แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Ngoại giao แสดงบทความทั้งหมด
แสดงบทความที่มีป้ายกำกับ Ngoại giao แสดงบทความทั้งหมด

วันศุกร์ที่ 31 กรกฎาคม พ.ศ. 2552

No384:Cẩn thận với sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông

Cẩn thận với sự khẳng định chủ quyền
ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc trên Biển Đông

Micah Springut

Ngày 27-7-2009

Trong lúc quân đội Hoa Kỳ vẫn còn phải bận tâm với các hoạt động đang diễn ra tại Trung Đông, thì cuộc đua tranh dồn dập vào vùng Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa] gây nên nguy cơ xung đột lớn hơn nếu như không được kiểm soát đúng mức. Hai vụ xô xát hải quân mới đây trong khu vực liên quan tới hải quân Mỹ và Trung Quốc là những biểu hiện của chiêu thức ganh đua đang diễn ra giữa hai cường quốc, và là một thứ nhắc nhở rằng những thay đổi tinh tế trong sức mạnh đã đưa những khu vực mới ở châu Á vào trong canh bạc. Những chiếc tàu hải quân Trung Quốc đã quấy rối một tàu thăm dò của Mỹ, tàu U.S.N.S. Impeccable, cách bờ biển đảo Hải Nam 75 dặm, và vào tháng Sáu, một tàu ngầm Trung Quốc lén theo sau một khu trục hạm Hải quân Hoa Kỳ đã va chạm với dàn thiết bị phát hiện tàu ngầm sau đuôi tàu này.

Bộ Quốc phòng đã đồng ý tổ chức một cuộc đối thoại với các đối tác Trung Quốc trong tương lai gần với những hy vọng ngăn ngừa những vụ việc rắc rối trong tương lai và thiết lập những thủ tục để giải quyết. Đây là một bước đi tích cực. Tuy nhiên, một loạt những chiều hướng đảo lộn tạo nên mối nghi ngờ tính hiệu quả trong chính sách của Hoa Kỳ tại khu vực này và làm nổi bật một tình trạng khó xử cho Hoa Kỳ, cho thấy sẽ chỉ sâu sắc thêm qua thời gian.

Những đòi hỏi về lãnh thổ của Trung Quốc trên Biển Đông và các quần đảo, những vòng cung đảo san hô là chồng lấn với một loạt các quốc gia Đông Nam Á khác. Kim ngạch buôn bán được vận chuyển qua lại vùng biển này làm cho nó có tầm quan trọng chiến lược sống còn ở châu Á, trong khi cuộc tranh giành nguồn tài nguyên và bành trướng quân sự có khả năng phát sinh xung đột.

Những vụ đụng độ hải quân mới đây nhất phản ánh một lập trường quả quyết hơn từ Bắc Kinh trong những năm gần đây và xảy ra khi Trung Quốc tỏ ra coi trọng việc hiện đại hóa năng lực hải quân của mình một cách ấn tượng. Chỉ mới đây thôi, Bắc Kinh đã gây sức ép trở lại lên các đòi hỏi về lãnh thổ đang tranh chấp của mình với Philippines và Việt Nam (và lên các kế hoạch khai thác tài nguyên trong khu vực này của các công ty dầu lửa phương Tây), ném ra mối nghi ngờ cho một thỏa thuận kiểm soát những căng thẳng trong khu vực được ký kết năm 2002. Phản ứng của Trung Quốc đối với vụ tàu Impeccable cũng đáng lo ngại, với việc một người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã biện minh trái ngược với luật pháp quốc tế khi cho rằng các con tàu của Mỹ cần “được sự chấp thuận” khi đi vào Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc.

Tuy nhiên, phản ứng của Mỹ trước những hành động khiêu khích này rõ ràng là ôn hòa. Chính phủ không làm gì hơn là đưa ra một lời phàn nàn với chính phủ Trung Quốc sau vụ Impeccable, và công khai tuyên bố vụ va chạm trên biển là không cố ý, từ chối làm cho vụ việc này trở thành một vấn đề còn để ngỏ. Những phản ứng này rõ ràng là được trù tính nhằm giữ cho các vụ xô xát không đẩy chương trình nghị sự lớn lao hơn của Washington với Bắc Kinh đi vào tình thế hiểm nghèo. Trên thực tế, Hoa Kỳ đã tuyên bố chính sách về những tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông là thận trọng tương tự và đã không thay đổi kể từ những năm giữa thập niên 1990, khi Hoa Kỳ quả quyết là mình sẽ không giữ một lập trường về bất cứ tuyên bố lãnh thổ nào và sẽ cố thuyết phục cho một môi trường hòa dịu để giải quyết một cách hòa bình các mối bất đồng.

Một lối tiếp cận như vậy để lộ ra một tình trạng khó xử trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Hoa Kỳ đã theo đuổi điều mà một số người gọi là “chiến lược bao vây,” tìm cách thuyết phục người Trung Quốc hợp tác trong một phạm vi các lợi ích được chia sẻ, trong khi đồng thời chuẩn bị cho khả năng là Trung Quốc sẽ chọn giải pháp đối đầu. Song, căn cứ vào tham vọng duy trì các quan hệ với Bắc Kinh và tránh nuôi dưỡng thêm những mối căng thẳng, Hoa Kỳ đã thiên về khả năng sự răn đe của quân đội nước mình sẽ ngấm ngầm hơn là rõ ràng dứt khoát. Hy vọng rằng những bộ óc tỉnh táo ở Bắc Kinh, những người hiểu về sự cần thiết cho một môi trường quốc tế hòa bình để có được tăng trưởng kinh tế, sẽ thắng thế.

Tuy nhiên, chiến lược của Mỹ trong trường hợp này đã thất bại trước việc đánh giá các toan tính của Trung Quốc trên Biển Đông. Mối quan tâm chủ yếu không phải là Trung Quốc sẽ đi tới một lựa chọn chiến lược tai hại nhằm đương đầu mặt đối mặt với Hoa Kỳ ở đó. Mà đúng hơn, là Trung Quốc có thể hành động một cách hung hăng – có lẽ thông qua sức ép kinh tế và quân sự lên các nước láng giềng phía nam của mình – nếu như họ tin rằng họ có thể hạn chế sự chống đối của Hoa Kỳ và phản ứng quốc tế.

Những phần tử bên trong chính phủ Trung Quốc rõ ràng được khích lệ bởi những xu hướng gần đây. Tờ Global Times, một tờ báo của chính phủ trung ương, mới đây đã cho đăng một bài báo tuyên bố rằng 92% người dùng internet nghĩ là cuộc tranh chấp Biển Đông sẽ phải được giải quyết bằng vũ lực, điều đó gợi lên là hành động quân sự có thể là một lựa chọn hấp dẫn để làm sao lãng bất cứ tình trạng rối loạn cuối cùng nào ở trong nước. Một nhóm cố vấn thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân, trong tháng này, đã kêu gọi sắp đặt một chiến dịch quân sự để có thể “đánh vào bản tính kiêu ngạo của một hoặc hai quốc gia nhỏ, giành lại thực sự một ít quần đảo và dải đá ngầm có ý nghĩa chiến lược, kể cả những cuộc tấn công chống lại những giếng dầu hoạt động bất hợp pháp.” Nhân tố quyết định, trong cách nhìn của họ, là Hoa Kỳ đã thiếu quyết tâm chống lại hành động quân sự [của Trung Quốc]. Nếu không thức tỉnh những ý niệm mơ hồ này, thì Quân Giải phóng Nhân dân và những lực lượng khác sẽ tiếp tục nhìn thấy cơ hội ở nơi mà họ cho là chỉ có một mối đe doạ duy nhất [tức là chỉ có Trung Quốc làm bá chủ - BS].

Để chú tâm vào những quan niện sai lầm này, Hoa Kỳ phải làm sáng rõ những cam kết của mình trong việc bảo vệ vùng Biển Đông chống lại hành động gây hấn xâm lược. Cùng lúc, nước này phải có những bước đi thận trọng để giảm bớt quy mô to lớn nhất có thể xảy ra một phản ứng dữ dội của Trung Quốc, trong khi chấp nhận một khoảng thời gian cho Bắc Kinh ghìm cương đối với những thái độ biện hộ cho hành động đối đầu này.

Bộ Quốc phòng cần phải sử dụng những cuộc thảo luận đã được lên kế hoạch cho các vấn đề về biển để truyền đạt quyết định của Mỹ duy trì sự hiện diện của mình trên vùng Biển Đông. Song, do vấn đề này lớn hơn những vụ việc chỉ là xô xát trên biển, nên những nỗ lực đó phải được tiếp theo sau bằng những biện pháp khác nữa. Một bài diễn văn công khai ở cấp cao từ một quan chức hàng đầu trong Bộ Quốc phòng cần phải giải thích về những mối quan tâm của Mỹ trong khu vực này – trong đó có quyền tự do hoạt động hàng hải trên vùng biển có giá trị sống còn đối với dân chúng trên toàn cầu, và cách giải quyết trong hòa bình những tranh chấp lãnh thổ – và tái khẳng định thái độ sẵn sàng của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ những lợi ích này. Hoa Kỳ cũng cần phải tăng cường các mối quan hệ về an ninh với các đối tác Đông Nam Á của mình.

Cùng lúc, Hoa Kỳ cần phải làm rõ rằng nước này không chống lại sự hiện diện chính đáng của Trung Quốc trong khu vực, và mời Trung Quốc tham dự vào một tầm mức to lớn hơn trong các nhiệm vụ giữ an ninh trên biển chống lại hải tặc và cùng phát triển. Việc kết hợp những biện pháp này sẽ giúp hạn chế sự ngăn cản đối với Mỹ trong khi khích lệ sự hòa nhập của Trung Quốc vào trong một cấu trúc an ninh hợp tác chung.

Một số người ở Hoa Kỳ có thể không được thoải mái khi đưa ra “sự rõ ràng về chiến lược” to lớn hơn cho khu vực này. Tuy nhiên, trong những thập kỷ tới, Quân Giải phóng Nhân dân sẽ có được khả năng phóng chiếu sức mạnh của mình tới những điểm giới hạn xa nhất trên Biển Đông. Nếu người Trung Quốc đã không nhận thấy những giới hạn trong sức mạnh của mình và bị chọc tức trước lúc đó, thì sẽ khó cho chiến lược bao vây, không thể phát triển được chính sách ngăn chặn.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

วันจันทร์ที่ 16 มีนาคม พ.ศ. 2552

No363: Dựa vào ai?

Hãy giả định mấy tình huống sau đây:

TÌNH HUỐNG THỨ NHẤT
Quần chúng Việt Nam căm phẫn vụ Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thảm sát người Việt ngày 17.02.1979, ép buộc Việt Nam phải ký một hiệp định về biên giới nhằm hợp thức hóa những vùng đất mà chúng đã chiếm của Việt Nam … Quần chúng biểu tình và được nhà nước ủng hộ nên bùng nổ thành phong trào chống Trung Quốc rộng khắp đất nước. Đoàn biểu tình bao vây tòa đại sứ Trung Quốc, đòi Trung Quốc phải trả lại Hoàng Sa, Trường Sa, trả lại những phần đất đã bị cướp v.v…

TÌNH HUỐNG THỨ HAI
Đoàn biểu tình tập hợp được vài ba trăm người vừa rục rịch xuống đường chống Trung Quốc là đã bị công an cảnh sát Việt Nam cô lập, rượt bắt, còng tay, đưa về đồn công an nhốt, bạt tai, đá đít, chửi rủa, lăng mạ, ghép cho cái tội gây rối trật tự công cộng, có ý đồ lật đổ chính phủ v.v



PHÂN TÍCH CÁC TÌNH HUỐNG
Tình huống thứ nhất: bang giao giữa hai nước Việt Trung sẽ rất căng thẳng có thể dẫn đến chiến tranh.

Bạn nghĩ gì về tương quan lực lượng hai bên? Nếu chúng ta đánh nhau với Trung Quốc trên biển để giành lại hai hòn đảo thì chẳng những chúng ta không thắng nổi mà e rằng hải quân Việt Nam với tàu chiến cũ kỹ, vũ khí rỉ sét lạc hậu, bộ đội ngán ngẩm vì một xã hội thối nát… liệu chúng ta có cầm cự nổi “một canh giờ” trước lực lượng hải quân hùng hậu và hiện đại như Trung Quốc không?

Nếu đánh nhau trên bộ, chiến sự có thể giằng co, nhưng vì nhà nước đã mất chỗ dựa vào dân nên chiến thắng chỉ là ảo tưởng. Và mất thêm đất, thêm nhiều thành phố là điều chắc chắn.

Hiện nay tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc chẳng khác nào giữa Palestine và Israel. Một nhà nước Palestine bất lực đến nỗi để cho kẻ thù hành quân đến bắt nhốt hàng tá bộ trưởng dễ dàng như lấy đồ vật trong túi thì còn đánh đấm cái gì!

Vài bạn trẻ đi học nước ngoài về nói với tôi: ”Chú ơi, tụi Tây nó phục Việt Nam mình lắm. Nó nói kinh tế Việt Nam phát triển thần kỳ.” Bạn trẻ ấy không hề biết rằng đó chỉ là những câu “xã giao làm quà”.
Thực ra Việt Nam đã làm được gì?

Viêt Nam có đóng tàu thủy nhưng chỉ đóng được cái vỏ tàu còn những bộ phận quan trọng là máy tàu và các hệ thống trang thiết bị hiện đại trên tàu thì đều của nước ngoài. Việt Nam có sản xuất ô-tô đủ loại, xe máy, ti-vi, tủ lạnh, máy móc điện tử, computer… nhưng chỉ là lắp ráp theo dây chuyền công nghệ của người ta. Việt Nam có vệ tinh viễn thông Vinasat-1 nhưng đó là mua của công ty Lockheed Martin Commercial Space Systems (Hoa Kỳ) với giá 300 triệu USD và 80 % số tiền này là mượn nợ. Một chi tiết thú vị là tiền bảo hiểm cho vệ tinh này là 170 triệu USD!

Vậy nền công nghiệp Việt Nam thực chất làm được gì? Xin thưa: đó là chiếc xe đạp. Chúng ta có đủ trình độ chế tạo một chiếc xe đạp hoàn chỉnh từ A đến Z.

Với một nền kinh tế èo uột như vậy, một nền công nghiệp “lắp ráp theo kiểu học sinh mẫu giáo ghép hình” như vậy mà chúng ta có tham vọng đánh thắng Trung Quốc sao?

Tình huống thứ hai: Tại sao Trung Quốc ngang nhiên chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ngày 17.02.1979 và áp đặt một hiệp định về biên giới trên biển và trên bộ rất bất lợi cho Việt Nam như vậy mà nhà nước Việt Nam cũng ký?

Tại sao nhân dân phản đối sự bạo ngược và xự xâm lăng của Trung Quốc bằng các cuộc biểu tình mà nhà nước Việt Nam lại cấm đoán, bắt giam, phỉ báng và đàn áp?

Cho dù chúng ta yếu kém về mọi mặt nhưng lẽ ra nhà nước phải để cho dân bày tỏ lòng yêu nước, bày tỏ ý chí bất khuất trước kẻ xâm lược để ngăn chặn những tham vọng kế tiếp của chúng.

Sự đàn áp thẳng tay và lộ liễu của nhà nước Việt Nam đối với đoàn biểu tình chống Trung Quốc, chứng tỏ họ là tay sai của Trung Quốc, đang âm thầm thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình” như nhà văn Bùi Minh Quốc từng viết.

Nhân dân sẽ tự hỏi: tại sao nhà nước Việt Nam lại bênh vực kẻ thù và chống lại nhân dân?

Trừ một số tư sản mại bản, tư sản đỏ… thì đại đa số nhân dân Việt Nam đều căm ghét chế độ hiện nay ở Việt Nam. Vì thế mà chính quyền không có chỗ dựa. Không có chỗ dựa mà lại muốn “thiên thu trường trị, nhất thống giang hồ” như kiểu Đông Phương Bất Bại nên họ phải dựa vào ngoại bang, đó là Trung Quốc.

Trung Quốc biết rõ nhược điểm đó nên tha hồ áp đặt vấn đề biên giới và lãnh thổ. Rồi kế tiếp sẽ là vấn đề chính trị, văn hóa, kinh tế (mà cụ thể là việc Trung Quốc “xuất khẩu thảm họa môi trường sang Việt Nam” bằng việc đưa hàng ngàn người Trung Quốc vào Tây Nguyên để khai thác quặng bauxite.)

