành trướng mạnh hơn để chiếm lấy những miền đất nhiều tài nguyên thiên nhiên. Chỉ đến khi quân Nhật tấn công Pearl Harbor cuối năm 1941 thì Mỹ mới chính thức bước vào vòng chiến. Bài học của cuộc chiến tranh đó là chính phủ Mỹ không thể để yên cho một cường quốc Á Châu xâm chiếm, ép buộc các nước Á Châu khác trong kế hoạch bành trướng ảnh hưởng của họ, mà tưởng là nước Mỹ sẽ được yên thân.
Với kinh nghiệm đó, chắc chắn các chính phủ Mỹ trong thế kỷ 21 này sẽ phải ngăn ngừa trước mọi kế hoạch bành trướng của bất cứ quốc gia nào trong vùng Châu Á; trước khi quá trễ. Rõ ràng là quốc gia duy nhất hiện nay có thể nuôi tham vọng bành trướng này là Trung Quốc, một nước với những vị hoàng đế tự xưng là Thiên Tử (Con Trời), mà qua hai ngàn năm vẫn tự coi họ là trung tâm của Thiên Hạ, tất cả mọi thứ dưới bầu trời.
Cho nên ngay trong lúc tiến hành chính sách giao thương và khuyến khích Trung Quốc thay đổi theo đường lối tư bản để cải thiện kinh tế, các chính phủ Mỹ vẫn không quên củng cố những hàng rào chung quanh cường quốc đang lên này. Nước Mỹ không có lý do nào để tiếp tục giữ quân đội đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn, nếu không phải là đề phòng Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục những hiệp ước bảo vệ Ðài Loan, vẫn bán vũ khí chiến lược cho Trung Hoa Dân Quốc, và gần đây nhất bắt đầu hợp tác với Ấn Ðộ về quân sự, năng lượng nguyên tử, và sản xuất vũ khí. Các nước Ðông Nam Á đều nhìn thấy mối đe dọa từ Trung Quốc và thiết tha hợp tác với Mỹ. Úc là một đồng minh tự nhiên của Mỹ vì cả hai đều theo thể chế tự do dân chủ, mà Úc cũng là một quốc gia của di dân như nước Mỹ.
Tuần trước, bà Hillary Clinton mới tới Thái Lan họp và ngày 22 Tháng Bẩy 2009 đã ký vào bản Hiệp Ước Thân Hữu và Cộng Tác với khối Ðông Nam Á ASEAN. Lâu lắm chính phủ Mỹ mới cử một người cấp ngoại trưởng đến dự cuộc họp của khối này, trong thời Tổng Thống George W. Bush chỉ có những viên chức cấp thấp đến dự. Năm 2005, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự một cuộc họp Diễn Ðàn Vùng ASEAN (ARF) của các nước Ðông Nam Á mà từ năm 1982 lúc nào các vị ngoại trưởng Mỹ cũng dự, khiến năm đó nhiều người lo ngại chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi không chú ý đến khu vực này nữa. Năm nay tình thế thay đổi, có thể chính vì chính sách gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong vùng này. Bà Clinton tuyên bố, “Hoa Kỳ đã trở lại Ðông Nam Á.” Bà không ngại nói thẳng đến mối lo ngại của các nước láng giềng của Trung Quốc, và nói, “cho nên chúng tôi muốn tăng cường mối bang giao với các nước ở phía Ðông và Ðông Nam Châu Á. Tuy nhiên chúng tôi hy vọng là mọi nước có thể làm việc với nhau và Trung Quốc sẽ tập trung mọi nỗ lực của họ vào việc nâng cao đời sống kinh tế của dân chúng họ để cạnh tranh trên thị trường (thế giới).”
Sau khi trở về Washington, Hillary Clinton đã dự cuộc họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế cùng với ông Tim Geithner, mà năm ngoái chỉ do ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson trong chính phủ Bush dẫn đầu. Các cuộc họp đối thoại trước đây chỉ nhắm vào các vấn đề kinh tế giữa hai nước. Từ năm ngoái ông Paulson đã mở rộng đề tài bàn cả về vấn đề bom nguyên tử của Bắc Hàn. Giữa Mỹ và Trung Quốc còn nhiều vấn đề chung cần bàn cũng liên can đến kinh tế nữa, cho nên năm nay có mặt của bà Clinton. Trong cơ cấu chính quyền ở Washington, một bộ trưởng ngoại giao có địa vị cao hơn bộ trưởng tài chánh.
Ông Geithner vẫn tiếp tục lời kêu gọi thường lệ của chính phủ Mỹ là Bắc Kinh hãy bớt chú trọng đến xuất cảng hàng hóa mà nên hướng cho người dân Trung Hoa được tiêu thụ nhiều hơn. Nhưng ông Obama đến khai mạc cuộc họp đã không quên nhắc nhở chính phủ Trung Quốc phải tôn trọng quyền làm người bên trong lãnh thổ của họ. Một cách cụ thể, ông nhấn mạnh, “tôn giáo và văn hóa của mọi dân tộc phải được tôn trọng và được bảo vệ.” Ai cũng hiểu rằng ông Obama ám chỉ tới văn hóa và tôn giáo của người Uighur ở Tân Cương và người Tây Tạng. Hiện nay chính phủ Mỹ chưa quyết định ông Obama nên gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trước hay đợi sau chuyến công du của ông sang Trung Quốc rồi mới gặp.