Chính vì thế mà hơn ai hết, hiện nay Trung Quốc rất cần một nhà nước Việt Nam bị nhân dân căm ghét. Và nhà nước Việt Nam cũng “vô tư thoải mái” trước sự căm ghét ấy vì dân càng ghét thì Trung Quốc càng ủng hộ và vỗ béo (theo cái kiểu mà Mỹ vỗ béo các ông hoàng xứ Saudi Arabia. Rồi đây các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng sẽ có những cái cầu tiêu bằng vàng cho mà xem!)

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Tôi không phải là một chính trị gia. Tôi cũng không có tham vọng chính trị. Nhưng bằng tình tự dân tộc, tôi nghĩ tình thế hiện nay có thể giải quyết mà chưa cần một cuộc lật đổ đẫm máu:

CHÍNH QUYỀN HÃY DỰA VÀO DÂN. Có chỗ dựa ở dân thì ngoại bang dù hùng mạnh và gian ác đến đâu cũng không dám lộng hành như hiện nay.

Muốn dựa vào dân thì hãy dẹp bỏ cái quốc hội bù nhìn đi. Hãy can đảm chấp nhận một quốc hội có đối lập, và quốc hội đó sẽ soạn thảo một bản hiến pháp mới, trong đó không có điều 4, vì điều 4 chủ trương độc tài đảng trị, hủy diệt nhân quyền và dân chủ.

Điều 4 của hiến pháp Việt Nam viết:

”Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là một tập đoàn tư sản đỏ đang bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, đang vơ vét tài nguyên quốc gia và mồ hội nước mắt của dân tộc, đang làm tay sai cho Trung Quốc để đổi lấy sự “bảo kê” lâu dài của ngoại bang… thế thì làm sao có đủ tư cách và có độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội”?

Tôi có thể đoan chắc rằng không một đảng viên cộng sản nào, khi đọc lại điều 4 hiến pháp, mà không khỏi đỏ mặt vì ngượng. Và các anh sẽ phải xấu hổ đến nỗi không dám đọc nó lần thứ hai.

Các anh thường nói: “Chúng ta đã đổ biết bao nhiều xương máu để giành độc lập, chẳng lẽ bây giờ để đất nước rơi vào tay kẻ khác sao?”. Vậy xin hỏi: Trong cuộc chiến vừa qua ai đã đổ xương máu? Xin thưa, đó là xương máu của hàng triệu những người lính trẻ đã chết trong trận Mậu Thân, trong chiến dịch Campuchia, trên dòng sông Thạch Hãn, trong cổ thành Quảng Trị… nào phải là xương máu của các anh!

Vậy xin hỏi: Các anh sợ nước mất vào tay ai? Các anh không biết rằng đất nước này đã mất từ lâu rồi sao? Hiện nay nhân dân không còn gì để mất. Nhân dân còn sợ mất cái gì? Chỉ có các anh là có quá nhiều thứ để sợ mất.

Sự thể đã đến nước này mà các anh còn đủ can đảm để khư khư ôm lấy cái điểu 4 quá bẽ bàng và quá vong ân bội nghĩa ấy sao?

Các anh đừng sợ dân chủ, đừng sợ mất của. Dân Việt Nam rất hiền lành và độ lượng. Thằng Mỹ ngày xưa gieo rắc bom đạn khủng khiếp như thế mà Bill Clinton qua Việt Nam còn được nhân dân Việt Nam chào đón niềm nở, huống chi là Đảng CSVN, cùng chung nòi giống Lạc Hồng!

Hiện nay các anh có 2 con đường để chọn lựa: hoặc là mãi quốc cầu vinh, hoặc là DÂN CHỦ (tức là đứng về phía nhân dân) để có chỗ dựa vững chắc, để phục hồi tư thế và sức mạnh dân tộc.

Quay đầu là bờ. Nếu không các anh sẽ chết chìm trong ô nhục!

Ngọn bút lịch sử không bao giờ ráo mực. Nó đang chờ để ghi chép những việc làm kế tiếp của các anh.

ĐÀO HIẾU (Ngày 14.03.2009)

(Nguồn Talawas blog)

วันพุธที่ 25 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No326: Biển Đông: có gì phải sợ?

Trong các tranh chấp về lãnh hải Biển Đông, chắc chắn rằng Việt Nam có nhiều bạn hơn là địch, có nhiều nước láng giềng cùng chia sẻ nỗi lo bị lấn đất, lấn biển hơn là số lượng các nước hung hiểm đối với Việt Nam. Và đây là vốn liếng để chúng ta có thể nương tựa, ngoài việc chuẩn bị cho sức mình là chính.

Trước tiên là Phi Luật Tân. Bất kể rằng Việt Nam và Phi Luật Tân có tranh chấp cùng một số hải đảo, nhưng các diễn biến cho thấy Manila luôn luôn ngó về Bắc Kinh trong các động thái liên hệ tới Biển Đông, hơn là dòm qua Hà Nội. Phần chính là vì Trung Quốc là quốc gia đã từng sử dụng hải quân với hoả lực mạnh để giao chiến với hải quân Phi Luật Tân. Các viên chức Phi tuy bày tỏ lòng hữu hảo với Hoa Lục, nhưng trong lòng vẫn giữ quyết tâm giữ đảo, giữ đất.

Báo Inquire.net hôm 22-2-2009 đã có bản tin nêu bật lên lời của Thượng Nghị Sĩ Phi Rodolfo Biazon, “Đừng sợ Trung Quốc về chuyện Trường Sa”. Chúng ta cần thấy rằng gần 700 tờ báo Việt Nam chưa bao giờ dám đăng một bản tin có cái nhan đề như thế, và cũng chưa từng có một cán bộ lãnh đạo CSVN nào dám nói minh bạch như thế.

Bản tin viết rằng:

“TNS Biazon đã yêu cầu chính phủ Phi gạt qua một bên các phản đối từ Trung Quốc đối với một dự luật vẽ ra các đường cơ sở của Phi Luật Tân, trong đó bao gồm các phần của đaỏ Trường Sa đang tranh chấp ở Biển Đông.

Biazon nói các nước khác đang tranh chấp ở vùng đảo này cũng đã lên tiếng phản đối dự luật đường cơ sở của Phi rồi, mà ông đã góp sức giúp soạn dự luật này.

Ông nói, ‘Mặc kệ người Trung Quốc, TQ không phải là nước duy nhất tranh chủ quyền Trường Sa. Các nước khác -- Brunei, Mã Lai, Việt Nam, Đài Loan - cũng nổi giận với dự luật của chúng ta.” Niazon nói với báo Philippine Daily Inquirer hôm Thứ Bảy, trong buổi họp mặt cựu sinh viên SQ Học Viện Quân Sự Phi Luật Tân.”

Ông nói, ‘Họ không thể làm gì được hết. Chuyện duy nhất họ có thể làm là lên LHQ và nộp đơn khiếu kiện’...”

Không phải là TNS Biazon nổi hứng mà lên đồng! Thực ra, Phi cũng đã từng giao chiến với hải quân Trung Quốc mấy phen. Nghĩa là, Bắc Kinh lúc nào cũng sẵn sàng dùng bạo lực. Khi thấy không giành được, mới chịu nhả ra.

Báo Nhật Bản The Japan Times hôm 24-2-2009 đã đăng bài viết nhan đề “Unbalanced bargaining game with China” (Trò chơi trả giá mất quân bình với Trung Quốc), của tác giả Du Tran, một tham vấn của tổ chức ERS Group (ersgroup.com), cho biết:

“Trung Quốc, quốc gia mạnh nhất khu vực, đã thực hiện một chính sách tương đối hung hăng đối với các nứơc tranh chấp [Biển Đông]. Năm 1947, TQ tuyên bố chủ quyền trên vùng lãnh hải chiếm hơn 75% Biển Đông. Năm 1992, Quốc Hội CSTQ ra bản văn tuyên bố các đường cơ sở này, mà, theo lời của cơ quan US Institute of Peace, chống kình với các diễn dịch công ước quốc tế.

Để thực hiện tranh chủ quyền, TQ đã dùng quân sự giao chiến -- chạm súng với Việt Nam năm 1974 và 1988, và giao chiến với Phi Luật Tân năm 1996 và 1997”.

Như thế, hai lần hải quân TQ tấn công đảo VN, và hai lần tấn công đảo Phi Luật Tân. Chắc chắn, chúng ta có một đồng minh tin cậy là Phi Luật Tân. Và qua lời của Thượng Nghị Sĩ Biazon, chúng ta an tâm vì lời tuyên bố “Không có gì phải sợ TQ cả!”.

Tuy nhiên, thực tế là ai cũng cần có hoà bình mới khai thác kinh tế được. Trung Quốc cũng như thế, vì nếu cứ đưa hải quân ra gây sự, sẽ không có công ty quốc tế nào dám vào vùng biển Trường Sa mà thăm dò dầu khí.

Một điều chúng ta cũng an tâm nữa, rằng các nước có vùng biển gần đó đều là đồng minh khả tín. Cụ thể như Indonesia và Nhật Bản. Và chính Nhật Bản đã bày tỏ quan ngại, đã chịu đựng rất nhiều bực bội với các chính phủ đầy tham nhũng, thí dụ như chính phủ Hà Nội, để làm bạn cho êm thắm Biển Đông.

Đó là điều thấy rõ trong vụ hối lộ, ăn chận tiền dự án ODA mà chính phủ Nhật đã nhiều tháng chất vấn CSVN. Trong khi nhà nước CSVN chưa giảỉ quyết xong vụ án, và đã tìm cách làm nhẹ tội ông Huỳnh Ngọc Sĩ, thì chỉ cần vài lời vuốt ve từ Hà Nội, Nhật Bản đã nối lại tiền viện trợ ODA.

Bản tin từ thông tấn nhà nước VOV cho biết là “Nhật Bản đã chính thức nối lại ODA cho Việt Nam”.

Theo bản tin của Đài VOV từ Hà Nội ngày 23-2-2009:

“Chính phủ Nhật Bản cam kết nối lại viện trợ cho Việt Nam thông qua việc ký công hàm trao đổi viện trợ phát triển (ODA) cho 4 dự án cơ sở hạ tầng trong năm tài khóa 2008”.

Bản tin VOV nói rằng vào chiều ngày 23/2,

“tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản, với tư cách là đặc phái viên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Võ Hồng Phúc đã có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Nhật Bản Hirofumi Nakasone và Thủ tướng Taro Aso. Phía Nhật Bản đã chính thức công bố nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam...”

Cũng cần nhắc rằng, nhân vật ra mặt để nhận tiền hối lộ từ phía đối tác Nhật Bản làm dự án ODA là ông Huỳnh Ngọc Sĩ đã bị bắt giam, chờ ra toà nhưng tội danh đã bị hạ giảm từ hối lộ sang tội “lợi dụng chức quyền”. Người ta tin rằng ông Sĩ được che chở, vì tiền hối lộ mấy triệu đô la tất phải chia cho cán bộ cao hơn, và giảm tội danh chỉ là để tránh án tử hình. Có phải Nhật Bản cần làm thân với Hà Nội để giảm bớt ảnh hưởng của Bắc Kinh vùng Đông Nam Á?

Thực tế, hẳn là như thế. Bởi vì nếu chúng ta ở cương vị Nhật Bản, cũng sẽ thấy rằng nếu cứng rắn với CSVN, thì Hà Nội lại nghiêng thêm về hướng CSTQ, thế lại càng rách việc.

Tình hình cần làm cho êm thắm với CSVN lại khẩn cấp hơn, bởi vì Trung Quôc vẫn nuôi dưỡng một đàn em kiểu Chí Phèo ở Bắc Hàn. Các bản tin hôm Thứ Hai cho biết Bắc Hàn đã tăng cường khả năng chiến tranh qua việc bố trí các loại phi đạn mới và gia tăng quân số.

Bản tin VOA viết:

“Trong bạch thư quốc phòng công bố mỗi hai năm một lần, Nam Triều Tiên nói rằng loại phi đạn đạn đạo tầm trung mới của Bắc Triều Tiên có tầm bắn hơn 3,000 kilomét, và có thể bắn tới đảo Guam, mỏm phía bắc của Australia, và nhiều phần đất ở Nga và Ấn Độ.

Phúc trình này không cho biết những chi tiết khác của loại phi đạn mới này và bao nhiêu phi đạn đã được bố trí.

Ông Shin Won Sik, một giới chức cao cấp của Bộ quốc phòng Nam Triều Tiên cho báo chí biết rằng quân số của Bắc Triều Tiên đã tăng tới mức 1 triệu 190,000 người, tăng 20,000 so với năm 2006, trong khi số lính của lực lượng đặc biệt được huấn luyện để nhanh chóng tấn công miền nam đã tăng 50% và lên tới mức 180,000 người”.

Như thế, nếu Nhật Bản không nương nhẹ với chính phủ CSVN đầy tham nhũng, thì sẽ bận rộn thêm với tay Chí Phèo hung hiểm mà Bắc Kinh vẫn giựt dây không rời. Thực tế, không chỉ với Việt Nam, mà Nhật Bản vẫn rải tiền ra để tìm các đồng minh vùng Biển Đông.

Báo The Jakarta Post hôm 23-2-2009 viết rằng: hôm Thứ Bảy, Nhật Bản đã đồng ý cung cấp hỗ trợ tài chánh trị giá 1.5 tỉ Mỹ Kim để bảo đảm cho Indonesia thực hiện một quỹ công khố phiếu dựa vào tiền yen, do ngân hàng Nhật bảo trợ, có tên là samurai bond. Lý do, chính phủ Indonesia muốn bán trái phiếu này để thu hút từ giới đầu tư Nhật Bản...

Như thế, đồng minh ở Biển Đông của Việt Nam trong các tranh chấp lãnh hải chắc chắn là nhiều. Và không có gì mà phải lo sợ quá lắm. Hãy để báo chí quốc nội tự do viết như lời của TNS Phi Biazon, rằng “Không có gì phải sợ Trung Quốc”! Mà tại sao lại cấm báo chí Việt Nam lên tiếng?

วันเสาร์ที่ 21 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No319: Vì sao người Việt Nam không thân thiện với người Trung Quốc?





Hôm nay (17 tháng 2) là một ngày nhân dân hai nước Trung Quốc, Việt Nam đều không thể nào quên. Ngày này 30 năm trước, quân đội Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích” Việt Nam trên biên giới Trung Việt. Cuộc chiến tranh này đã trở thành vết thương khó có thể hàn gắn giữa nhân dân hai nước. Nếu bỏ qua cuộc chiến đó để xem xét “Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam” hiện nay, dù là quan hệ nhà nước hay nhân dân, thì sẽ là què quặt, cũng là phiến diện không hoàn chỉnh.

Ba quốc gia có liên quan trực tiếp nhiều nhất tới cuộc chiến đó là Trung Quốc, Việt Nam và Căm-pu-chia có cách nhìn khác hẳn nhau đối với cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam 30 năm trước. Phía Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam quấy rối biên cương Trung Quốc, cho nên Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích”. Phía Việt Nam cho rằng chính phủ Trung Quốc vì để ủng hộ chính quyền Khơ-me Đỏ mà phát động bành trướng xâm lược Việt Nam, thể hiện chiến tranh bá quyền. Phía Căm-pu-chia tuy không tỏ thái độ rõ ràng đối với cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nhưng ngày 7 tháng 1 năm nay đã tổ chức một cuộc mít tinh quy mô chưa từng có tại Pnông-pênh chúc mừng 30 năm ngày nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi ách thống trị của Khơ-me Đỏ. Tại cuộc mit tinh, Chủ tịch Thượng viện Căm-pu-chia Chia-xin cảm ơn Việt Nam “đã cứu Căm-pu-chia”, đánh giá cao bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh to lớn để tiêu diệt chính quyền Khơ-me Đỏ tàn sát nhân dân, và đã kịp thời ngăn chặn được số phận bất hạnh nhân dân Căm-pu-chia tiếp tục bị tàn sát.

Giờ đây chính phủ Trung Quốc đang ra sức làm mờ nhạt cuộc chiến 30 năm trước ấy, không tổ chức bất kỳ bất kỳ hoạt động kỷ niệm chính thức nào. Tại Việt Nam, chính phủ và nhân dân đều tổ chức hoạt động tưởng niệm với quy mô lớn (?) những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến đó, giáo dục người Việt Nam chớ quên cuộc chiến này. Rốt cục trong cuộc chiến tranh ấy ai phải ai trái, ở đây tác giả không muốn bàn thảo. Bao giờ các tài liệu mật được dần dần công khai, sau khi nhìn thấy chân tướng, tự nhiên người ta sẽ hiểu rõ.

Tác giả muốn nhân dịp hôm nay ngày đặc biệt này để nói qua về một số cảm nhận của mình tại Việt Nam, hy vọng qua đó người trong nước sẽ hiểu được tại sao đa số người Việt Nam có thái độ không hữu hảo với Trung Quốc. Để nhìn nhận Việt Nam một cách khách quan, chúng ta nên xuất phát nhiều hơn từ góc độ của mình mà suy nghĩ. Ngoài việc cuộc chiến đó cần thời gian để hàn gắn vết thương giữa nhân dân hai nước ra, hiện nay vấn đề người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc chủ yếu có mấy mặt sau đây đáng để người nước ta cảnh giác và suy nghĩ.

Trước hết, người Trung Quốc chưa hiểu tình hình Việt Nam – đây là một nguyên nhân khiến người Việt Nam ghét người Trung Quốc. Hai nước tuy là láng giềng gần nhau, truyền thống văn hóa và tập quán giống nhau nhưng tuyệt đại đa số người Trung Quốc lại chưa hiểu Việt Nam. Việt Nam là quốc gia nhược tiểu, chính phủ không đủ tài lực, thậm chí việc vận hành của chính phủ hàng năm phải cần đến viện trợ quốc tế. Thế nhưng sự nghèo khó của chính phủ không đại diện cho sự bần cùng của dân chúng. Người Trung Quốc có quan niệm là chỉ cần thấy nước này chỗ nào cũng rách nát, thiết bị hạ tầng cơ sở chưa hoàn thiện, đường phố không rộng rãi tráng lệ thì cho rằng nước này hỏng rồi. Thực ra nhìn bên ngoài không bằng nhìn thực chất. Việt Nam luôn ltheo đường lối giấu ngầm sự giàu có vào dân chúng. Chỉ cần đến thăm nhà thường dân Việt Nam để cảm nhận một chút, bạn sẽ thay đổi ấn tượng về Việt Nam. Hầu như gia đình Việt Nam nào cũng có một căn lầu nhỏ kiểu Pháp của riêng họ, các loại đồ điện gia đình và thiết bị trong nhà không hề ít hơn dân Trung Quốc. Nghèo nữa thì cũng có một chiếc xe máy. Gia đình dân chúng Việt Nam chưa thể coi là giàu có nhưng cũng tuyệt nhiên không nghèo. Tuyệt đại đa số người Trung Quốc từng đến Việt Nam phần lớn chỉ nhìn thấy hiện tượng bên ngoài chứ không phải đời sống thực chất của người Việt Nam bình thường, do đó có sự hiểu lầm về Việt Nam. Ngược lại, người Việt Nam cũng từ xương cốt coi thường một bộ phận người Trung Quốc.

Thứ hai, tâm trạng ưu việt cao ngạo của người Trung Quốc đã làm cho người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc. Người nước ta tự cho rằng thực lực Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam, phần lớn người Trung Quốc khi đến Việt Nam thì có thái độ thiếu thân mật và khiêm tốn với người Việt Nam. Thường xuyên có bạn hỏi tôi: Việt Nam chẳng phải là rất nghèo đấy ư, có phải là ở Việt Nam đi mua hàng phải vác cả bọc tiền to tướng, có phải Việt Nam thừa phụ nữ, có thể lấy mấy vợ cũng được phải không? ... đều là những câu hỏi làm người ta cười gượng. Thực tế Việt Nam khác xa những gì chúng ta tưởng tượng. Chính quyền Việt Nam nghèo, thậm chí rất tham nhũng, song dân chúng Việt Nam không nghèo. Đồng bạc Việt Nam giá trị cao nhất là 500 nghìn đồng, tương đương 200 Nhân Dân Tệ Trung Quốc, ra phố mua hàng đâu có cần vác rất nhiều tiền, thậm chí còn ít một nửa so với người Trung Quốc đi mua hàng. Phụ nữ Việt Nam không nhiều, tỷ lệ nam nữ cơ bản bằng nhau, thậm chí tỷ lệ nam cao một chút, chớ có sang Việt Nam làm giấc mộng lấy mấy cô vợ. Người Việt Nam coi người Trung Quốc không ra gì không phải không có nguyên cớ.

Thứ ba, nhà đầu tư Trung Quốc đến Việt Nam rất bị nghi ngờ về chữ tín. Cuối thập niên 90, rất nhiều người Trung Quốc đến Việt Nam đầu tư, tưởng là ở đấy có thể dễ kiếm được tiền. Khi phát hiện đầu tư trên toàn thế giới đều có cùng một nguyên tắc là “không có đầu tư vào thì không có sản phẩm ra”, kiếm tiền đâu có dễ như tưởng tượng. Thế là người Trung Quốc ào sang như một đàn ong rồi lại ào ào đại rút lui như một đàn ong, rút vốn về nước một cách bất hợp pháp, để lại một đống tạp chứng khó chữa như nợ lương, nợ thuế, nợ vốn với đối tác hợp tác, khiến chính quyền Việt Nam rất đau đầu. Sự thành thật giữ chữ tín của thương nhân Trung Quốc phổ biến bị người Việt Nam nghi ngờ. Cùng sang Việt Nam kiếm tiền, người Nhật, người Hàn Quốc trước lúc đi đã xem xét coi đây là vấn đề khá phức tạp, khi gặp phải các vấn đề tồn tại trong xã hội Việt Nam họ giải quyết dễ hơn người Trung Quốc. Tâm lý quá ư đầu cơ của nhà đầu tư Trung Quốc, thái độ oán trách mỗi khi gặp khó khăn đã gây ra hậu quả người Việt Nam cho rằng người Trung Quốc có độ tin cậy thương mại không cao. Trung Quốc khi đưa vốn ra nước ngoài cũng đem theo những bệnh bất trị vốn có trong xã hội thương mại của mình sang nước ngoài. Điều này không những các nhà đầu tư chúng ta phải suy ngẫm mà chính phủ Trung Quốc cũng nên cảnh giác.

Thứ tư, việc các thương gia Trung Quốc phán đoán sai lầm về thị trường tiêu dùng Việt Nam đã không những làm cho sản phẩm Trung Quốc khó tiêu thụ ở Việt Nam mà cũng tổn hại nghiêm trọng tới hình ảnh và thanh danh của người Trung Quốc. Do hiểu biết lệch lạc về tình hình nội bộ và thói quen tiêu dùng của Việt Nam, cho rằng người Việt không tiêu dùng nổi những sản phẩm chất lượng tốt cấp cao, mà người Trung Quốc chuyển sang Việt Nam những dây chuyền sản xuất lạc hậu bị đào thải trong nước, kết quả thế nào có thể suy ra mà thấy. Nhà sản xuất xe máy Trùng Khánh huênh hoang ở Trung Quốc là đã chiếm được bao nhiêu thị phần thị trường Việt Nam.

Đáng tiếc là người viết bài này ở Việt Nam cho tới nay chưa hề phát hiện thấy một chiếc xe máy Trùng Khánh nào chạy trên đất nước này, dù ở vùng nông thôn tương đối nghèo hay đô thị phồn hoa đều khó mà thấy bóng dáng nó. Trong lòng người tiêu dùng Việt Nam thì hàng Trung Quốc là đại danh từ của “chất lượng xấu”. So với người Trung Quốc, rõ ràng người Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả người Âu Mỹ đánh giá quan niệm tiêu dùng của người Việt Nam chính xác hơn nhiều; ngay từ đầu họ đã đưa hàng chất lượng tốt sang thị trường Việt Nam, giành được sự ủng hộ của người tiêu dùng nước này. Đây cũng là nguyên nhân hàng hóa Trung Quốc ở Việt Nam đại bại trước hàng hóa Nhật Bản, Hàn Quốc và cũng là một nhân tố lớn làm cho người Việt Nam khinh thường (bỉ thị) người Trung Quốc.

Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi sông liền sông, có hơn 2000 năm tiếp xúc văn hóa, thế nhưng sự hiểu biết của chúng ta về Việt Nam lại dừng ở hồi ức trong quá khứ, thiếu con mắt tỉnh táo và thận trọng để nhìn nhận người hàng xóm này, khiến cho giữa nhân dân hai nước hình thành một vết thương khó có thể vượt qua. Đồng thời với việc mất tín nhiệm của dân chúng Việt Nam, chúng ta cũng dần dần chắp tay nhường cho Nhật Bản, Hàn Quốc lợi ích thị trường to lớn ở Việt Nam mà người Trung Quốc vốn dĩ nắm được.

Người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc tuyệt nhiên không chỉ là do cuộc chiến tranh 30 năm trước mà còn nhiều cái nữa đáng để tất cả người Trung Quốc suy ngẫm!

Bài “越南人为何对中国人不友好” đăng trên website Phượng Hoàng (Trung Quốc) ngày 17-2-2009
Nguyễn Hải Hoành lược dịch và giới thiệu. Nguồn: Hội Nhà Văn Việt Nam

วันศุกร์ที่ 20 กุมภาพันธ์ พ.ศ. 2552

No315: Đời Đời Nhớ Ơn quân cướp nước?




Tôi đi thăm La Phù Sơn ở tỉnh Quảng Ðông vào đầu Tháng Hai 2009. Trong sân trước Xung Hư Cổ Quán, một ngôi đền theo Ðạo giáo rất đông đảo khách thập phương, với những lư thắp nhang khổng lồ nghi ngút khói, một người Trung Hoa tò mò hỏi chúng tôi người nước nào. Khi biết chúng tôi là người Việt Nam, anh ta đã lớn tiếng nói, như giải thích cho những người Trung Hoa đứng chung quanh cùng nghe. Tôi nghe lỏm bõm, nhưng biết anh muốn nói rằng họ nên “hữu hảo” với ông già người Việt này. Vì các nước Miến Ðiện, Cao Ly, và Việt Nam cùng với Trung Quốc, bốn nước thực ra chỉ là một nước mà thôi, tất cả cũng như là đồng bào! Anh có dáng điệu mạnh bạo, quả quyết khi đưa tay giảng cho những người đang xúm lại lắng nghe. Nhưng khi nhìn tôi anh có đôi mắt sắc khiến tôi cảm thấy rờn rợn.

Ðúng là vào đời Ðường thì nước ta, Hàn Quốc, Tây Tạng, có lúc đã được nhập vào nước Trung Hoa hàng mấy thế kỷ. Nếu không có Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền, nếu không có Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, thì có thể biên giới Trung Quốc bây giờ lan tới tận Pleiku và Hà Tiên hoặc Xiêm Rệp! Người Quảng Ðông đã từng lập vương quốc Nam Việt khi văn hóa của họ còn khác hẳn người Hán, nhưng bây giờ họ hãnh diện là con dân của Trung Quốc. Nước Ðại Lý cũng là một quốc gia hùng cường, độc lập, cho tới thế kỷ 12 bị quân Mông Cổ xâm chiếm, từ đó người Bạch trở thành người Tầu. Nhưng rất khó giải thích cho người Trung Hoa hiểu rằng dân Việt Nam đã độc lập từ thế kỷ thứ 10, và nhóm người Việt này không bao giờ muốn được hơn một tỷ người Trung Quốc coi là đồng bào cả.

Mười năm trước, tôi đã có lúc thấy cảm giác rợn người giống như vậy, trong một chuyến đi thăm Quế Lâm. Một cô hướng dẫn địa phương đón chào nhóm du khách chúng tôi cũng hỏi thăm mọi người từ nước nào tới. Sau khi cho biết cả đoàn gốc đều là người Việt Nam, mắt cô sáng lên. “Việt Nam?” Cô hỏi, phát âm theo tiếng Việt chứ không gọi là “Duế Nàn” theo tiếng Tầu. Xác nhận rồi, cô bèn nhoẻn miệng cười rất tươi và cất tiếng hát, bằng tiếng Việt: “Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông!” Giọng ca cô rất tốt và hát đúng giai điệu, phát âm tiếng Việt rõ từng chữ!

Nghe câu hát đầy thiện cảm của cô gái xinh đẹp và lịch duyệt đó, tôi cảm thấy ớn lạnh dọc đường xương sống. Nghe hãi thật. Núi liền núi, sông liền sông, đi mấy bước là tới! Có lẽ tôi thuộc loại người dễ xúc động quá nên mới có phản ứng như vậy. Nhưng có lẽ nhiều người Việt cũng sẽ cảm thấy thế sau mấy ngày đi qua các thành phố ở nước Trung Hoa thấy họ đầy những người là người, người đi nờm nợp, người bước ào ào, chen chân nhau trên lề đường, lách tránh nhau trên xa lộ, đông người quá. Và sau khi đã chứng kiến cảnh muôn ngàn người Trung Hoa làm việc, buôn bán, rán dầu cháo quẩy, đẩy xe, rao hàng, mặc cả, tiêu thụ, ăn uống trong nhà hàng, cười nói oang oang, ca hát, nhẩy múa, tập Thái Cực quyền khắp các chỗ đất trống ngoài công viên, bên bờ hồ, ngay ngã tư đường, khắp nơi. Ai cũng phải cảm thấy nước họ lớn quá, dân họ mạnh quá, và đông người quá, cảm thấy điều đó ngay trong da trong thịt muốn tức thở của mình! Nghĩ đến nước Việt Nam mình thì thấy người mình ít, dân lại nghèo, kinh tế còn chậm tiến hơn họ rất nhiều. Khi tai nghe một người Trung Quốc hát câu “núi liền núi, sông liền sông” đúng giọng y như người Việt, thấy hãi quá! Giá như có thêm núi, thêm sông ngăn cách xa hơn một chút, thì chắc yên tâm hơn!

Tôi đoán nếu có người Việt Nam nào sang Campuchia mà hát một bài đại ý, “Việt Nam, Cam Bốt, núi liền núi, sông liền sông” thì nhiều người Campuchia nghe cũng sẽ cảm thấy lạnh gáy, tự hỏi những người Việt này có “ý đồ” gì!

Khi Hồ Chí Minh còn sống, đảng Cộng Sản Việt Nam thân thiện với Cộng Sản Trung Hoa cho nên đã có những bài hát ca ngợi mối tình “trước là đồng chí, sau là anh em” giữa hai đảng, rồi kéo cả nước Việt Nam vào làm anh em hữu hảo với Trung Quốc luôn, di hưởng đến bay giờ.

Trong bài hát của Ðỗ Nhuận có những câu thân thiện, nghe còn rợn người hơn nữa: “Bên sông tắm cùng một dòng - Tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây - Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng. Á a! Chung một ý, chung một lòng - Ðường ta đi rực mầu cờ cách mạng. Á a, nhân dân ta ca muôn năm: Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông!”

Thử tưởng tượng người dân Việt ở Thanh Hóa hay Pleiku mà hát Á a như điệu Hồ Quảng, rồi nghĩ mình có ngày “tắm cùng một dòng sông” và “sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy” cùng với các đồng chí Trung Quốc ở Quảng Ðông, thì cũng hãi thật! Nếu tránh được thì ai cũng cố tránh! Bây giờ đảng Cộng Sản Trung Quốc dù không theo chủ nghĩa nào thì chắc họ cũng không bỏ ý muốn “núi liền núi, sông liền sông!”

Tôi xin xác nhận trong lòng không nuôi mối thù oán nào đối với người Trung Hoa. Trái lại, đi thăm đất nước họ nhiều lần, chỉ vì tôi rất yêu văn hóa Trung Hoa, từ ông Khổng Tử đến các ông Ðỗ Phủ, Lý Bạch, Tô Ðông Pha, cũng như Chiêu Quân, Thúy Kiều. Trong chuyến đi vừa rồi tôi đã “gặp lại” Tô Ðông Pha ở Tây Hồ thành phố Huệ Châu, ở cây cầu Hội Tiên Kiều bên cạnh hồ Bạch Liên ở La Phù Sơn. Cả trong đường hầm với những hang động đào xuyên ngọn núi này, nơi các sư tổ đời xưa luyện công phu và thiền quán, cũng có tượng Tô Ðông Pha nữa! Mỗi lần, lại thấy như gặp cố nhân từ nhiều kiếp trước!

Nhưng người Việt Nam quý mến văn hóa Trung Hoa đến đâu cũng không quên được là phải giữ mình, không nên bất cẩn, nếu không dân mình sẽ thành dân Trung Quốc hết. Và khi chìm trong cái nước vĩ đại đó, cả dân tộc mình sẽ thành một nhóm thiểu số, một nhóm rất nhỏ, giống như người Hồi, người Bạch, người Choang, người Tây Tạng vậy.

Nhiều người Việt Nam thán phục nền văn minh Trung Hoa, chúng ta đã học hỏi được rất nhiều và sẽ còn học thêm nhiều nữa. Nhưng trên mặt chính trị, ngoại giao, thì không người Việt Nam nào không dè dặt, lo ngại khi nghĩ đến chuyện phải đối đầu với quốc gia vĩ đại này.