Nếu Mỹ với Trung Quốc không quyết định cho cả thế giới thì mối bang giao giữa hai nước chắc chắn sẽ quyết định tình hình Ðông Nam Á trong thế kỷ 21 này. Ðó là hai cường quốc trong vùng, mặc dù nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương.
Nước Mỹ đã giúp cho Trung Quốc tiến đến địa vị ngày hôm nay, kể từ khi Tổng Thống Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông và Tổng Thống Carter đón tiếp Ðặng Tiểu Bình. Khách tiêu thụ ở Mỹ giúp các xí nghiệp ở Trung Quốc phát triển, những đầu tư của người Mỹ và người Hoa ở Mỹ giúp nâng cao công nghiệp và kỹ thuật ở Ðài Loan rồi từ đó lan sang lục địa. Chính nước Mỹ góp phần nâng địa vị của Trung Quốc trong vùng Ðông Nam Á lên cao hơn.
Trong tình thế đó, đường lối ngoại giao của nước Việt Nam không thể nghiêng về một nước, dù là Trung Quốc hay Mỹ. Nhưng trong lúc bị sức nặng của Trung Quốc đè lên một bên vai, thì cần tái lập thế cân bằng mới, qua những liên hệ mật thiết hơn với Mỹ. Cần phải tái lập thế cân bằng giữa hai cường quốc Thái Bình Dương, nếu không Việt Nam sẽ bị lép vế đối với Trung Quốc mãi mãi.
Nhưng sau cùng, đường lối tốt nhất vẫn là gây dựng cơ bản cho các quan hệ song phương với tất cả các nước Á Ðông, đặc biệt là vùng Ðông Nam Á. Khi khối Ðông Nam Á đoàn kết và phồn thịnh hơn thì không còn sợ Trung Quốc bành trướng, cũng không sợ Mỹ bỏ rơi nữa. Một khối gần 600 triệu dân Ðông Nam Á sẽ đủ sức bảo vệ lẫn nhau.
Cho nên chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam cần phải tự tách dần ra khỏi vòng kềm tỏa của Cộng Sản Trung Quốc, để phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và cả quân sự với các nước Ðông Nam Á. Phải dùng diễn đàn ASEAN nhiều hơn nữa để đưa ra những vấn đề tranh chấp về chủ quyền trên biển và trên đất liền với Trung Quốc. Nếu cứ nhắm mắt cúi đầu xin trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ còn chịu thiệt thòi rất lâu, có khi sẽ trở thành hoàn toàn lệ thuộc. Mà nhiều người Việt lo tình trạng lệ thuộc đó đã diễn ra rồi!
No379: Dân biểu Hoa Kỳ đòi thay đổi chính sách đối với VN

(Washington) - Những tổ chức nhân quyền và một số nhà lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ đang đòi hỏi Việt Nam bị đưa lại vào danh sách “Các nước cần Quan tâm Đặc biệt” (CPC), và như thế sẽ cho phép Hoa Kỳ cấm vận kinh tế để áp lực lên nhà cầm quyền Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền. Ba lãnh vực quan tâm hiện đang được thảo luận tới là tự do tôn giáo, buôn bán phụ nữ và trẻ con, và các tổ chức bảo vệ người lao động.
Hiện tại, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ không xếp Việt Nam vào trong danh sách “Các nước cần Quan tâm Đặc biệt”, mặc dù họ đã làm thế trong hai năm 2004-2006. Chính quyền mới của ông Obama cung cấp một cơ hội để tái xếp loại Việt Nam trong phương diện CPC này.
Nhằm ghi nhận những biến chuyển mới đây nhất ở Việt Nam, Ủy ban Nhân quyền Tom Lantos đã tổ chức một buổi điều trần hôm 23 tháng Bảy, về tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam. Ủy ban này, bao gồm một ban hội thẩm của những nhà lập pháp Hoa Kỳ được biết đến như những người hoạt động ủng hộ nhân quyền, bao gồm dân biểu Chris Smith (đảng Cộng hòa, đơn vị New Jersey). Ed Royce (đảng Cộng hòa, đơn vị Cali), James McGovern (Dân chủ, tiểu bang MA), Anh “Joseph” Cao (Cộng hòa, tiểu bang LA), Dana Rohrabacher (Cộng hòa, CA). Loretta Sanchez (Dân chủ, tiểu bang Cali), Zoe Lofgren (Dân chủ, Cali), Tom Wolf (Cộng hòa, tiểu bang Virginia), và Joe Pitts (Cộng hòa, tiểu bang Philadelphia).
Dân biểu Ed Royce. Nguồn: http://www.royce.house.gov
Sự giận dữ có thể cảm nhận được qua buổi điều trần ở đồi Capitol khi những nhà lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ trút những lời chỉ trích nặng nề về chính sách lao động và tôn giáo của nhà nước Việt Nam, và hầu hết bày tỏ sự thất vọng đối với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ rõ ràng không muốn làm khó Việt Nam. Và họ nghi ngờ lời tuyên bố mới đây của ông Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam ông Michael Michalak rằng “thiếu bằng chứng” để đưa Việt Nam vào lại danh sách Các nước cần Quan tâm Đặc biệt.