Một điều nguy hiểm là chính quyền nước đó hiện giờ là một nhà nước độc tài, họ không chịu trách nhiệm với dân chúng. Họ có thể hy sinh dân họ, vì những lý do không ý nghĩa, không bổ ích, mà không lo sẽ bị dân bỏ phiếu bất tín nhiệm. Thí dụ như cuộc chiến tranh Trung Việt năm 1979. Ðặng Tiểu Bình xua quân sang đánh Việt Nam, san thành bình địa những thành thị, những xóm làng, nhiều lần giết tập thể hàng trăm thường dân, chỉ vì muốn dậy cho đảng Cộng Sản Việt Nam một bài học về tội vong ân. Cuộc chiến kéo dài hai, ba tuần làm chết hàng chục ngàn người mỗi bên, cuối cùng không ích lợi gì cho nước Trung Hoa cả. Nhưng không một người Trung Hoa nào dám tỏ ra bất đồng ý kiến với nhà lãnh tụ cộng sản.

Ðứng ở địa vị người dân Trung Hoa thì nếu nước họ không do một đảng độc tài cai trị, nếu họ có quốc hội độc lập để kiểm soát Hành pháp, nếu có báo chí tự do phê phán nhà nước, thì chắc bao nhiêu binh lính của họ không phải bỏ mạng ở Việt Nam vào năm 1979, những cai chết vô ích. Cái hại của những chế độ độc tài là như thế. Cho nên trong lịch sử không thấy những nước theo chế độ dân chủ tự do lại gây chiến với nhau. Khi người dân được quyền phán xét và quyết định thì bao giờ dân cũng tìm cách tránh chiến tranh.

Cái hại của chế độ độc tài ở Việt Nam cũng giống hệt như ở Trung Quốc. Tại sao Ðặng Tiểu Bình muốn dậy Cộng Sản Việt Nam một bài học? Vì Lê Duẩn đã vong ân đối với Cộng Sản Trung Quốc thật. Sau bao nhiêu năm được Bắc Kinh viện trợ từ cây đinh, từ sợi chỉ đến nắm cơm sấy nuôi quân để xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Lê Duẩn đã quay ngược lại, suy tôn Liên Xô là tổ quốc thứ hai, đoạn giao đến mức ghi vào hiến pháp gọi Trung Quốc là một kẻ thù truyền kiếp! Ðó là nguyên nhân chính gây ra tất cả những xung đột giữa hai nước sau đó, kể cả cuộc xâm lăng năm 1979. Nếu Việt Nam được sống trong một chế độ tự do dân chủ thì người dân không bao giờ cho phép chính quyền có những chính sách ngoại giao dại dột như vậy. Gây thù hận và làm mất thể diện một quốc gia lớn láng giềng là điều không thể tưởng tượng nổi. Một chính quyền độc tài đảng trị, khi họ chỉ cần theo ý đảng không cần hỏi đến ý dân, mới có những quyết định điên rồ, để đưa tới một cuộc chiến tranh tàn hại như cuộc chiến Việt Hoa vào Tháng Hai năm 1979.

Một điều đáng kinh ngạc là cũng chính đảng Cộng Sản Việt Nam đó, bây giờ lại đổi thái độ quay ngược chiều, không những kết thân với Trung Quốc mà còn hoàn toàn thần phục, quỵ lụy đến mức lố bịch đối với nước đàn anh cộng sản. Có chứng cớ hiển nhiên.

Ngày hôm qua trên Nhật Báo Người Việt đã đăng tin về cảnh những người Việt được dẫn đi thăm nghĩa trang “Long Châu, Thủy Khẩu Trung-Việt Liệt Sĩ Mộ Viên,” nơi chôn những người lính Trung Quốc chết khi sang đánh Việt Nam, và những người lính Việt Nam bị thương và bị bắt mang về Trung Quốc rồi chết ở đó nhưng không được trả xác về quê hương mình.

Chúng ta kính trọng những tử sĩ hy sinh vì quốc gia của họ, người Việt hay người Trung Quốc cũng thế. Dù họ làm theo lệnh chế độ nào chỉ huy, họ đều xứng đáng được tưởng niệm và ai điếu. Những ai đến biên thùy Pháp Ðức, đi thăm nghĩa trang chôn tử sĩ của hai đạo quân thù nghịch qua bao trận chiến tranh, đều có thể đến nghiêng mình trước những người lính đã hy sinh cho tổ quốc của họ.

Nhưng người Việt Nam khi đến thắp hương trên mộ những tử sĩ của quân đội Trung Quốc có thấy mình phải tỏ lòng “biết ơn” các chiến sĩ Hồng quân Trung Hoa đã sang đánh nước mình hay không? Chắc chắn là không.

Nhất là những người dân xã Ðề Thám, thuộc thị xã Cao Bằng. Hai thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn đã bị quân đội Trung Quốc “làm cỏ” trong hai tuần lễ xâm lăng. Ðài phát thanh BBC mới kể chuyện bà Hoàng Thị Lịch, năm nay 72 tuổi, đã chạy trốn khỏi nhà ở huyện Hòa An, Cao Bằng khi quân Trung Quốc đánh, trước đây 30 năm. Bà cho biết, 18 ngày sau khi quân Trung Quốc phải rút về, họ đi qua vùng bà ở, và họ đã bắt 43 thường dân, gồm những đàn bà, trẻ con, người già không chạy được, đem chém giết hết. Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt đã in bức hình tấm bảng ghi lại cuộc thảm sát này, chôn dưới chân một bụi tre ở xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An. Trong tấm bảng ghi nguyên văn là “Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi, đập chết 43 phụ nữ và trẻ em, quăng xuống giếng nước.” Cảnh tàn sát thường dân không phải chỉ xẩy ra ở xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An. Nơi nào quân Trung Quốc đi qua trong cuộc xâm lăng năm 1979 đều có thể diễn ra những cảnh như vậy.

Bên cạnh hình ảnh tấm bảng đó, hôm qua báo Người Việt in hình ảnh một vòng hoa ở nghĩa Trang Long Môn, với hàng chữ viết: “Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Xã Ðề Thám - Ðời Ðời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc.”

Không tưởng tượng nổi! Nếu vì phép lịch sự khi viếng mộ, người ta có thể viết hai chữ “Kính Viếng” hoặc “Thương Xót” những người đã chết, dù họ từng là kẻ thù của dân tộc mình. Nhưng tại sao phải nói “Ðời Ðời Nhớ Ơn?” Ơn gì? Ơn cướp nước, ơn đốt nhà, phá cầu, phá đường, ơn tàn sát những thường dân vô tội hay sao?

Chúng ta biết rằng chính quyền một xã như xã Ðề Thám không bao giờ dám quyết định viết “Ðời Ðời Nhớ Ơn” những người lính Trung Hoa đã sang giết dân mình. Họ phải được lệnh của cấp trên. Hoặc ít nhất họ đã hỏi ý cấp trên trước khi đặt vòng hoa, và được khuyến khích viết những hàng chữ “Nhớ Ơn” như thế. Cấp trên nào? Cấp huyện? Cấp tỉnh? Không chắc những người ở những cấp này dám quyết định bắt dân chúng Việt Nam “Ðời Ðời Nhớ Ơn” những người lính đã đánh nước mình. Chỉ có những người chỉ huy trên cao nhất, là Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới có quyền quyết định những điều quan trọng như vậy.

Họ quyết định như vậy để làm gì? Có phải cũng vì những lý do giống như khi họ cho các công ty Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Việt Nam, mặc dù các chuyên gia người Việt đã yêu cầu ngưng để nghiên cứu lại ảnh hưởng trên môi trường, hay không?

Nhưng khi bán tài nguyên quốc gia cho nước ngoài một cách mù quáng thì cũng chỉ làm thiệt hại của cải vật chất mà thôi. Còn khi bắt người dân Việt Nam phải “Ðời Ðời Nhớ Ơn” những người lính Trung Quốc đã sang nước mình tàn sát người mình, thì đó là một hành đồng làm nhục cả một dân tộc, một mối nhục ngàn đời khó rửa sạch.

Giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc có muốn người Việt mình phải cúi đầu chịu một mối nhục tập thể hay sao? Nếu là những người có học, chắc họ không làm việc đó. Hay là chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam tự nguyện làm công việc nhục nhã này? Chỉ những người vô học mới có những hành động quỵ lụy ngu dốt như vậy.

Khi các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đi Trung Quốc, không biết các ông ấy đã được giới lãnh đạo Bắc Kinh hứa hẹn những gì mà họ nhẫn tâm bắt dân Việt Nam phải “Ðời Ðời Nhớ Ơn” đám quân xâm lược giết thường dân vô tội đó? Họ có được tặng những biệt thự ở gần Trung Nam Hải để về nghỉ hưu (khi cần sống lưu vong) hay không? Bắc Kinh có yêu cầu Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam lập đền thờ để ghi công ơn của Toa Ðô, Liễu Thăng, nữa hay không? Những ông đó cũng là những “liệt sĩ Trung Quốc” vào thế kỷ 13 và 15, họ cũng bị tử vong trong các hoàn cảnh giống như những “liệt sĩ Trung Quốc” đánh nước ta năm 1979 vậy!

Một chính quyền do dân bầu cử tự do không bao giờ dám làm những việc nhẫn tâm làm nhục dân nước mình đến mức bắt dân phải Ðời Ðời Nhớ Ơn quân xâm lược. Chính quyền nào làm như vậy sẽ bị dân bỏ phiếu đuổi đi ngay. Vì không một dân tộc nào lại chấp nhận sống nhục nhã.

วันอาทิตย์ที่ 18 มกราคม พ.ศ. 2552

No259: Lãnh Thổ, Lãnh Hải Tổ Quốc - Sự Trăn Trở Của Một Số Cựu Chiến Binh Và Giáo Chức Hà Nội

Chúng tôi là một số CCB và giáo chức ở khu vực Hà Nội xin bày tỏ với các lãnh đạo đảng CSVN về những điều phiền muộn của mình trước tình trạng chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc đang có nhiều hiện tượng rất không bình thường và đáng lo ngại.
img
CCB Nguyễn Hữu Thịnh img
Thầy giáo Nguyễn Văn May img
Thầy giáo Nguyễn Thượng Long
img
Thầy giáo Nguyễn Thanh Nhàn img
Thầy giáo Phan Văn Hùng img
Thầy giáo Vũ Mạnh Hùng

Nỗi đau của người Việt Nam trong nước và ngoài nước chưa một phút nguôi ngoai khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ 1974 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc và nước ngoài cưỡng chiếm từ 1988. Để hợp thức hóa cho việc cưỡng chiếm hai quần đảo HS – TS, Trung Quốc ngày …đã có quyết định thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh đảo hải Nam Trung Quốc bao gồm hai quần đảo này của Việt Nam. Nhiều năm qua phía Trung Quốc đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân Việt Nam, những ngư dân vô tội Việt Nam khai thác trên vùng biển thuộc lãnh hải từ ngàn xưa ông cha để lại đã nhiều lần bị tàu hải quân Trung quốc đuổi bắt, bắn giết dã man đặc biệt là vụ 9 ngư dân Hậu Lộc và Hoằng Hóa Thanh hóa bị giết hại, 8 ngư dân bị bắt ngày 8/1/2005… Trung Quốc đã dùng sức ép buộc các công ty Bristish Petroleum của Anh, công ty ExxonMobil của Mỹ phải rút giấy phép thăm dò năng lượng trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt nam … Gần đây Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc ( CNOOC ) thông báo dự án 29 tỷ USD để phát triển các mỏ năng lượng trên suốt vùng biển đông đang bị tranh chấp mà trước đây thuộc hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Theo vietnamnet 10/12/2008, Cục Hải dương Trung Quốc đã họp báo công bố chủ trương khuyến khích các đơn vị, cá nhân khai thác, sử dụng các đảo không có người ở, với mục đích được gọi là “ bảo vệ chủ quyền biển của Trung Quốc ” ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hàng trăm con dân đất Việt đã dũng cảm hy sinh trong nhiều cuộc chiến không cân sức với kẻ ngoại bang để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhưng họ chưa một lần được chính thức tôn vinh công khai. Và thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận được về biên giới lãnh hải của Việt Nam trong mấy thập niên qua đã bị Trung Quốc xâm lấn thì ngày 02/01/2009, trả lời báo Điện tử Vietnamnet Thứ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Dũng đã khẳng định như đinh đóng cột:

“Không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin”. Thấy điều khẳng định đó vẫn còn lỏng lẻo, ông Vũ Dũng còn củng cố thêm: “Những mạng này do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin và những ý đồ khác nhau”. Chúng tôi rất trăn trở về lời khẳng định này.

Trước hết chúng tôi xin được thắc mắc:

● Vì sao rất nhiều SGK, nhiều tài liệu và nhiều thế hệ học sinh được ghi nhận rằng: Diện tích phần đất liền của đất nước là 330.991 km2 và một phần biển có diện tích gấp nhiều lần phần đất liền (Niên giám thống kê 1996) thì lại có rất nhiều SGK in vào những năm 2006 – 2007 lại đưa ra con số 329.297 km2 cho diện tích phần đất liền (Niên giám thống kê 2003). Vậy diện tích 1694 km2 đến 2003 mất đi đâu ? Giải thích thế nào hiện nay SGK 2008 lại đưa ra con số mới cộng cả phần đất liền với phần diện tích các đảo là 331.212 km2 (Niên giám thống kê năm 2006). Vậy chính thức riêng phần đất liền theo niên giám 2006 chúng ta có diện tích là bao nhiêu ?

● Thác Bản Giốc theo ông Vũ Dũng chúng ta chỉ thực sự có chủ quyền ở phần thác phụ, phần thác chính đẹp nhất, hoành tráng nhất lại thuộc về phía Trung Quốc. Trong khi đó nhiều thế hệ người Việt Nam đã được giáo dục là toàn bộ thác Bản Giốc là kỳ quan của Việt Nam, một danh thắng được in hình trong nhiều tranh ảnh, sách vở, tem thư… của Việt Nam. Trong cuốn “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” NXB Sự thật đã ấn hành sau cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã khẳng định : “Tại khu vực mốc 53 xã Đàn Thuỷ - huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó” (Trang 11).

● Khu vực Hữu nghị quan trước kia được gọi là Mục Nam Quan, Trấn Nam Quan, Ải Nam Quan… Ông Vũ Dũng lại tuyên bố tất cả nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc! Trong khi đó cũng theo cuốn sách kể trên lại viết: “Trung Quốc đã phá nát cột mốc 18, xoá vết tích đường Biên giới lịch sử rồi đặt cột km số 0 vào sâu lãnh thổ Việt Nam trên 100 m và coi đó là quốc giới giữa hai nước ở khu vực này”. (Trang 10).

● Chúng tôi thật sự không hiểu nổi Đảng và nhà nước CSVN phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhưng lại ngăn chặn, sách nhiễu, đàn áp, bắt những người dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước một cách ôn hòa như : cuộc biểu tình ngày 9 và ngày 16/12/2007 để phản đối Trung Quốc có quyết định thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; cuộc biểu tình 29/4/2008, phản đối Trung Quốc chính trị hóa việc rước đuốc có liên quan đến việc sát nhập bất hợp pháp hai quần đảo HS - TS vào bản đồ của Trung Quốc.

● Chúng tôi nghĩ: Khẳng định về diện tích lãnh thổ, về vấn đề đường biên giới, vấn đề cột mốc là vấn đề hết sức hệ trọng. Vấn đề đó phải có tiếng nói của nhân dân tức là trưng cầu dân ý. Mặt khác, các quyết định của quốc hội vừa qua (nếu có) cũng không thể coi là hợp lòng dân vì khi thay đổi hiến pháp, thể chế này chưa từng bao giờ trưng cầu dân ý như quy định của hiến pháp đầu tiên năm 1946.

● Chúng tôi cũng như dư luận vô cùng phiền muộn trước vận mệnh của đất nước. Còn nhớ, tháng 12/2007 trong số chúng tôi cùng đứng tên một bức thư kêu gọi người dân có trách nhiệm trước vận mệnh đất nước - khi đó Trung quốc vừa thành lập Tam Sa. Sau đó ít lâu thầy giáo Vũ Hùng ( ở Hà Tây cũ ) đã trở thành người tù lương tâm vì đứng tên trong bức thư đó; nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Phạm Thanh Nghiên (ở Hải phòng ), nhà thơ Trần Đức Thạch (ở Nghệ An ), sinh viên Ngô Quỳnh v.v... đang bị giam giữ cũng vì những lý do tương tự. Chúng tôi tin họ là những người vô tội.