“Khi Việt Nam còn nằm trong danh sách CPC, chúng ta thấy có những thay đổi tích cực. Một cách không may, khi Việt Nam được đưa ra khỏi danh sách này hơi vội vã trong năm 2006, họ lại tăng cường sự khủng bố, ngược đãi” dân biểu Ed Royce nói.
“Rất tiếc là không có người đại diện cho Bộ Ngoại giao có mặt với buổi điều trần hôm nay. Tôi muốn tìm hiểu thêm tại sao bên hành pháp không tìm hiểu thêm về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam và những nơi khác. Tôi hy vọng Bộ Ngoại giao xét đến những gì được trình bày và thảo luận hôm nay,” dân biểu Chris Smith nói.
Dân biểu Smith đã ba lần giới thiệu đạo luật mới ở Hạ viện, lần mới đây nhất, là Đạo luật Nhân quyền cho Việt Nam năm 2009 (HR 1969) ngăn cấm viện trợ không mang tính nhân đạo của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam không được vượt qúa mức của năm tài chánh FY2009 ngoại trừ tổng thống Hoa Kỳ xác nhận với Quốc hội là nhà nước Việt Nam đã có nỗ lực và đạt được những kết qủa đáng kể trong các lãnh vực: trả tự do cho tù nhân tôn giáo và chính trị, và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, bao gồm việc trả lại tài sản thuộc quyền sỡ hữu của giáo hội.
Nguồn:
(1) Congress Members Demand Change In Policy Toward Vietnam. The Epoch Times, by Gary Feuerberg, 28 July 2009
วันจันทร์ที่ 2 มีนาคม พ.ศ. 2552
No339: Harry Wu vạch trần tội ác diệt chủng của ĐCS Trung Quốc

Harry Wu vạch trần tội ác diệt chủng của ĐCS Trung Quốc.
Thứ Sáu, 27 tháng hai 2009
WASHINGTON - "Chủ tịch cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông xứng đáng đứng ngang hàng với nhà độc tài Đức Quốc Xã Adolf Hitler vì cách hủy diệt toàn bộ con người Trung Quốc của Mao."
Đó là lời phát biểu của nhà bất đồng chính kiến Harry Wu. Ông là một tù nhân chính trị và cũng là một tù nhân khổ sai trong nhiều năm tại những nhà tù tại Trung Quốc. "Kẻ phá rối" (Troublemaker) cuốn sách mang đến cho người đọc cảm giác ớn lạnh nó phơi bầy cảnh giết chóc trong những trại tù và các phương pháp được sử dụng để che dấu sự tàn bạo của nó để tránh sự chú ý của thế giới ở phương Tây.
Trung Quốc Mao Trạch Đông xứng đáng đứng ngang hàng với nhà độc tài Đức Quốc Xã Adolf Hitler
"Mao đã giết rất nhiều người như Hitler, thậm chí có thể nhiều hơn," Wu nói. "Mao còn cố tìm cách tiêu diệt truyền thống gia đình của người Trung Quốc vì nó hoàn toàn chống lại triết lý không tưởng cộng sản." Hơn nữa, Mao phải chịu trách nhiệm đối với hàng triệu người tử vong "như là một kết quả của chính sách nông nghiệp điên rồ."
Hitler cẩn thận sử dụng các cụm từ hoa mỹ như "giải pháp cuối cùng cho dân tộc Do Thái" (extermination of the Jews). Còn ngôn ngữ được Mao sử dụng "Tất cả cho cuộc cách mạng vô sản."
Harry Wu hiểu điều đó có nghĩa là. "một mệnh lệnh cho vệ binh đỏ vào đêm của ngày 18 tháng 8 năm1966 trong cơn thịnh nộ đi qua các thành phố, giết chết tất cả những ai không vừa lòng họ, 1741 nạn nhân," chỉ trong một ngày.
Chỉ với một lý do duy nhất : "người hàng xóm của tôi là một tư sản ? Tra tấn Hắn. Hãy giết hắn. "
Wu nói rằng ông "cảm nhận được mối liên kết giữa những sự khủng khiếp trong cuộc sống của người Do Thái trên đường đến Kristallnacht và trong tất cả các cuộc tàn sát."
"Những bức ảnh của Hitler, nụ cười chế ngạo trên mặt, với đôi mắt ốc nhồi, là một cảnh báo với thế giới rằng ông ta sẽ giết những ai cản bước chân ông."
Sự khác biệt giữa Hitler và Mao là:
Mao cười trong lúc hàng triệu người chết đói.
"Không bao giờ thấy Mao với nét mặt giận dữ." và bạn sẽ chỉ nhìn thấy, "Mao với một nụ cười nhân ái", nhưng con người ấy lại là tác giả của những thảm kịch trong đó có hàng triệu người tử vong vì đói khác [và] là hàng triệu bị đầy ải nơi lao tù, hàng triệu người bị hành xử ", Wu nói thế với chúng tôi
"nụ cười nhân ái " có làm cho bạn cảm thấy Mao nhân hậu hơn Hitler không?