Trong thời khắc hệ trọng này chúng tôi kiến nghị:

1. Sớm công bố chính thức bản đồ phân định biên giới, biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc song song với việc công bố công khai bản đồ phân giới giữa chính quyền thực dân Pháp và triều đình nhà Thanh để đối chứng. Trong gần 100 năm thuộc địa, dưới sự cai trị và bảo hộ của đế quốc Pháp chẳng lẽ đất đai của quốc gia ngày nay khi có độc lập , chủ quyền lại có chu vi và diện tích nhỏ hơn hồi mất hết chủ quyền.

2. Quốc hội, những người có trách nhiệm phải rà soát và huỷ bỏ những điều khoản luật, thông tư, chỉ thị, nghị định, quyết định … không phù hợp với nội dung và tinh thần điều 69 của hiến pháp. Để nhân dân có quyền bày tỏ và thể hiện lòng yêu nước chính đáng một cách hòa bình của mình mà không bị cản trở, ngăn chặn, sách nhiễu …như đã từng chịu đựng khi các cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên và các chiến sĩ dân chủ xảy ra trong những năm qua.

3. Nếu thực sự vì nước vì dân, Đảng và nhà nước CSVN nên cầu thị, tuân theo nguyện vọng của đại đa số ngưồi dân, tôn trọng thế trận lòng dân nhằm nâng cao sức đấu tranh của nhân dân một cách hòa bình và hữu hiệu để đòi lại những phần lãnh thổ, lãnh hải bị lấn chiếm mà vẫn giữ mối tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt – Trung. Đừng cố tình đẩy nhiều thế hệ người Việt Nam hôm nay cũng như mai sau vào những khó khăn không đáng có khi phải tranh đấu đòi lại chủ quyền đích thực của dân tộc mình với những hậu quả để lại tương đương hay nặng nề hơn công hàm năm 1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi ông là đại diện đã đặt quyền lợi của đảng trên quyền lợi dân tộc, quyền lợi của chủ nghĩa cộng sản trên quyền lợi đất nước.

Một số giáo chức và CCB
ở khu vực Hà Đông – Hà Nội
đồng ký tên (14/01/2009)

วันศุกร์ที่ 16 มกราคม พ.ศ. 2552

No254:Những suy nghĩ năm 2009“: nhân sự kiện biên giới phía bắc.


1. Lời mở

Những ngày qua, truyền thông nói nhiều đến sự kiện hai nhà cầm quyền Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố hoàn tất công việc cắm mốc biên giới. Có thể nói đây là chuyện làm nhức nhối tim óc nhiều người trong một thời gian dài qua và cả trong tương lai. Chung nỗi lo lắng và quan tâm sâu sắc với đồng bào, người viết nhờ diễn đàn cho phép được bày tỏ ít điều về sự kiện này.

Trong lưu trữ máy tính của tôi có tập hồ sơ (direction) mang tên “HSTS” – Hoàng Sa và Trường Sa; tại đây, tôi lưu trữ mọi bài và tin liên quan đến biên cương, hải đảo của Tổ Quốc kể cả những bài viết về quan hệ với các nước láng giềng - đặc biệt là Trung Quốc. Tôi đã đọc cẩn thận phần lớn những tài liệu này; nhưng có một số bài, tôi chỉ đọc sơ lược để biết nội dung và lưu trữ lại, vì không đủ thời gian.2 Bao giờ cũng thế, khi đọc và nhớ nghĩ về biên cương hải đảo, tôi đều thấy dội lên từ con tim dòng máu nóng truyền lan cơ thể; không ít lần rơi lệ, không ít lần phải rời màn hình đang đọc để dựa lưng trấn tĩnh. Như hôm nay, đọc trên BBC những lời bàn về cuộc chinh chiến cũ,3 thấy mọi ý kiến đều toát lên tình yêu thương đối với những người đồng bào chết vì nạn xâm lăng, với những chiến sỹ trẻ trai đổ máu xương cho đất nước; thấy hơn một lần câu “thương lắm Việt Nam” được viết lên, tôi đã bấy nhiêu lần thổn thức và để cho lệ nóng tự nhiên rơi... Không, đây không hề là sự yếu đuối! Khi chúng ta còn nói và hiểu nhau những lời “yêu nước, thương nòi” - Ấy là khi tình yêu và niềm tin của ta còn đủ lớn để sinh tồn.4 Biên giới đã được các nhà đương cục tuyên bố xác định; nhưng biên cương còn nhiều hệ lụy. Hoàng Sa - Trường Sa còn đó như lưỡi dao đang cắm nơi tim, nhưng lòng yêu quê hương và ý thức sáng tỏ của mỗi người con dân - đồng bào nhỏ bé chúng ta đã đem lại nhiều sức mạnh cho mỗi con người hơn là sự mờ lú và mê tối của quyền lực.

Đây là những suy tư trong những giờ khắc giao thời giữa những ngày đông giá cuối.

2. Đôi dòng lịch sử

Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đứng đầu chính quyền Trung Quốc đã cho quân sang đánh phá Việt Nam và tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”. Họ lấy tư cách gì để “ra bài học”? Bài học đó là gì? Họ muốn gì? Ta biết (và cần nhớ biết) điều gì?5

Chúng tôi sinh ra vừa kịp để trí óc tuổi thơ ghi lại hình ảnh chiếc máy bay bốn động cơ ném bom của Pháp ì ầm chấn động núi sông trời đất quê hương; để tâm trí còn ghi được hình ảnh những bà mẹ tản cư tất tả với gồng gánh trên vai cùng đứa con thơ và ít quần áo vụn. Chúng tôi lớn lên, đi trường và tâm trí lại tràn ngập tiếng hú xé trời của từng lớp máy bay “thần sấm, con ma” hai chiếc một lao đến thả bom vào cây cầu nơi phố huyện... Những lớp trai trẻ lên đường: Quân trang xanh, vũ khí nhẹ, những khuôn mặt non tơ,... Bao nhiêu đoàn quân đã ra đi? – Như nước! Nhưng bao nhiêu trong số họ đã trở về? ...

Khoảng năm sáu-sáu (1966), chiến tranh ác liệt. Một số địa điểm gần rừng núi đã thấy những nhóm quân Trung Quốc cắm trại và đào hang. Họ đào và mang đi những gì? Họ chôn dấu xuống những gì? – Có lẽ chỉ có những lời giải thích như những tin đồn. Nghe biết chuyện này, ông bác tôi - người có được học ít chữ nho nên làng giao cho việc chăm giữ ngôi đình làng6, chưa từng ra khỏi tỉnh - lẩm bẩm với tôi: Cái bọn Tàu lại sang thì lành ít dữ nhiều, chẳng hay ho gì sất!... Bác nay không còn, nhưng hình ảnh nhỏ bé già nua và lời ấy của ông còn mãi trong tôi. Cái gì đã cho phép một người bình thường như ông nói lời thẳng băng như thế? Sách vở lịch sử hay những lời tiền nhân truyền lại? Điều cần ghi nhớ là sự nhìn nhận của người dân tuy giản đơn mà như từ trong máu thoát ra chứ không cần biện giải dài dòng như những người gọi là “có học” chúng ta. Cảnh giác với Tàu là bài học của cả ngàn năm, cho cả ngàn năm và cho cả ngàn đời!

Thế giới các nước Cộng sản chủ nghĩa đã có một thời hùng mạnh. Lúc đó, người cán bộ tuyên giáo mạnh mẽ nói: Chuyên chính vô sản của chúng ta trải rộng từ bờ sông Bến Hải đến bức tường Bé Linh... Hãy khoan bàn những điều lớn như “giấc mơ chủ nghĩa cộng sản”; cũng khoan nói đến “những bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế” - giản đơn vì quá tầm người viết; Xin nhớ lại chút lịch sử.

Chiến tranh Triều Tiên là đụng độ lớn giữa phe Cộng sản và phe Tư bản. Trung Quốc lấy danh nghĩa “viện Triều kháng Mỹ” để đưa quân vào; Liên Xô tham gia bí mật bằng những phi đội MIG 15 lừng danh thế giới.7 Cùng với việc “quản lý bầu trời”, người Nga còn huấn luyện các phi công Trung Quốc, Triều Tiên và sau đó giúp người Tàu chế tạo chiến đấu cơ MIG các loại. Trước đó, người Nga đã trao cho quân Giải phóng Nhân Dân Trung Quốc số vũ khi thu được của đội quân Nhật Quan Đông. Sau này người Nga cũng chuyển giao công nghệ chế tạo bom nguyên tử cho người Tàu mà nghe nói đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết cấp kỳ của Đại Nguyên soái Tư-đại-lâm (Stalin). Hai nước lớn (Nga, Tàu) còn tiếp tục là đồng minh chiến lược hay không? Việc này cũng xin không dám lạm bàn; nhưng những đụng độ quân sự tầm cỡ ở biên giới Trung-Nga thì đã là sự thật. “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” chỉ là sự cần thiết trong cuộc chiến giành chính quyền. Khi chính quyền đã được “dựng lên từ nóng súng”, nó phải dùng súng đó để giữ và (nếu có thể thì) mở rộng lãnh thổ nơi nó nắm quyền. Tình hữu nghị dù có được nạm bằng vàng cũng chỉ là câu đầu môi chót lưỡi! 8 “Bài học” của Đặng Tiểu Bình có thể có nhiều hoa lá; nhưng thẳm sâu trong tim đen của những người Tàu chỉ là điều đó mà thôi!

Trở lại cuộc chiến Việt Nam.

Sự trợ giúp của nhân dân Trung quốc là to lớn, nhưng quyết tâm của lãnh đạo Trung quốc là “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.9 Ngoài quần áo, lương thực, người Tàu còn giúp đào tạo công nhân và học sinh.10 Khi những người thực tập sinh Việt Nam nói: “Xin các đồng chí cứ trao quy trình làm mũ cối cho chúng tôi để chúng tôi làm lấy”; thì được giả nhời: “Các đồng chí cần bao nhiêu chúng tôi cũng có thể cung cấp; còn quy trình là vấn đề khác không thể,... vân vân.” Các kỹ thuật viên một nhà máy dệt ở Vĩnh Phú không thể có được công thức pha chế màu khi các chuyên gia “bạn” rút đi. Và, ... vân vân thêm nữa.

Năm Chín-sáu (1996), miền nam nước Đức.

Lưu có lẽ là anh bạn Tàu duy nhất làm cùng xí nghiệp; nhỏ, chăm, ít nói nhưng ẩn chứa nghị lực trong cái vẻ ngoài điềm đạm. Xuất xứ miền nam và nét người anh ta gợi ý tưởng về giòng giống nào đó trong Bách Việt. (Tôn Trung Sơn cũng gốc miền nam và từng nổi cáu khi một ký giả “tỉa tót” giọng điệu đại Hán của ông bằng cách nêu lên cái gốc gác này). Sau chuyến cùng gia đình về quê nghỉ phép năm, anh ta đi làm lại và kể ít nhiều về chuyến đi nghỉ ấy. Vẫn điềm đạm, nhưng không giấu hết sự hứng khởi trong ánh mắt và giọng nói, anh ta kể: “Chúng tôi đã đến nghỉ ở vùng Bản Giốc, biên giới với Việt Nam. Trước đây thác này của Việt Nam; bây giờ một nửa thuộc về Trung Quốc ...” Nghẹn, uất; nhưng biết làm sao?! Nó (có thể) lú, nhưng chú nó khôn! – Có thể “bốn phương vô sản đều là anh em”, nhưng cha ông chẳng từng đã dạy “anh em kiến giả nhất phận” đó sao? Cho nên “bên đây biên giới là mình”, mà “bên kia biên giới cũng tình quê hương” thì chắc chắn rất đáng nghi ngờ, phải xem xét lại!

3. Xem lại sử nhà

Lịch sử dựng nước và giữ nước của Dân tộc Việt Nam có thể nói là những trang oai hùng xứng đáng tự hào. Từ khi lập quốc đến Đinh Bộ Lĩnh xưng hiệu “Hoàng-Đế” là đã thể hiện tư tưởng “riêng một biên thùy” của Triệu Vũ vương; đến Lê Đại Hành giả vờ đau chân mà cũng để cho sứ Tàu biết rằng mình không quỳ nhận chiếu là tiếp nối ý chí đó. Nhà Lý, ngoài việc Lý Thường Kiệt - “chờ giặc đến không bằng đem quân đánh trước” - phá tan kế hoạch xâm lăng của người Tàu, đã dùng lý lẽ (trạng nguyên Lê Văn Thịnh) thu lại vùng đất bị mất. Lê Thánh tông đã để lại lời dạy muôn đời cho những người cầm quyền: Một tấc đất của Tổ tiên các ngươi cũng không được để mất vào tay giặc. Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ với sách lược của mình cũng đã làm người Tầu nguôi ngoai ý đồ nhòm ngó phương Nam. Dưới đây xin trích dẫn đoạn lịch sử về đức Thánh Trần (Trần triều Tiết chế, Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn) (Viêt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, phần 3, chương 9, mục 2 - bản điện tử Việt Nam Thư Quán; những chỗ ghi đậm là do chúng tôi nhấn mạnh):

Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh Tông thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhận thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng: "Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang thì làm thế nào?"

Hưng Đạo Vương tâu rằng: "Nước ta thuở xưa, Triệu Võ Vương dựng nghiệp, Hán Đế đem binh đến đánh, Võ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Tràng Sa dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời. Đến đời Đinh, Lê, nhiều người hiền lương giúp đỡ, bấy giờ nước Nam đang cường, vua tôi đồng lòng, bụng dân phấn chấn; mà bên Tàu đang lúc suy nhược, cho nên ta đắp thành Bình Lỗ (thuộc Thái Nguyên) phá được quân nhà Tống, đó là một thời. Đến đời nhà Lý, quân Tống sang xâm, Lý Đế sai Lý Thường Kiệt đánh mặt Khâm, Liêm, dồn đến Mai Lĩnh, quân hùng, tướng dũng, đó là có thế đánh được. Kế đến bản triều, giặc Nguyên kéo đến vây bọc bốn mặt, may được vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại mà đánh, mới bắt được tướng kia, cũng là lòng trời giúp ta mới được thế.

Đại để, kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì cậy có đoản binh; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải như thế. Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị; thì ta nên kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh phải dồn lòng như cha con một nhà, thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả."

Anh Tông chịu lời ấy rất là phải. Được mấy hôm thì ngài mất, vua cùng các quan ai nấy đều cảm thương lắm.

Chúng tôi nghĩ những điều trích dẫn trên đây thật đã rất sáng tỏ. Điều đáng để suy ngẫm là khi coi đất nước là di sản của tiền nhân, khi coi mình là những người nối dõi, mỗi người Việt Nam – từ dân thường đến quan to quan nhỏ – trong những ngày tháng Ba giỗ Tổ Hùng vương và tháng Tám giỗ Cha - đức Thánh Trần, hãy kính cẩn trước Tổ tiên và nói: Tôi không quên lời dạy, tôi không làm hư bại danh thơm Tiên-Tổ, tôi không làm mất mát đất đai, sông biển quốc gia.11 Lời này không nhất thiết phải đưa lên truyền thông hay báo giới, bởi lời khấn nguyện đó phải là lời nói tự tâm can!

Truyền thuyết Việt Nam có chuyện một con voi trong đàn bách tượng bị phạt vì phản phúc. Đó là việc rất đau lòng, nhưng dân Việt vẫn truyền cho nhau để nhắc rằng con voi phản phúc vẫn chung giòng máu với đàn voi. Tinh thần văn hoá đó đáng được suy ngẫm vì nó giúp cho tộc Việt trường tồn.

4. Tạm kết

Quan sát sự hình thành và tan vỡ của khối xã hội chủ nghĩa cùng việc xem xét lịch sử, chúng ta có thể xác quyết rằng quốc gia là hình thức tổ chức sinh tồn cơ sở của các cộng đồng dân tộc; ý nghĩa của nó chẳng những không mất đi mà còn cần được nâng cao trong tiến trình hội nhập toàn cầu hoá. Trong tinh thần nhận thức đó, việc quy trách nhiệm cho người cầm quyền về việc giữ gìn biên cương lãnh thổ - bên cạnh trách nhiệm chăm lo cho người dân được sống yên bình, tự do và hạnh phúc - là điều tất yếu. Không làm đủ trách nhiệm đó, những người nắm quyền không còn tư cách lãnh đạo quốc gia.

Trong tiến trình lịch sử, con người và quốc gia luôn phải biến đổi cách mạng để đáp ứng cạnh tranh sinh tồn. Tiền nhân đã làm công việc quan sát, đúc kết và để lại những bài học chuẩn xác. Để giải phóng dân tộc, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã phải “ngẫm trước đến nay, thế hưng phế đắn đo càng kỹ”. Đạo Phật trong giao lý của mình cũng tổng kết những biểu hiện suy thoái – “Ngũ suy tướng” (trích dẫn, suy luận sơ lược):

1. Trang phục dơ dáy (hình ảnh quốc tế thảm hại),
2. Hình thức nhầu như cành hoa tàn (hết hấp dẫn người dân),
3. Thân xác hôi hám (tham nhũng, đàn áp),
4. Thường ra mồ hôi (skandal các loại),
5. Không thích ngôi vị của mình (không còn đạo đức tư cách của danh vị mình giữ).

Nhà cách mạng vĩ đại Lênin nêu ra các điều kiện thành công của cách mạng (đại thể):
- Giai cấp tư sản không còn khả năng nắm quyền,
- Giai cấp vô sản đã trưởng thành,
- Đội tiền phong (ĐCS) sẵn sàng hy sinh.

v.v..

Tại sao đảng Cộng sản Việt Nam, với công lao đáng tự hào trong việc tham gia cách mạng giải phóng và thống nhất quốc gia, ngày nay lại bị phê phán và chán ghét? Với tất cả những phơi bày trong thời gian đã đủ dài, ta có thể nhận xét: đảng Cộng sản đã hết vai trò tiên phong, quy trình toàn trị làm cách mạng lật đổ và trấn áp không còn thích hợp cho sự phát triển của xã hội. Những phê phán - như “tại lỗi hệ thống”, etc. - chỉ là một cách nói khéo; những chỉnh sửa như “đổi mới kinh tế” chỉ là đối sách không hoàn chỉnh. Tiếp tục cách tư duy mòn cũ dẫn đến những hậu quả bi thương cho người dân và Dân tộc, những người hiện nắm quyền lực đã tự ghi tên mình vào danh sách “những đứa con hư”12 . Nhìn nhận như vậy là chúng tôi nghĩ đến triết lý nhân ái, bao dung của Dân tộc Việt: Con hư tại Mẹ - thay con tự gánh nỗi đau. Người mẹ Việt Nam nào cũng thương yêu con và sẵn sàng tha thứ. “Hồi đầu thị ngạn” - Trở về trong lòng Dân tộc, những người cộng sản có được sức mạnh của cả gần trăm triệu người dân, đủ để không phải loay hoay bán đất trời, sông biển!

Xã hội Việt Nam đang có những đòi hỏi cải cách rất lớn để phát triển mà trước hết là trong văn hoá, tư tưởng và tổ chức. Lãnh đạo Việt Nam không đáp ứng nhu cầu đó của xã hội; sự đổi mới mang tính cách mạng rõ ràng là cần thiết. Qua lịch sử đau thương của mình, người dân Việt Nam không muốn có cuộc cách mạng theo con đường bạo lực, chiến tranh; có điều, niềm tự hào chính đáng và ước mơ sống trong danh dự thôi thúc con người góp sức vào cuộc chuyển đổi. Tin tưởng vào quy luật lịch sử, chúng ta hy vọng những đen tối sẽ qua đi để ánh sáng cuộc sống lại bừng lên (Nhật nguyệt hối rồi lại minh). Nhưng lịch sử cũng sẽ lưu giũ những đen tối ngày nay cùng tên tuổi những người chịu trách nhiệm để làm bài học cho hậu thế sau này.

Mỗi ngày đều có cái mới thì mỗi năm phải có điều mới lớn hơn!


1Tựa bài "Biên Cương": Bài số 1 trong “Suy tư 09 - Những suy nghĩ năm 2009“: nhân sự kiện biên giới phía bắc.
2Những bài hay như của nhà báo Bùi Tín, nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, Nhà văn Bùi Minh Quốc, ... Nhưng những lời ngắn gọn như ý kiến trích dẫn sau đây cũng không kém phần giá trị và truyền cảm.
3Bài viết „Phnom Penh còn nhớ”, 07 Tháng 1 2009 - Cập nhật 06h44 GMT
4Tình yêu và lời thề thoát lên từ trái tim thì không cần đến những định nghĩa hay quy định!
5Lời một bài hát thời đó:
Quân xâm lược bành trướng dã man,
đã giày xéo mảnh đất tiền phương;
Lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải quê hương....
6Thờ chân nhang rước về từ đền đức Thánh Trần; được các vua triều Nguyễn ban sắc phong.
7Động cơ Roll Roy của Anh quốc.
8Sir Williams (?): Không có kẻ thù vĩnh cửu, không có tình bạn muôn đời; chỉ có lợi quyền quyết định!...
9Hay cũng có thể nói là triệt để lợi dụng việc người Việt Nam đánh Mỹ và đánh nhau; chưa kể việc ngăn chặn, bớt xén hàng viện trợ của Nga cung cấp cho Việt Nam.
10Không nói đến việc đào tạo các "mầm non lãnh đạo“, vì việc này theo một quy trình khác.
11Cụ Hồ, sau khi ký tạm ước ngày 6 tháng Ba năm 1946 với người Pháp, đã đứng trước quốc dân tuyên bố: Hồ Chí Minh không bán nước.
12Chúng tôi không dùng chữ "con hoang của ngoại bang“, vì nếu thế sẽ tệ hại hơn nhiều.

วันศุกร์ที่ 2 มกราคม พ.ศ. 2552

No218: Một số vấn đề biên giới Việt - Trung cuối năm 2008

1/ Vài nhật xét về buổi lễ cắm mốc số 1116 tại cửa khẩu Hữu Nghị ngày 22 tháng 12 năm 2008.

Ngày 22 tháng 12 vừa qua cột mốc mang số 1116 tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Nam Quan) được cắm. Buổi lễ cắm mốc diễn ra long trọng, có mặt của đại diện bộ Ngoại Giao hai nước Việt – Trung. Phía Việt Nam do ông Vũ Dũng, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao làm trưởng đoàn. Báo chí trong nước đăng tải rầm rộ với tít lớn nơi trang nhất: Hoàn thành phân giới và cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc trong năm 2008: Việt - Trung đã xác định đường biên giới rõ ràng.

Nhân dịp này ông Vũ Dũng cho biết :

- Việc cắm cột mốc số 1116 đã đánh dấu công tác phân giới và cắm mốc (PG&CM) biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc đang tiến tới đích cuối cùng, hoàn thành công tác này trên thực địa trong năm 2008, đúng như lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận.

Đây là cầu nối hết sức quan trọng trong giao thương, phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc nói riêng và Trung Quốc với cộng đồng ASEAN nói chung. Việc hoàn thành phân giới và cắm mốc tại cửa khẩu Hữu Nghị sẽ tạo điều kiện cho hai bên hoàn thành việc đấu nối 2 tuyến đường cao tốc Nam Ninh - Bằng Tường và Lạng Sơn - Hà Nội trong thời gian tới.

Một câu hỏi liên quan thời điểm kết thúc công tác cắm mốc được Ông Dũng trả lời :

Hiện nay, 6/7 tỉnh của Việt Nam là Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn đã hoàn thành công tác PG&CM trên thực địa; tỉnh Cao Bằng còn một số vị trí mốc chưa cắm. Hai bên đang khẩn trương hoàn thành việc xác định và cắm các mốc còn lại trong tháng 12 này.

Công việc phân giới vẫn chưa hoàn tất nhưng báo chí loan tin rầm rộ với cái tít thật lớn “Hoàn thành phân giới và cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam”, việc này không hề đúng với thực tế. Buổi lễ được tổ chức long trọng nhưng rất gượng ép, không khác một đám cưới chạy tang. Nó cũng trở thành buổi lễ khánh thành việc : “nối tuyến đường cao tốc Nam Ninh – Bằng Tường – Lạng Sơn – Hà Nội”.

Người ta có cảm tưởng nhà nước CSVN treo đầu heo bán thịt chó, công tác rao bán được giao cho tập đoàn báo chí !

Nhưng mỉa mai là tuyến đường này cũng chưa làm xong. Thịt chó vì vậy cũng là chó vẽ.

Nhiều người đã nói việc mở các tuyến đường (xe lửa và đường bộ) Nam Ninh – Lạng Sơn - Hà Nội và Côn Minh – Lào Cai – Hải Phòng là chỉ làm lợi cho phía Trung Quốc. Kết luận này không phải không có căn cứ. Thời Pháp thuộc, nhà nước thực dân đã xây dựng đường xe lửa từ Hải Phòng đi Côn Minh (thủ phủ Vân Nam) do ý kiến của ông Paul Doumer (Toàn Quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902). Công trình này hao tốn rất nhiều cho ngân sách nhưng đã không tạo ra lợi lộc mà chỉ tạo sự phồn thịnh cho Hồng Kông.

Nhiều người khác cũng nói việc mở đường chỉ tạo sự dễ dàng cho TQ đem quân sang xâm lăng VN. Điều này có thể đúng, nhưng việc không sai là các tuyến đường này sẽ mở cho hàng hóa Trung Quốc tràn ngập Việt Nam. Các tuyến đường chưa mở mà kinh tế VN đã điêu đứng. Mở ra thì chưa biết sẽ còn thê thảm ra sao ?

Điểm quan trọng khác, trên quan điểm “địa lý chính trị”, có 3 yếu tố cấu thành “tương quan lực lượng” giữa hai bên, gồm có : con người, tiền bạc và văn hóa. Trong đó yếu tố quan trọng nhất là yếu tố con gười. Cả ba yếu tố này TQ đều vượt trội VN. Về tiền bạc và văn hóa TQ đã thống trị VN. VN ngày nay còn giữ được độc lập phần nào là do yếu tố con người. Văn hóa (và con người) Tây Tạng, Mông Cổ… đã bị tộc Hán đồng hóa hầu như hoàn toàn. Hiện nay hầu hết các nước Đông Nam Á, không mặt này thì mặt khác, đã bị Hán hóa. Tân Gia Ba là một tiểu quốc của người Tàu. Kinh tế các nước trong khối ASEAN hầu hết đều do người Hoa nắm giữ. Một trong những mục tiêu chiến lược của TQ, đã được tiết lộ từ đầu thiên kỷ, là trong một vài thập niên các nước ASEAN sẽ được lãnh đạo do các thành phần người gốc Hán. Điều này đã và đang xảy ra tại Thái Lan : ông Thaksin Shinawatra, cựu thủ tướng là người Thái gốc Hoa. Ông Abhisit Vejjajiva, thủ tướng mới cũng là người Thái gốc Hoa. Đặc biệt hai ông thủ tướng này nổi lên từ các cuộc bầu cử dân chủ tự do, trung thực nhất trong lịch sử nước Thái.

Việc mở đường Hà Nội – Lạng Sơn - Nam Ninh và Hải Phòng – Lào Cai - Côn Minh, cộng với chính trị “không cần visa” của nhà nước CSVN ưu đãi cho người TQ, cũng không bao lâu VN sẽ trở thành “một thành phần” của TQ. TQ sẽ chiếm lĩnh vùng Đông Nam Á không tốn một viên đạn ; bởi vì họ là bậc thầy trong việc “cài người”.

Trở lại vấn đề, cắm mốc chưa xong, tuyến đường chưa hoàn tất, nhưng buổi lễ vẫn long trọng cử hành. Để đánh dấu cho cái gì ?

VN luôn tạo cho người ta thấy tình trạng nóng vội của mình. Điều này cho thấy đảng CSVN đang cố gắng mọi cách làm hài lòng cho đàn anh Trung Quốc.

Xem ra bộ Ngoại Giao của nhà nước CSVN ngày càng “xuống cấp”. Đã chạm đáy của lố bịch hay chưa ? Báo chí cũng thế, đều là một tập đoàn lá cải, chỉ loan tin vịt, đánh lừa dư luận.

2/ Tình trạng phân giới khu vực Hữu Nghị Quan.

Một câu hỏi liên quan khu vực Hữu Nghị Quan được ông Dũng trả lời như sau:

- Do hạn chế của điều kiện lịch sử, các văn bản pháp lý về hoạch định và PG&CM giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rõ ràng, đặc biệt tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới tại khu vực này.

Chính vì vậy, tại khu vực này đã xảy ra tranh chấp rất phức tạp và kéo dài. Hiệp ước 1999 đã xác định đường biên giới đi qua Km0, qua mốc 19 cũ do Pháp và nhà Thanh cắm và qua điểm nằm cách điểm nối ray 148m về phía Bắc. Ông Dũng đã cho biết đường biên giới khu vực Hữu Nghị quan đi qua cột km zéro, qua mốc 19 cũ và qua điểm cách điểm nối đường ray xe lửa 148m về phía Bắc.

Hình 1
Cột kilo mét zéro không phải là mốc biên giới. Mốc biên giới cũ mang số 18, cách cổng Nam Quan 100m. Theo hình chụp dưới đây (nguồn phổ biến trên mạng internet) thì Hữu Nghị Quan là nhà hải quan của TQ, mái tròn, màu xanh, được xây cất mới sau này (Hình 1). Đây không phải là Nam Quan. Nhà này cách cổng Nam Quan về phía nam, ước lượng trong hình khoảng trên dưới 100 m. Nơi đây có thể là vị trí cột mốc số 18 cũ. Đường biên giới lý ra phải đi qua chỗ này. Cột ki lô mét zéro, do ông Phạm Văn Đồng dựng vào đầu thập niên 60, ở xa về phía nam, cách tòa nhà mái tròn của hải quan TQ ít nhất 300 mét. Đứng chụp hình từ cột km zéro (Hình 2) không thấy tòa nhà hải quan của TQ. Như thế đường biên giới tại đây lấn qua Việt Nam ít nhất 300m.

Hình 2.
Theo bản đồ khu vực 249C (khu vực Hữu Nghị Quan – Hình 3) đính kèm hiệp định 1999 sau đây thì đường biên giới đi qua cột mốc 19 nhưng sau đó đi về phía nam tạo thành một lỗ trũng, thay vì theo hướng đông đông - bắc như bản đồ SGI. Cột mốc 19, theo bản đồ của sở Địa Dư Đông Dương (SGI 1954, 1/100.000), vẽ theo công ước Pháp-Thanh, là nơi đường xe lửa đi qua – tức là điểm nối đường ray hai nước (Hình 4). Tại đây, theo ông Dũng, đường biên giới mới lấn về phía Việt Nam 148m.

Hình 3.
Như thế việc mất đất vùng Nam Quan là việc có thật. Có nơi lấn vào trên 300m, có nơi mất 148m… Ông Dũng đỗ thừa việc này do “hạn chế lịch sử”, là do các văn bản pháp lý về hoạch định và Phân Giới & Cắm Mốc giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rõ ràng.

Hình 4.
Nhưng thực tế các văn bản này có “không rõ ràng” hay không ?

Cột mốc cắm tại Nam Quan, theo biên bản phân định số 4, ký ngày 7 tháng 4 năm 1886 :

”La Commission de Délimitation Franco-Chinoise a reconnu, le sept avril mil huit cent quatre –vingt - six, qu’à partir du point situé à cent mètres en avant de la Porte de Nam-Quan, sur la route de Nam-Quan à Ðồng-Ðăng, la frontière remonte à l’Ouest jusqu’au sommet de la montagne rocheuse sur lequel est situé le fort marqué A sur le croquis ci-joint, suit à partir de ce fort le haut de la muraille rocheuse qui domine la route de Ðồng-Ðăng jusqu’au point marqué B sur le croquis. Ce point B se trouve à l’endroit où le sentier qui, se détachant de la route de Ðồng-Ðăng à Nam-Quan, conduit au village de Lung-Ngieu, coupe la muraille rocheuse. Elle suit ensuite ce même chemin jusqu’au la Porte du village de Lung-Ngieu. A partir de cette Porte elle reprend le haut des rochers qui contournent le cirque du village de Lung-Ngieu pour arriver à un point marqué C. Du point C elle se dirige à l’Ouest jusqu’à la Porte de Kida…”

Tác giả tạm dịch và chú giải thêm như sau:

"Ủy ban Pháp - Trung Phân định Biên giới nhìn nhận, nhằm ngày Bẩy tháng Tư năm một ngàn tám trăm tám mươi sáu, từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (cột số 18 – tác giả), đường biên giới theo hướng Tây đi lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có cô sự đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây, sau đó đường biên giới từ điểm này theo đường đỉnh cao của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng Ðăng cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ (cột số 17 – tác giả). Ðiểm B là điểm mà con đường mòn - đường mòn này là một nhánh rẽ của con đường Ðồng Ðăng đi Nam Quan - dẫn đi đến làng Lung Ngieu (Lũng Ngọ 隴午, còn viết là Lộng 弄 – tác giả) cắt bức tường núi đá. Ðường biên giới theo con đường mòn cho đến cổng làng Lung Ngieu. Từ cổng, đường biên giới đi lên ngọn rặng núi đá bọc quanh thung lũng làng Lung Ngieu để đi đến điểm C (cột số 16 – tác giả). Từ điểm C đường biên giới đi về hướng Tây cho đến cửa Ki Da (trên bản đồ ghi Khua-Da, có lẽ là Cửa Du, tức ải Du)…”

Xem thêm tại : http://www.talawas.de/ ngày 21 tháng 10 năm 2008.