Những người thuộc cánh tả tại Hoa Kỳ đã cố thuyết phục rằng ở một khiá cạnh nào đó Mao là biểu tượng của sự nhân ái, vì thế mà chúng ta có được những quyển sách bỏ túi sinh sắng "Lời hay ý đẹp của Chủ tịch Mao"
Harry Wu đã nghiên cứu nhiều về những cuộc thảm sát người Do Thái, và những trại hành quyết ở Buchenwald, Dachau và Sachenhausen.
Khi Harry Wu tham quan Dachau, ông thấy một khẩu hiệu trên vĩ sắt treo trước cửa: "ARBEIT MACHT FREI.", nó có nghĩa là "lao động biến [bạn] thành người Tự Do." thật là một sự mỉa mai! "Ở Trung Quốc, khẩu hiệu cho trại của chúng tôi là "lao động cho bạn cuộc đời mới ".
Nhà giam Dachau nơi mà các tù nhân cư ngụ, thường là từ 500 hoặc 600 người trong một phòng chật trội " họ chỉ được năm phút một ngày để sử dụng phòng tắm nơi đặt một chậu nước. Hàng trăm người tù phải chờ đợi chậu nước bẩn này.
"Những điều kiện sống ở Dachau không thể tệ hơn so với đời sống trong nhà tù CS mà tôi đã kinh qua," ông nghĩ.
Nhà bất đồng chính kiến Harry Wu và vợ của ông, Ching-Lee, trong một khoảnh khắc hiếm hoi của thư giãn. (nguồn: Trouble Maker)
Sự hủy diệt?
Một đoạn qua trong "Troublemaker" Harry Wu viết: "Ở Trung Quốc, người ta không có cái gọi là phòng ngạt Hitler, nhưng họ có chính sách phân biệt đối xử với người Tây Tạng và các dân tộc thiểu số khác trong một thể loại đặc biệt. Và chúng tôi những người bất đồng chính kiến là kẻ thù của cuộc cách mạnh vô sản. Tôi không có nghi ngờ rằng nếu chiến tranh xẩy đến, Trung Quốc sẽ giết mọi người trong trại nếu họ không thể sử dụng được. Trung Quốc đã tạo ra một tầng lớp "kẻ thù", và tù nhân. "
Đức Quốc Xã đã sử dụng tù nhân cho các cuộc "thử nghiệm."
Các bác sĩ Quốc Xã không muốn thử nghiệm trên người của họ, do đó, họ chỉ cần nói với những cai tù rằng, "Hey, tôi có thể có một ai đó." Những tù nhân bị dùng cho các cuộc "thử nghiệm" thường dẫn đến tử vong.
Ở Trung Quốc họ rao bán những bộ phận con người. Trong một dịp tình cờ ông Wu biết được một bác sĩ người Trung Quốc đã tham gia vào ca giải phẩu lấy thận ra khỏi người một "tù nhân."
Ngưòi bác sĩ này đã khó chịu khi Wu gọi ông ta là một kẻ giết người. Không khác gì những bác sĩ thời Đức Quốc Xã, các bác sĩ Trung Quốc đã hủy diệt mạng sống của tù nhân như là một điều cần thiết để đạt được một đời sồng vật chất cao hơn.
วันพฤหัสบดีที่ 19 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552
No314:"Nhóm những kẻ kình địch" - câu chuyện lãnh đạo Trung Quốc

Cheng Li là giám đốc nghiên cứu và thành viên kỳ cựu tại Trung tâm China Thornton, thuộc Viện Brookings và gần đây là biên tập của ấn phẩm "Phong cảnh chính trị thay đổi của Trung Quốc: Triển vọng cho Dân chủ" (Washington: Nhà xuất bản Viện Brookings, 2008).
Thảm sát Thiên An Môn
Sự tụt dốc của hệ thống tài chính Trung Quốc hứa hẹn thử thách quyền lực của Đảng Cộng Sản Trung Quốc theo cách chưa từng thấy kể từ sau vụ Thiên An Môn. Nhưng quyền lực đó đang bị chia rẽ, khi phe bảo hoàng (princelings) đối đầu với phe dân túy (populist), và các nhà nghiên cứu về Trung Quốc đang cố gắng giải thích điều sẽ xảy ra. Liệu đội ngũ lãnh đạo, vốn được xây dựng để đạt thành tích về kinh tế, sẽ tan rã khi hết tiền? Bài viết này là hướng dẫn của người trong cuộc về các vị lãnh đạo đang nắm quyền kiểm soát Trung Quốc.
Hai tá chính trị gia cao cấp, những người nắm vị trí tối cao ở Trung Nam Hải, trung tâm chỉ huy của Đảng CSTQ tại Bắc Kinh, đang lo lắng. Điều mà một năm trước đây chưa ai có thể tưởng tượng được, nay đe dọa sự cai trị của họ: Một nền kinh tế đang rơi tự do. Xuất khẩu, tối quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế nóng bỏng của Trung Quốc, đang lao xuống. Hàng ngàn nhà máy và doanh nghiệp, đặc biệt là ở những khu vực giàu có gần bờ biển, đã phải đống cửa. Trong 6 tháng cuối năm 2008, 10 triệu công nhân, cộng với một triệu sinh viên mới ra trường, phải ra nhập đội ngũ thất nghiệp vốn đã khổng lồ của quốc gia này. Trong cùng giai đoạn đó, thị trường chứng khoán Trung Quốc mất 65% giá trị, tương đương với 3000 tỉ USD. Cuộc khủng hoảng, chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào nói gần đây, "là một thử thách cho khả năng duy trì kiểm soát của chúng ta trong một tình huống phức tạp, và cũng là thử thách về khả năng cai trị của Đảng".