Biên bản cắm mốc, đoạn từ Chí Mã đến Nam Quan. Dòng cuối: "à 100m en avant de la porte de Nam Quan sur le chemin de Dong Dang”. Biên bản ngày 19 tháng 6 năm 1894 xác định rõ rệt vị trí các cột mốc đã cắm vùng Quảng Tây.

Vị trí cột mốc 18 xác định đường biên giới tại Nam Quan mô tả như thế không thể rõ ràng hơn. Hướng đi của đường biên giới cũng được mô tả rõ rệt theo biên bản ở trên.

Việt Nam không chỉ mất 300m trước Nam Quan hay 148m tại điểm nối ray. Đối chiếu với bản đồ SGI và khu vực 249C đính kèm ta thấy Việt Nam bị mất thêm khu núi đá đối diện phía Bắc của Đồng Đăng. Trên khu núi đá này người Pháp ngày xưa có xây công sự, nay nó thuộc về TQ. Theo bản đồ SGI, đường biên giới cũ cách Đồng Đăng khoảng 1.800m theo đường chim bay. Hiện nay đường biên giới đi sát Đồng Đăng, không tới 100m. Từ trên núi người Tàu có thể quan sát mọi động tĩnh ở Đồng Đăng. Thời Pháp, Đồng Đăng được bảo vệ do các công sự trên núi đá về phía bắc. Ngày nay Đồng Đăng bỏ ngõ, TQ muốn “tiếp thu” lúc nào chẳng được ?

Việc mất đất khu vực Nam Quan không thể do “các văn bản pháp lý về hoạch định và PG&CM (phân giới và cắm mốc, tg) giữa Pháp và nhà Thanh có những điểm quy định không rõ ràng” như ông Dũng đã nói. Các biên bản cắm mốc theo tinh thần công ước Pháp - Thanh 1887 và bộ bản đồ SGI thành lập hiện vẫn còn được tồn trữ tại trung tâm Văn Khố Hải Ngoại Pháp (CAOM) tại Aix-en - Provence (Pháp Quốc). Chứng cớ còn nguyên đó, ông Dũng không thể nói theo chỉ thị. Đây là việc mà lãnh đạo CSVN sẽ phải trả lời trước quốc dân và lịch sử.

3/ Vấn đề bãi Tục Lãm.

Theo một số tin tức thì Việt Nam đã nhượng bãi Tục Lãm cho TQ. Xem http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=21094 .

Bãi Tục Lãm ở đâu ? bãi này thuộc về ai ?

Theo tài liệu http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.chinhtri.quanhenhandan.42402.qdnd thì bãi Tục Lãm là khởi điểm của 3.200km chiều dài bờ biển Việt Nam từ bắc vào nam. Tài liệu này cũng nhắc nơi đây đã có tranh chấp gay gắt. Hồi ký của ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng bộ Ngoại Giao cũng có nhắc đến vụ tranh chấp ở Lục Lầm, Quảng Ninh.

Theo bản đồ Móng Cái http://www.mongcai.gov.vn/index.aspx...&page=1&id=159 Tục Lãm thuộc xã Hải Hòa, là phần đất giữa sông Ka Long và phụ lưu hữu ngạn của nó là sông Lục Lâm. Xã Hải Hòa được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Hải Xuân, có diện tích tự nhiên là: 3.891,52 ha. Phía Đông giáp phường Trà Cổ, phía Tây giáp phường Trần Phú, phía Nam giáp xã Hải Xuân, phía Bắc giáp Trung Quốc. Dân số: 8.452 người. Có 5 dân tộc gồm: Kinh, Mường, Tày, Sán Dìu, Hoa. Xã Hải Hòa có 13,5km chiều dài đường biên giới chung với Trung Quốc.

Trên bản đồ SGI 1/100.000 sau đây, vùng Tục Lãm tương ứng với địa danh Lục Lâm. Vì thế chiếu theo công ước 1887 vùng Tục Lãm (Lục Lâm) hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

Vùng biên giới giữa tỉnh Hải Ninh (Quảng Ninh ngày nay) được xác định theo biên bản phân giới ngày 15-4-1890 và biên bản ngày 21-12-1893 của công ước 1887. Biên bản 15-4-1890 có xác định vị trí của 20 cột mốc biên giới (10 trên lãnh thổ VN và 10 trên lãnh thổ TQ) nhưng thực ra không hữu ích thực sự vì đường biên giới ở khu vực này là sông Ka Long. Đã được xác định là dòng sông thì các cột mốc không còn quan trọng. Điều ước đáng chú ý nhất của văn bản này có nguyên văn như sau:

”Conformément aux conventions admises par les deux Commissions dans la séance d’ouverture des travaux, le 1er Novembre 1889 - 9e jour de la 10e mois de la 15e année de Kouong-Siu, on prendra toujours pour frontière le chenal navigable, c’est à dire le plus profond de la rivière formant la limite des deux Etats.

Si, par suite de crues ou de baisses des eaux, le chenal navigable se déplace et si des bancs ou ilots nouveaux viennent se former, la frontière se trouvera reportée naturellement dans le nouveau chenal navigable et les bancs ou ilots de nouvelle formation appartiendront à la puissance du côté de la quelle ils se trouveront”.

Tác giả tạm dịch như sau :

”Chiếu theo các công ước đã được hai ủy ban công nhận trong phiên họp khai mạc công trình phân giới, ngày 1 tháng 12 năm 1889 nhằm ngày 8 tháng 10 năm Quang Tự thứ 15, người ta luôn chọn đường biên giới là đường nước tàu bè lưu thông, có nghĩa là phần sâu nhất của dòng sông, là đường giới hạn giữa hai nước.

Nếu sau này, vì ngập lụt hay vì cạn nước, đường tàu bè thông lưu thay chỗ, và nếu những dãi đất hay các cù lao được thành hình, đường biên giới sẽ đương nhiên dời qua đường tàu bè thông lưu mới và những dãi đất hay cù lao mới thành hình sẽ thuộc về nước mà phía bờ của nó ở đó”.

So sánh hai bản đồ SGI và Móng Cái đính kèm, ta thấy hai bản đồ phù hợp hầu hết mọi nơi, chỉ ngoài một điểm : cù lao không tên (khoanh màu xanh trên bản đồ Google) phía cực đông của sông Ka Long. Theo bản đồ SGI thì cù lao nay thuộc TQ. Theo bản đồ hành chánh Móng Cái thì cù lao này thuộc VN. Việc này giải thích ra sao ?

Xem bản đồ google vùng đông bắc Móng Cái : http://maps.google.com/maps?f=q&hl=e...=lmc:panoramio

Ta thấy trên bản đồ vệ tinh, nhánh sông biên giới phía nam cù lao đã không còn là dòng chảy chính. Dòng chảy chính là nhánh sông phía bắc của cù lao. Theo điều ước nói trên, phần viết đỏ, thì đường biên giới phải đổi sang dòng chảy chính, là dòng tàu bè lưu thông. Đường biên giới vì thế là nhánh sông phía bắc.

Điều đáng chú ý, trên bản đồ Google ta thấy phía bờ TQ có kè bờ theo hình xương cá lấn ra sông, nhằm mục tiêu thu hẹp dòng chảy chính để dòng sông biên giới đổi dòng về phía nam. Nhưng việc này không thành công vì thiên nhiên đứng về phía VN. Nhờ phù sa bồi đắp mà nhánh sông biên giới trước kia, tức nhánh phía nam, bị cạn dần, dòng chính trở thành nhánh phía bắc.

Như thế bản đồ hành chính Móng Cái của VN phù hợp với thực tế và tinh thần của điều ước của công ước 1887.

Vùng Lục Lâm (hay Tục Lãm, vùng khoanh màu đỏ trên bản đồ google), kể cả cù lao không tên (khoanh màu xanh trên bản đồ google), đều thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Theo trả lời phỏng vấn của ông Vũ Dũng thì vùng Hải Ninh đã hoàn tất việc phân giới, cắm mốc. Số phận của bãi Tục Lãm ra sao ? Đến lúc tác giả viết bài này thì số phận vùng đất này vẫn chưa ai biết. Hy vọng nhà nước CSVN không phạm sai lầm như đã phạm tại các khu vực Nam Quan, Bản Giốc, công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng v.v…

วันอังคารที่ 30 ธันวาคม พ.ศ. 2551

No215: Chuyện "thị thực"

Elsenstrasse- một đường phố thoáng rộng gần trung tâm thủ đô Berlin. Một ngày đầu năm 2008. Sứ quán Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam toạ lạc trong một biệt thự khá sang trang. Cách toà nhà khoảng 200 mét là dòng sông Spree. Giữa sông lừng lững một pho tượng nhôm trắng cao 30 mét với ba người đàn ông đang choàng vai trong tư thế sẽ ôm chầm lấy nhau. Nhiều đoạn của dòng Spree trước đây đã bị dùng làm giới tuyến chia cắt Đông và Tây Berlin. Pho tượng mang tên “Molecule Man” trên được dựng sau khi nước Đức thống nhất – song song với ý tưởng nêu lên tính vẹn toàn và thống nhất của thế giới, nó mô tả cảnh tay bắt mặt mừng của những đứa con cùng một mẹ Tổ quốc đã tìm về với nhau sau cuộc chia cắt địa lý và ý thức hệ. Pho tượng là ý nguyện, là kết quả của sự hoà giải, sự liên kết đồng bào. Điều này trái ngược với những gì đã diễn ra với hắn.

Bước vào phòng tiếp khách của sứ quán, sau khi sắp hàng chờ tới lượt, hắn trình với nhân viên sứ quán tờ giấy hẹn đến lấy kết quả xin thị thực vền thăm thân nhân tại Việt Nam. Lướt xem qua tờ giấy hẹn, nhân viên tiếp nhận đơn từ của sứ quán bảo hắn chờ một lát. Hắn là người Việt đã nhập quốc tịch Cộng hoà liên bang Đức. Xa quê hương đã lâu, cha mẹ hắn ở nhà tuổi đã cao, như ngọn đèn dầu trước gió, nên về thăm quê nhà, gặp lại cha mẹ, anh em luôn là điều hắn đau đáu trong lòng. Trước đây khoảng một tháng, do bận việc, hắn làm giấy ủy quyền nhờ vợ hắn đến sứ quán Việt Nam nộp đơn xin thị thực về thăm nhà. Nhân viên sứ quán hẹn một tuần sau đến lấy kết quả. Đúng một tuần sau đó, vợ hắn đến và được thông báo là đối với trường hợp của hắn, sứ quán phải xin ý kiến trong nước nên tuần sau mới có trả lời. Thông thường thì đối với người mang quốc tịch nước ngoài, kể cả thời gian xin ý kiến của Bộ ngoại giao trong nước, thời hạn xét và cấp thị thực không kéo dài quá một tuần. Hai tuần câu trả lời đối với vợ hắn vẫn là “chưa có kết quả“. Thế là đã rõ: việc xin thị thực của hắn đã gặp khó khăn. Và hôm nay, hắn phải xin nghỉ việc để trực tiếp đến nhận sự giải đáp cuối cùng.

Sau khoảng 30 phút chờ đợi, nhân viên sứ quán gọi hắn lại và nhẹ nhàng cho biết trường hợp của hắn vẫn chưa có trả lời. Cũng rất nhẹ nhàng, hắn nói rằng thời gian chờ đợi thị thực của hắn là quá bất bình thường, nên hắn đã bỏ ý định xin thị thực, và yêu cầu sứ quán Việt Nam trả lại cho hắn quyển hộ chiếu Đức. Nhân viên sứ quán trả lời quyển hộ chiếu của hắn hiện do một bộ phận khác của sứ quán quản lý, và hẹn hắn hai giờ sau quay lại. Đúng hai giờ sau, hắn trở lại phòng chờ. Sau khoảng 15 phút, cánh cửa phụ, nơi dành riêng cho nhân viên sứ quán hé mở, một người đàn ông khoảng trên 40 tuổi, mặc com lê xám, gọi to:

- Ai là anh P?

Hắn đứng dậy:

- P là tôi đây.

Người đàn ông nói:

- Mời anh vào trong này!

Đi theo người đàn ông, hắn lên tầng gác và bước vào một phòng tiếp khách với một bộ xa-lông da và một chiếc bàn mặt kính có bầy sẵn nhiều đồ giải khát. Sau khi khép cửa, người đàn ông bắt tay hắn:

- Anh còn có tên nữa là A, đúng không?

Hắn mỉm cười:
- Đúng vậy.

A là tên hắn dùng trong các bài viết đã đăng trên một số báo chí của người Việt xuất bản tại hải ngoại.

Người đàn ông mời hắn ngồi, rót nước mời rồi nhìn thẳng vào mặt hắn:

- Tôi là B, bí thư thứ nhất của sứ quán phụ trách công việc liên quan tới anh. Anh chắc không biết tôi đâu, nhưng chúng tôi biết khá nhiều về anh. Thậm chí, tôi đã biết anh từ rất lâu do đây là nhiệm kỳ công tác thứ hai của tôi tại Đức.

Hắn hơi cười, và cũng nhìn thẳng vào mắt người cán bộ sứ quán:

- Tôi không lạ là các anh biết nhiều về tôi, vì thực ra, mọi việc tôi làm đều rõ ràng, không có gì phải giấu giếm.

Im lặng một lúc, người cán bộ sứ quán nói tiếp:

- Cắc anh cũng biết tôi mời anh vào đây vì việc gì. Xin thông báo với anh là trong nước không đồng ý cấp Visa về thăm Việt Nam cho anh. Lý do là do quan hệ của anh đối với các tổ chức chính trị phản động.

Hắn lập tức phản ứng:

- Theo tôi, chữ “phản động”có nhiều cách hiểu, và anh không nên dùng nó ở đây! Tất cả các tổ chức mà tôi có quan hệ tuy có nhiều cách biệt khác nhau, nhưng đều có mục đích chung là đóng góp xây dựng cho đất nước khá hơn. Vì vậy, chữ “phản động”ở đây là không hợp lý!

Nét mặt người cán bộ hơi sững lại, nhưng sau một hai giây, anh ta lại từ tốn:

- Tôi hiểu anh, vậy thì tôi sẽ gọi là các tổ chức đối kháng, có được không?

Hắn tiếp lời:
- Gọi như vậy thì tôi đồng ý.

Toàn bộ câu chuyện gần 60 phút sau đó giữa hắn và người cán bộ sứ quán diễn ra trong một không khí hoà nhã, và gần như là thân mật:

- Cách đây mấy hôm, anh có đến dự một buổi nó chuyện chính trị của tổ chức V, chúng tôi cũng có mắt tại đó. Tôi thấy ý kiến anh nêu ra hôm đó khá sâu sắc, và có thể nói là có chất học giả.

- Hôm đó, tôi không thống nhất với cách nhìn của ông C, diễn giả buổi nói chuyện, và đã đưa ra những phản biện của mình. Theo ý tôi, để xã hội Việt Nam theo hướng đi lên, sách lược của tổ chức V khó dẫn đến kết quả.

- Vậy thì theo anh, làm như thế nào là tốt nhất: Xin nói thêm là chúng tôi biết rõ các anh đã bỏ các hoạt động ồn ào và đang cố gắng đi vào chiều sâu.

- Tôi nghĩ rằng tất cả các tổ chức tôi quen biết đều đang trong quá trình tìm kiếm một cách đi tối ưu nhất, nhưng tinh thần cơ bản là sự thay đổi xã hội Việt Nam phải diễn ra trên tinh thần hoà giải, bất bạo động.

- Thực ra thì trong nước đã phát triển và tiến bộ rất nhiều. Cách đây một thời gian ngắn, chúng tôi đã để anh về thăm lại Việt Nam, và anh phải nhận ra điều đó!

- Đúng là Việt Nan đã có nhiều thay đổi. Tuy ở xa nhà, nhưng do thường xuyên theo dõi, nên tôi không lạc hậu với tình hình đất nước. Qua lần về nước mới đây, tôi đã trực tiếp tiếp cận với những chuyển biến tích cực, thông thoáng hơn ở Việt Nam. Nhưng tôi vẫn nhận thấy và phải khẳng định là Việt Nam vẫn cần phải có những thay đổi căn bản hơn. Anh có nghĩ là như vẫy không?

- Ở đây, tôi không đưa ra nhận định cá nhân, mà chỉ nêu ra những ý kiến từ trong nước!

- Sao hơn mười năm ngăn cấm, cách đây hơn một năm, các anh đã cấp thị thực để tôi về thăm nhà, theo tôi, đó là một thay đổi tích cực. Nhưng hôm nay, các anh lại từ chối. Theo tôi, đó là một sự thụt lùi. Tại sao lại như vậy?

- Thực ra thì chúng tôi chưa dứt khoát về trường hợp của anh. Tất nhiên là nội dung cuộc nói chuyện ngày hôm nay tôi sẽ báo cáo về trong nước. Và theo tôi, anh vẫn còn có cơ hội để trong nước có thể thay đổi ý kiến.

- Cơ hội đó là gì vậy?

- Đề nghị anh hiểu rõ ý tôi! Đây không phải là chúng tôi bắt anh phải viết bản kiểm điểm hoặc viết báo cáo gì. Tôi chỉ đề nghị anh viết và đưa cho tôi một bản nêu ra những nhận định và suy nghĩ của anh về tình hình đất nước.

- Anh biết là tôi đã viết rất nhiều về vấn đề này, nay tôi viết lại thì sẽ là thừa. Và hơn nữa, tôi là người không có nhiều thời gian.

- Anh có thể viết tóm tắt ngắn cũng được. Thậm chí, nếu anh muốn, tôi sẽ không gửi bản viết của anh về trong nước. Tôi chỉ cần báo cáo với cấp trên là anh đã viết, thế là đủ. Thực ra thì chúng tôi chỉ cần có một bằng chứng là anh đã có một hành động đáp lại thiện chí của chúng tôi.

- Mục đích về của tôi là để tham hỏi cha mẹ, gia đình và bạn bè. Vì thế, việc các anh ngăn cản là một điều vô lý. Tôi biết anh đang làm nhiệm vụ của mình. Nhưng việc anh ngồi nói chuyện một cách hoà bình với tôi ở đây là một dấu hiệu tốt. Vì vậy, để đáp lại, tôi sẽ suy nghĩ lại trong vòng một hai ngày về đề nghị của anh

- Vâng, anh cứ suy nghĩ kỹ đi! Đây là số Handy của tôi. Anh có thể gọi điện cho tôi vào bất cứ lúc nào.

Đứng dậy bắt tay từ biệt, nhìn thẳng vào người cán bộ sứ quán, hắn nói thật chậm rãi:

- Tôi xin nói rõ: nếu tôi có viết ra ý kiến của mình gửi cho các anh, thì đó là do lương tâm, chứ hoàn toàn không phải là để xin các anh cấp thị thực cho tôi!

Lương tâm mà hắn nói ở đây là hy vọng lé loi vào sự khởi đầu của việc trao đổi ý kiến về tình hình đất nước. Để xây dựng được một nước Việt Nam thực sự dân chủ và văn minh, hắn cho rằng xuất phát điểm lý tưởng là sự đối thoại hoà bình giữa các tổ chức có chính kiến khác nhau, trong đó có cả lực lượng cầm quyền trong nước. Nhưng sau một hồi suy nghĩ, hắn nhận ra sự nhẹ dạ của mình: chính quyền vẫn chưa hề muốn đối thoại với những ai nói khác điều chính quyền mong muốn! Hàng trăm, hàng nghìn những nhận định, những đề nghị của các nhà bất đồng chính kiến trong và ngoài nước còn uyên thâm, sâu sắc hơn nhiều lần so với một vài ý kiến của hắn đã và vẫn đang bị chính quyền và Đảng cộng sản Việt Nam coi là kẻ thù nguy hiểm và tìm cách triệt hạ. Bản nhận định của hắn dù có đúng đắn tới đâu cũng sẽ chỉ là một tờ giấy lộn tự hạ thấp mình được gửi tới cơ quan an ninh chính trị. Nó sẽ không tìm được người đối thoại và sẽ chỉ mở đầu cho một sự lấn lướt và phiền nhiễu lâu dài. Sự lấn lướt và phiền nhiễu sẽ kéo dài cho đến khi người ta hạ gục hắn bằng cách này hay cách khác.

Hai ngày sau buổi nói chuyện, hắn gọi điện cho người cán bộ sứ quán:

- Chào anh B, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi quyết định sẽ không viết bản nhận định như anh đề nghị.

- Tại sao vậy? Anh cứ suy nghĩ kỹ nữa đi!

- Tôi đã suy nghĩ kỹ, và thấy rằng nếu có được viết ra, thì bản nhận định của tôi cũng chẳng mang lại điều gì tốt đẹp.

- Nếu anh như vậy thì trong nước sẽ không cho anh về đâu!

- Tôi biết vậy, và tôi chấp nhận như vậy!

Hắn chấp nhận nỗi nhớ, nỗi đau xa cách quê hương, cha mẹ, gia đình. Để bảo vệ một cơ chế chính trị lạc hậu, hệ thống cường quyền đã muốn tận dụng cả tình cảm gia đình thiêng liêng để dồn ép hắn, để ngăn cản hắn trong việc đền ơn cha, nghĩa mẹ. Nhưng hắn tin cha mẹ hắn sẽ hiểu rằng chính nhà nước cộng sản Việt Nam mới là thủ phạm không cho hắn được phần nào vẹn tròn chữ “Hiếu”. Một chính thể như vậy phải mang tội bất nhân! Và rất nhiều người Việt Nam tại Đức cũng phải chịu số phận như hắn.

***




Cách đây hơn mười năm, vợ chồng anh Đ ở Hannover, sau khi được Lãnh sự quán Việt Nam tại Bonn cấp thị thực về thăm Việt Nam, đã về đến sân bay Nội Bài, Hà Nội. Gia đình anh người Bắc, di cư vào Nam năm 1954. Mục đích về của anh là được thăm lại quê cha đất tổ sau hơn 40 năm lưu lạc. Tại cửa khẩu sân bay, công an Việt Nam thông báo chỉ cho người vợ nhập khẩu, còn đối với anh Đ, công an tuyên bố hủy bỏ thị thực và yêu cầu anh ngay lập tức phải rời khỏi Việt Nam. Lý do được đưa ra cho việc hủy bỏ thị thức là tại nước ngoài, anh Đ đã có những hành vi làm phương hại đến lợi ích và an ninh của nhà nước Việt Nam. Là một người của Trung tâm nhân quyền Hannover, “hành vi”của anh Đ là tổ chức những buổi sinh hoạt văn hóa, tư vấn giúp đỡ trong vấn đề hội nhập cho người Việt tại CHLB Đức, và tham gia tổ chức những buổi hội thảo, toạ đàm về tình hình đất nước. Khi nói về quê hương, anh có tiếng là điềm đạm và chưa bao giờ khơi gọi bạo lực, hận thù. Bài thơ anh vẫn ngâm say sưa trong mỗi lần gặp gỡ bạn bè là “Đôi mắt người Sơn Tây”của Quang Dũng. Sơn Tây là quê anh. Sắc mặt anh khi nói đền Sơn Tây bao giờ cũng rạng rỡ một tình yêu. Nhưng lòng yêu quê nhà và quan điểm chính trị khoan hoà vẫn không giúp anh được gặp lại quê hương. Chính quyền Việt Nam vẫn căm ghét những ai vì lòng yêu nước và chính kiến mà dấn thân vào những hoạt động khi Đảng cộng sản không có quyền kiểm soát.





Anh E là một kỹ sư, trước đây là công nhân hợp tác lao động tại Tiệp khắc, sau đó vượt biên xin tỵ nạn tại Đức và được nước Đức chấp thuận. Anh và gia đình mở hãng kinh doanh tại Osnabrueck. Cách đây khoảng bảy năm, anh cũng đã được sứ quán Việt Nam cấp thị thực về thăm quê. Khi về đến cửa khẩu sân bay, công an Việt Nam thông báo họ biết rõ rằng tại nước Đức, anh đã từng là thành viên của một tổ chức chính trị tuy ôn hoà nhưng đòi hỏi “đa nguyên, đa đảng”là một điều “nhà nước Việt Nam còn cấm kỵ”. Công an cũng thông báo họ biết rằng anh không có vai trò nổi bật nào trong tổ chức đó, nhưng điều kiện để nhập khẩu là anh phải khai báo kỹ càng về tổ chức trước đây anh đã tham gia, và phải tuyên bố hối hận về sự tham gia đó. Anh E từ chối, và bị ngăn không cho nhập khẩu. Ngay hôm đó, anh phải rời khỏi cửa ngõ quê hương. Chính quyền Việt Nam e sợ tất cả những ai đứng trong bất kỳ một tổ chức chính trị nào không phục tùng theo họ.





Trước đây sáu năm, anh H, một nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố tại Đức và thế giới cũng bị sứ quán Việt Nam tại Berlin từ chối không cấp thị thực về thăm gia đình. “Tội”của anh H là ngoài các công bố về khoa học kỹ thuật, anh cũng là tác giả của một số bài viết phân tích tư duy chính trị lạc hậu tại Việt Nam. Anh là người ra đi từ Hà Nội và đã trực tiếp trải qua những trận ném bom B 52 “giải thảm”của không quân Mỹ tại Hà Nội tháng 12 năm 1972. Sau những trận bom khốc liệt nhà sập, thịt rơi, máy chảy, anh cùng bạn bè cũng như bao người Hà Nội khác đã dùng cuốc xẻng và cả tay không lao vào đào bới những đống đổ nát với hy vọng tìm kiếm và cấp cứu những người còn sống. Anh kể lại, một lần bên đống gạch nát tan của khu bệnh viện Bạch Mai, anh và đám thanh niên đã khóc nức lên khi họ ôm ra được từ ngăn hầm sập một chú mèo con còn sống sót. Những người như anh sẽ không bao giờ kêu gọi sự tàn phá quê hương. Nhưng chính quyền vẫn không cho anh về thăm hỏi, chăm sóc người mẹ đã già và người cha đã yếu. Khi nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên phó tổng thống chế độ Việt Nam Cộng hoà, người trước đây đã từng lái máy bay dội bom lên miền Bắc, sau đó sang tỵ nạn tại Mỹ, nay được mũ áo xêng xang về thăm Việt Nam, anh nói:”Mình ngày xưa chạy dưới làn bom để cứu người thì họ cấm về, còn người đã ném bom ngày ấy thì nay họ trống dong cờ mở đón chào”. Anh bị cấm về khi vẫn còn viết ra những điều trăn trở, còn ông Kỳ thì được về sau khi lớn tiếng ngợi ca chính thể đương thời. Tức là nhà nước Việt Nam vẫn không muốn chấp nhận những ai vì danh dự và trí tuệ mà không chịu “bó giáp xin hàng”.





***




Ở một góc nhìn nào đó, đã có vài ý kiến cho rằng chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam đối với trí thức đã có nhiều thay đổi, rằng tiếng nói của trí thức đã được nhà nước tôn trọng hơn. Đã có nhiều nhà văn, nhà báo ở trong nước được công khai đăng tải những quan điểm phi cộng sản và tố cáo sự yếu kém và tham lạm của chính quyền ở một cấp độ nhất định. Đã có những hội nghị không phải do nhà nước tổ chức nhưng được nhà nước chấp thuận, bàn đến một số vấn đề nhậy cảm. Vào tháng 7 năm 2008 vừa qua, một hội nghị như vậy đã được tổ chức tại thành phố Nha Trang với sự tham gia của nhiều trí thức ít nhiều có tên tuổi tại trong và ngoài nước. Bên cạnh những vấn đề về kinh tế, giáo dục…đề tài “Xã hội dân sự”- một trong những biểu hiện của một nền dân chủ đích thực cũng được bàn thảo tại hội nghị.





Trong một thể chế toàn trị, việc tổ chức hội nghị có thể được coi là một bước tiến tích cực. Tại hội nghị, hầu hết các tham luận đều đưa ra những ý kiến bức xúc và đề nghị nhà nước phải có thay đổi trong nhiều chính sách cụ thể. Một điểm son nữa của hội nghị là đã có những đòi hỏi, trong đó có cả đòi hỏi của ông Chu Hảo, một trong những người đứng ra tổ chức hội nghị, và là cựu thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường của chính quyền Hà Nội, rằng Đảng cộng sản và chính quyền phải tạo điều kiện cho trí thức tham gia vào việc hoạch định các chính sách của nhà nước. Theo ý của ông Hảo, hoạt động “tham gia”của trí thức ở đây là “đưa ra những góp ý xây dựng và phản biện đối với Đảng và nhà nước”. Ý kiến này đã được ông Hảo đưa ra liên tục và nhiều lần khi ông tìm cách định nghĩa “thế nào là trí thức”. Việc trí thức phải được và phải có dũng khí “phản biện”, theo ông Hảo và nhiều nhà trí thức trong nước, là một cách tân quan trọng. Đáng tiếc là cách nhìn này còn rất thiếu sót! Việc “tham gia”vào công việc quốc gia không thể chỉ được giới hạn vào hành động góp ý hay phản biện. “Góp ý”hay kể cả “phản biện”chỉ là một việc làm gián tiếp. Đơn thuần góp ý hay phản biện tức là đứng ngoài vòng quyền lực và chỉ quẩn quanh trong vai trò “quân sư”khá rụt rè của trí thức Á Đông, một điều đã bị không ít học giả đương thời phân tích và chỉ ra những yếu điểm chết người. Phải thấy rằng, phần quan trọng nhất của việc tham gia là các hoạt động trực tiếp được biểu hiện thông qua tuyên truyền tư tưởng, chính kiến, thành lập, tham gia đảng phái, được tự do bầu cử và ứng cử với mục tiêu thực thi đường lối chính trị của mình nếu được người dân tín nhiệm. Trí thức chỉ có thể thực sự tham gia vào công việc quốc gia khi họ trở thành những lực lượng cụ thể trong xã hội với tất cả các quyền trên. Nhưng, đó là mà chính quyền hiện nay còn lo sợ. Nỗi lo này chứng tỏ sự yếu kém của chính quyền và được trấn an bằng một hệ thống đàn áp điêu luyện. Sống trong sự dình dập và đàn áp này, hầu hết trí thức trong nước, dù muốn hay không, cũng đang phải tạm hài lòng với những “phản biện”khá êm dịu của mình.





So với bạn bè trong nước, trí thức bất đồng chính kiến tại hải ngoại không bị trực tiếp đè nén, đe doạ hay bắt bớ, tù đày. Nhưng, để bảo vệ cho quyền lợi của họ trong một thể chế cực kỳ trì trệ trong não bộ, chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn đang sử dụng những biện pháp cơ bắp cuối cùng để ngáng trở, triệt hạ những ai không muốn đầu hàng và muốn dùng khối óc của mình trực tiếp tham gia vào tiến trình canh tân đất nước. Cùng với việc đàn áp, đánh đập, giam cầm những nhà bất đồng chính kiến và những nhà báo, nhà văn còn dũng khí ở trong nước, việc ngăn cản những người bất đồng chính kiến tại hải ngoại không được về Việt Nam ngay cả khi mục đích về của họ rất hoà bình và rất riêng tư chứng tỏ nhà cầm quyền Việt Nam đã tự tạo ra con dấu “thị thực yêu nước” một cách vô cùng phi lý. Điều này, họ không được phép; và trước sau, họ cũng phải trả lại cho tất cả người dân Việt Nam lương thiện quyền được tự do đi lại trên quê hương, quyền được trực tiếp sửa sang, dựng xây quê cha, đất tổ. Khi đó, toà đại sứ Việt Nam tại Berlin mới không còn là một phản thể đối với bức tượng “Molecule Men”kế bên kêu gọi sự đoàn kết nhân loại, giống nòi.

Berlin, 12.2008
Phạm Việt Vinh

(*): Hắn là từ nhân xưng đã được nhà văn Bùi Ngọc Tấn sử dụng thành công trong tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 , mô tả thân phận một nhà văn bị chính quyền cộng sản Việt Nam vùi dập. Nhận thấy có điểm tương đồng giữa ý tưởng của tiểu thuyết đã nêu và nội dung bài viết trên, nay mạn phép nhà văn Bùi Ngọc Tấn được dùng từ hắn trong vài dòng trên.