Với sự suy sụp nhanh chóng của nền kinh tế, Đảng CS Trung Quốc bỗng dưng trông có vẻ dễ bị tổn thương. Kể từ khi Đặng Tiểu Bình khởi động các cải cách kinh tế 30 năm trước, tính chính đáng của Đảng luôn dựa trên khả năng [của Đảng] duy trì nền kinh tế phát triển với tốc độ chóng mặt. Nếu Trung Quốc không còn khả năng duy trì tốc độ phát triển cao hay cung cấp công ăn việc làm cho lực lượng lao động lớn chưa từng có của mình, sự bất mãn rộng rãi của công chúng và những bất ổn xã hội sẽ nổ ra. Không ai nhận thức rõ điều này hơn Bộ Chính Trị, những người đang lèo lái Trung Quốc. Tăng trưởng 2 con số đã bảo vệ họ khỏi nạn dịch SARS, động đất khủng khiếp, và những scandal bẩn thỉu. Giờ đây, câu hỏi sống còn là liệu họ có được chuẩn bị để chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế ở mức độ lớn như hiện tại - và họ có sống sót sau những thử thách chính trị mà cuộc khủng hoảng đem lại hay không?
Năm nay đánh dấu kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, và quyền hành của Đảng không còn nằm trong tay một người mạnh mẽ nhất, như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình. Thay vào đó, Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành của nó - tổ chức có quyền hành lớn nhất ở Trung Quốc - được điều hành bởi hai liên minh ngầm, đối chọi với nhau để dành quyền lực, ảnh hưởng và kiểm soát các chính sách. Sự cạnh tranh trong Đảng CS Trung Quốc, là điều mà, tất nhiên, không có gì mới mẻ. Nhưng sự cạnh tranh ngày hôm nay không còn là trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game), trong đó người thắng cuộc chiếm mọi thứ nữa. Cũng cần phải nhớ lại rằng, khi Giang Trạch Dân trao quyền hành lại cho người kế nhiệm, Hồ Cẩm Đào, vào năm 2002, đã đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sự chuyển giao quyền lực mà không có đổ máu hay thanh trừng. Và hơn nữa, Hồ Cẩm Đào không phải là người được Giang Trạch Dân che chở; họ thuộc hai nhóm khác biệt đang đấu đá nhau. Xin mượn một cụm từ đang thịnh hành ở Washington hôm nay, Trung Quốc sau Đặng Tiểu Bình được điều hành bởi một "nhóm những kẻ kình địch"
Sự cạnh tranh nội bộ được coi như một "tục lệ" của Đảng CSTQ từ chỉ hơn một năm trước đây. Tháng 10 / 2007, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào làm bất ngờ nhiều nhà nghiên cứu về Trung Quốc khi từ bỏ thủ tục "nối ngôi" thẳng ruột ngựa mà Đảng vẫn sử dụng từ trước đến nay, và chỉ định - không phải một - mà là hai người kế nhiệm. Trung Ương nêu tên Tập Cận Bình (Xi Jinping) và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) - hai nhà lãnh đạo rất khác biệt nhau ở độ tuổi 50 - trước 9 thành viên của Ban Chấp hành Bộ Chính trị, nơi mà những lãnh đạo của Trung Quốc được chuẩn bị tinh thần để bước vào nghề. Vai trò tương lai của hai vị này, người sẽ chia sẻ quyền lực sau Đại hội Đảng kế tiếp vào năm 2012, đã được xác nhận: Tập Cận Bình sẽ là ứng cử viên cho vị trí Chủ tịch nước, và Lý Khắc Cường sẽ kế nhiệm Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Hai ngôi sao đang lên này không có nhiều điểm chung trên khía cạnh nguồn gốc gia đình, đoàn thể chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo hay định hướng chính sách. Nhưng bọn họ mỗi người đều có ảnh hưởng lớn tới việc định dạng chính sách kinh tế Trung Quốc - và họ được trông đợi là sẽ dẫn dắt hai liên minh cạnh tranh lẫn nhau để vẽ nên quỹ đạo kinh tế và chính trị Trung Quốc trong thập niên kế tiếp và sau đó.
Có một điều chắc chắn là: Họ có một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn là chuyển đổi nhanh chóng và hiệu quả mô hình phát triển nhờ xuất khẩu mà quốc gia này theo đuổi đã lâu. Nhiệm vụ này yêu cầu sự cân bằng khéo léo giữa các cải cách sáng tạo, tự do hóa hơn nữa nền kinh tế, và đôi lúc, sự can thiệp mạnh của chính phủ để tái định dạng nền kinh tế Trung Quốc sang hướng phát triển dựa trê nhu cầu nội địa. Đây là một thử thách làm nhiều người nản chí, đặc biệt là khi những nhà lãnh đạo lại có sự khác biệt lớn đến vậy. Chắc chắn sẽ có những đấu đá quyền lực. Nhưng cũng có một cơ hội là, những kình địch hàng ngày này, hiểu rõ tình thế sự sống còn của Đảng đang nằm trên sợi chỉ, sẽ đặt những đấu đá sang một bên để hướng dẫn Trung Quốc ra khỏi cuộc khủng hoảng.
Việc thu xếp tạo ra "nhóm những kẻ kình địch" không phải là một lựa chọn, mà là nhu cầu mới của bộ máy lãnh đạo Trung Quốc. Khi nâng đỡ cả Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường vào năm 2007, Hồ Cẩm Đào đã cho thấy sự quan trọng của những nhóm cử tri khác nhau mà mỗi nhân vật nói trên đại diện, và lòng tin rằng chỉ có xây dựng sự đồng thuận mới có thể vượt qua những chấn động chính trị nghiêm trọng trong thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc, trong đó Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường là thành viên. Ý tưởng biến kình địch thành liên minh "vì mục đích cao cả", như Abraham Lincoln từng nói, đã được báo chí Trung Quốc đăng tải rộng rãi. Một bài viết gần đây trên tờ China Youth Daily, một trong những tờ báo phổ biến nhất ở Trung Quốc, đã gọi "nhóm những kẻ kình địch" (zhengdi tuandui) là “sáng kiến tuyệt vời để đạt thỏa hiệp chính trị nhằm đem lại lợi ích chung lớn nhất và vốn chính trị cho sự sống còn.”
Hai nhóm này có thể được nhìn nhận như nhóm "dân túy" (populist) và nhóm "bảo hoàng" (elitist). Nhóm dân túy hiện tại được Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo lãnh đạo. Thành viên chính của nhóm, bao gồm Lý Khắc Cường (Li Keqiang), Lý Nguyên Triều (Li Yuanchao) - Trưởng ban tổ chức Đảng (Director of Party Organization), Uông Dương (Wang Yang), Bí thư Quảng Đông, được biết đến với cái tên "tuanpai", tức là Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Trung Quốc, con đường tiến thân của những đồng chí nói trên. Phần lớn tuanpai - họ bây giờ chiếm 23% Trung Ương và 32% Bộ Chính Trị - đang là lãnh đạo địa phương và tỉnh, thường là ở những khu vực nghèo nàn nằm sâu trong lục địa, và rất nhiều người là chuyên gia về tuyên truyền và sự vụ pháp luật. Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào cũng từng là tuanpai, và các lãnh đạo của nhóm này đa số coi ông là bạn tâm tình lâu năm: phần lớn bọn họ đã làm việc dưới trướng Hồ Cẩm Đào từ những năm đầu thập niên 80, khi ông dẫn dắt Đoàn Thanh niên. Tuanpai được biết tới với khả năng tổ chức và tuyên truyền, nhưng họ lại thiếu kinh nghiệm khi phải đối mặt với kinh tế thế giới. Uy tín của họ đã không được đánh giá cao trong thời Giang Trạch Dân, khi đầu tư quốc tế và toàn cầu hóa nền kinh tế được ưu tiên trên tất thảy, nhưng họ bây giờ lại được coi là rất cần thiết bởi nguy cơ bất ổn xã hội và căng thẳng chính trị đang lên cao.
Liên minh bảo hoàng sinh ra vào thời Giang Trạch Dân, và mặc dù hai lãnh đạo hiện thời của nó - Ngô Bang Quốc (Wu Bangguo), Chủ tịch cơ quan lập pháp quốc gia; và Cổ Khánh Lâm (Jia Qinglin), lãnh đạo cơ quan tư vấn chính trị quốc gia - ít được biết đến bên ngoài Trung Quốc, họ là hai trong số những lãnh đạo có địa vị cao nhất ở Trung Quốc. Thành viên thế hệ thứ năm chính của nhóm bảo hoàng bao gồm Tập Cận Bình, Phó Thủ tướng Vương Kỳ San (Wang Qishan), Bí thư Trùng Khánh Bạc Hi Lai (Bo Xilai), được biết tới như những vương tử, bởi họ là con cháu của các cựu quan chức cao cấp. Ví dụ như cha của Tập Cận Bình, Vương Kỳ San và Bạc Hi Lai đều đã từng là phó thủ tướng. Nhóm vương tử nắm 28% số ghế trong Bộ Chính trị hiện thời. Đa số các vương tử lớn lên từ những khu vực bờ biển giàu có và theo đuổi các lĩnh vực tài chính, thương mại, quan hệ quốc tế và công nghệ. Mặc dù mối quan hệ nâng đỡ ô dù không phải lúc nào cũng bền vững giữa các vương tử này, nhưng nhu cầu chung bảo vệ lợi ích của họ, đặc biệt trong thời điểm mà dư luận ngày càng phẫn uất với thói gia đình trị, đã gắn kết họ lại với nhau.
Trong số sáu thành viên thế hệ thứ năm đang phục vụ Bộ Chính trị hiện giờ, có 3 là tuanpai và 3 là vương tử. Sự khác biệt chính sách giữa các bè phái này là rất lớn, do sự tương phản về nguồn gốc của họ. Ở mức độ rộng lớn hơn, sự khác biệt của họ phản ánh các lực lượng kinh tế xã hội đang cạnh tranh nhau ở Trung Quốc: Nhóm bảo hoàng hướng tới phục vụ lợi ích của các doanh nhân và tầng lớp trung lưu đang trỗi dậy, trong khi nhóm tuanpai thường đòi xây dựng một xã hội hài hòa, với sự chú trọng nhiều hơn vào các nhóm xã hội dễ tổn thương như nông dân, công nhân di cư và người nghèo thành thị.
Lấy ví dụ, cương lĩnh chính trị của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường bất đồng đáng kể. Sự thiết tha với tự do hóa thị trường và tiếp tục phát triển khu vực kinh tế tư nhân của Tập Cận Bình được cộng đồng kinh doanh quốc tế biết đến từ lâu. Không có gì đáng ngạc nhiên, các mối quan tâm chính sách chủ yếu của ông bao gồm làm cho nền kinh tế hiệu quả hơn, giữ cho GDP phát triển nhanh, và Trung Quốc hòa nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Tập Cận Bình đặc biệt quan tấm đến việc duy trì hạnh phúc cho giới đại gia giàu có ở khu vực bờ biền phía Đông Trung Quốc.
Ngược lại, Lý Khắc Cường lại lo lắng hơn về con số thất nghiệp ở Trung Quốc. Ông đã cố gắng có nhiều nhà giá rẻ cho dân ở khắp nơi, và hiểu rõ sự quan trọng của việc phát triển hệ thống phúc lợi xã hội sơ đẳng, bắt đầu bằng việc cung cấp dịch vụ y tế cơ bản. Làm trẻ lại những tỉnh Đông Bắc, khu công nghiệp cổ xưa của Trung Quốc và cũng là khu vực thâm dụng lao động (labour-intensive) nhất, dường như là sự quan tâm của Lý Khắc Cường. Đối với Lý Khắc Cường, giảm bớt sự chênh lệnh về kinh tế còn khẩn cấp hơn nhiều so với nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Những ưu tiên chính sách trái ngược giữa Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường chắc chắn sẽ còn tăng lên khi họ đối mặt với những vấn đề kinh tế cấp bách, như Trung Quốc nên phản ứng thế nào trước áp lực quốc tế về trị giá đồng Nhân Dân Tệ, và chính quyền phải tiến hành kế hoạch kích thích nền kinh tế ra sao?
Bất chấp rất nhiều khác biệt giữa họ, thế hệ thứ năm của các tuanpai và vương tử cùng chia sẻ một chấn thương: Họ là một phần của "thế hệ mất mát" của Trung Quốc. Sinh ra sau khi Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập, họ là những đứa trẻ khi Cách mạng Văn hóa nổ ra năm 1966. Họ mất đi cơ hội được học hành bình thường do biến cố chính trị này, và nhiều người trong số họ là những "đứa trẻ bị gửi đi", bị đuổi khỏi thành phố về những khu vực nông thôn và làm việc như những nông dân trong nhiều năm trời.
Vương tử Tập Cận Bình và Vương Kì San đã bị dồn từ Bắc Kinh về Diên An, thuộc tỉnh Thiểm Tây, nơi họ trải qua nhiều năm tại nông trại. Tuanpai Lý Khắc Cường và Lý Nguyên Triều lao động tại những khu vực hẻo lánh nghèo nhất thuộc tỉnh An Huy và Giang Tô. Những kinh nghiệm gian khổ và thấp hèn đó buộc các lãnh đạo tương lai này phải học một số tính cách, như chịu đựng, thích nghi, tính cẩn thận trước tương lai, và nhún nhường. Họ không chỉ có cơ hội đặc biệt để biết về nông thôn Trung Quốc, mà họ còn phải điều chỉnh và thích nghi với một môi trường kinh tế xã hội hoàn toàn khác biệt. Sự điều chỉnh này buộc họ phải học từ thời bé cách đối mặt với những thách thức và cách thỏa hiệp. Tập Cận Bình gần đây nói với truyền thông Trung Quốc rằng thời gian ông ở Diên An là "kinh nghiệm đặc biệt quan trọng", một "bước ngoặt" của cuộc đời ông.
Còn một sự kiện khác có mức độ quan trọng tương đương với Cách mạng Văn hóa trong cuộc đời của những nhân vật này, đó là sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Chúng ta không có thông tin về sự kiện này ảnh hưởng tới mỗi cá nhân trong số họ như thế nào, nhưng họ thuộc thế hệ già hơn đa số những người biểu tình, và tại thời điểm đó, vài người là lãnh đạo hay bí thư của các đoàn thanh niên. Có thể thấy rõ là họ nhận thức được, với tư cách tập thể, việc lãnh đạo Trung Quốc tại thời điểm đó chia rẽ như thế nào trong việc đáp trả biến cố. Họ cũng nhận ra rằng những đấu đá nội bộ đã làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng và bậc cuối cùng chính là sự đáp trả tàn bạo.
Những sự kiện này dạy cho [lãnh đạo] thế hệ thứ năm hai bài học: Thứ nhất, họ phải duy trì ổn định chính trị bằng mọi giá, và thứ hai, họ không được để lộ sự rạn nứt giữa họ ra cho công chúng biết. Cho dù các lãnh đạo này khác nhau từ chân tới cổ, có một sự đoàn kết ở mức cao, hun đúc bởi những bất ổn quá khứ, là phải tránh bất cứ dấu hiệu nào của sự chia rẽ trong lãnh đạo, đó là mối nguy hiểm cho Đảng và cho cả đất nước.
Như thế, những khác biệt sâu sắc và những kinh nghiệm chung đầy ảnh hưởng này nói cho những nhà nghiên cứu Trung Quốc điều gì về cách thế hệ lãnh đạo kế tiếp sẽ lèo lái nền kinh tế Trung Quốc? Năng lực kinh tế của các vương tử sẽ là thứ cần thiết để xử lý những thách thức kinh tế vĩ mô mà Trung Quốc sẽ đối mặt trong năm nay và sau đó. Và sự nhạy cảm của tuanpai, vốn giỏi về tổ chức và tuyên truyền, sẽ là thứ không thể thiếu để Trung Quốc giải quyết các vấn đề xã hội sinh ra và bị kích thích bởi khủng hoảng kinh tế.
Sự xuất hiện của nhóm những kẻ kình địch có thể đưa tới kết quả là sẽ có ít hơn các chính sách nhằm tối đa tốc độ tăng trưởng GDP bằng mọi giá. Thay vào đó, các chính sách cân nhắc thích đáng giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội sẽ được ban hành. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra đã làm lãnh đạo Trung Quốc thay đổi quỹ đạo, từ tăng trưởng bằng hướng xuất khẩu sang khuyến khích cầu nội địa, điều này có nghĩa là họ phải đáp ứng những nhu cầu của nông thôn. Một kế hoạch cải cách đất đai đầy tham vọng đã được chấp nhận vào mùa đông 2008, hứa hẹn sẽ cho nông dân nhiều quyền hơn và các khuyến khích mang tính thị trường để thúc đẩy họ thầu lại và chuyển nhượng đất đai. Chính sách này nhằm tăng thu nhập cho nông dân, giảm sự chênh lệch về kinh tế, thúc đẩy quá trình thành thị hóa bền vững, và cuối cùng chấm dứt một thế kỷ phân ly giữa thành thị và nông thôn ở Trung Quốc. Một số nhà phân tích cho rằng cuộc cải cách đất đai này, cùng với kế hoạch 600 tỷ USD kích thích kinh tế được thông báo vào tháng Mười một nhằm xây dựng đường tàu và cơ sở hạ tầng nông thông, sẽ thúc đẩy rất mạnh nền kinh tế nội địa và hi vọng sẽ kéo Trung Quốc ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại.
Mặc dù việc cải cách luật đất đai chủ yếu phản ánh kế hoạch của Hồ Cẩm Đào và ảnh hưởng của nhóm dân túy, những lãnh đạo bên phe bảo hoàng cũng là những người ủng hộ của sáng kiến chính sách này. Thỏa hiệp chính trị và xây dựng đồng thuận, không đấu đá phe nhóm, đã tạo ra sự phát triển nông thôn và kế hoạch kích thích kinh tế nói trên.
Nhưng ván bài mới của các nhà chính trị Trung Quốc có thể đổ vỡ. Điều gì sẽ xảy ra, nếu ví dụ, điều kiện kinh tế tiếp tục tồi tệ? Chủ nghĩa bè phái trong lãnh đạo có thể mất kiểm soát, thậm chí dẫn tới bế tắc hoặc thù hận công khai. Những tầm nhìn khác biệt ở nhiều vấn đề - bao gồm cả cách tái phân bổ nguồn lực, thiết lập hệ thống y tế công, cải cách khu vực tài chính, đảm bảo an ninh năng lượng, duy trì trật tự chính trị, và giải quyết các căng thẳng sắc tộc trong nước - đã lôi thôi đến mức các nhà lãnh đạo sẽ thấy càng ngày càng khó khăn trong việc xây dựng sự dồng thuận cần thiết để lãnh đạo một cách hiệu quả.
Dù sao, nếu loại trừ những thứ hoàn toàn không thể ngờ tới, nền tảng chính sách của nhóm dân túy sẽ thắng thế trong vòng 3-4 năm tới, và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay sẽ tiếp tục thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc tăng cường sự can thiệp vào nền kinh tế. Tuy nhiên, có thể có sự chuyển dịch về hướng ngược lại trong năm 2012, khi vương tử Tập Cận Bình thay thế Hồ Cẩm Đào, tương tự như cú chuyển chuyển đổi từ Giang Trạch Dân sang Hồ Cẩm Đào. Việc tạo ra sự chuyển dịch như thế trong quá trình chuyển đổi lãnh đạo cao cấp tạo ra động lực chính trị hữu ích giúp ngăn cản một phe nắm quyền lực quá lớn. Bởi vì những khác biệt về chuyên môn, uy tín và kinh nghiệp của các lãnh đạo mới, những phe phái đối đầu sẽ nhận ra rằng họ phải tìm đường cùng nhau tồn tại để tiếp tục nắm quyền. Xét cho cùng, họ có chung một lợi ích, đó là duy trì ổn định xã hội và mong ước đưa Trung Quốc bước lên sân khấu thế giới. Xét theo lịch sử lâu đời của Trung Quốc, với quyền quyết định độc đoán thuộc về một nhà lãnh đạo duy nhất, thì thí nghiệm "một đảng, hai phe" này thể hiện một bước tiến lớn về phía trước - cho cả đảng và nhân dân Trung Quốc.
สมัครสมาชิก:
บทความ (Atom)