วันเสาร์ที่ 15 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No 435:Tôn giáo không tự do vì xã hội không tự do


Tôn giáo chỉ tự do khi nào cả xã hội được sống tự do. Ðây là một sự thật mà người ta hay quên khi nói đến vấn đề tôn giáo trong các nước độc tài. Ở các nước còn sống dưới những đảng độc quyền, độc đoán, có những vụ xúc phạm tới quyền sinh hoạt tín ngưỡng của người dân; mà không nhất thiết vì những lãnh tụ độc tài muốn cấm cản một tôn giáo nào đó. Họ chỉ không cho phép người dân được hưởng những quyền tự do căn bản để sống xứng đáng làm người. Vì thế có những sinh hoạt tín ngưỡng bị cấm cản.

Khi chính quyền Miến Ðiện tấn công các ngôi chùa, bắt giữ chư tăng, các chính phủ Tây Phương lên tiếng phản đối đã nhấn mạnh đến tội xúc phạm quyền tự do tôn giáo. Nhưng sự thật là các tăng sĩ và Phật tử Miến Ðiện đã bị đàn áp vì họ tham gia vào một phong trào phản đối tăng thuế, đặc biệt là tăng thuế nhiên liệu. Ðó là một phong trào bộc phát trong dân chúng Miến Ðiện, dù có các nhà tu hành tham dự hay không. Các tăng sĩ và chùa chiền đã trở thành giới lãnh đạo và trung tâm hoạt động của phong trào này, vì dân Miến Ðiện tin tưởng nơi các tu sĩ và chùa chiền là nơi có thể tụ họp và trốn tránh. Khi chính quyền Miến Ðiện đã bắt giữ các tu sĩ lãnh đạo rồi, họ lại cho phép các nhà sư còn lại tiếp tục ở trong chùa, các Phật tử được tự do đi lễ. Những người Tây phương không thể kết tội nhóm quân phiệt Miến là xâm phạm tự do tôn giáo nữa. Nhưng tất cả mọi người dân Miến Ðiện vẫn sống trong chế độ độc tài tăm tối như cũ.

Một thí dụ hiển nhiên khác là chính sách cấm đoán và đàn áp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Họ giam lỏng Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ trong Thanh Minh Thiền Viện cũng như nhiều vị lãnh đạo khác trong giáo hội, họ không được tới một tự viện nào khác để giảng Phật pháp. Họ không cho phép vị trụ trì nào được đề tên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trên tên chùa, cấm các sinh hoạt từ thiện, giáo dục, văn hoá nhân danh giáo hội Thống Nhất.

Tương tự như trường hợp Giáo Hội Thống Nhất là Phật Giáo Hoà Hảo. Từ khi cộng sản chiếm được miền Nam Việt Nam, họ đã cấm không cho các tín đồ Hoà Hảo được sinh hoạt tập thể ngoài phạm vi mà nhà nước cho phép, các cơ sở truyền thống của giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo đã bị chiếm cứ, các tổ chức bị quốc doanh hoá, và các nhà lãnh đạo bị bắt giam hoặc bị tàn sát.

Tất cả những hành động đàn áp và cấm đoán trên vi phạm các quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội. Khi chính phủ Georges W. Bush bỏ chính quyền cộng sản Việt Nam ra khỏi danh sách những nước phải chú ý đặc biệt vì xâm phạm tự do tín ngưỡng, họ quên rằng con người không thể có tín ngưỡng tự do nếu không được tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội.



Một điều trong đạo luật về tôn giáo ở Việt Nam cấm không cho sinh hoạt tôn giáo tại tư gia đã xâm phạm quyền tự do hội họp, và đó là một điều luật cấm tôn giáo hoạt động một cách trắng trợn không chối cãi được. Vì một một vị tăng hay ni đến nhà cầu siêu cho một đám tang có thể bị coi là sinh hoạt tôn giáo trong tư gia. Một cố vấn gia đình mục vụ tiếp những cặp vợ chồng sắp cưới để cùng cầu nguyện với nhau cũng có thể bị ghép vào tội đó. Không có luật nào cấm các đảng viên cộng sản họp chi bộ ở nhà riêng, nhưng nếu một vị mục sư đến nhà nào giảng Kinh Thánh thì có thể bị cấm nếu công an khu vực không được hối lộ.

Những hành động xâm phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam gần đây phần lớn đều bắt nguồn từ những điều cấm đoán ngoài phạm vi tôn giáo. Sở dĩ các giáo dân Vinh bị công an tấn công là vì họ muốn sử dụng khu đất của giáo phận mà bị cấm cản. Lần đầu tiên Linh Mục Nguyễn Văn Lý vị chính quyền tấn công cũng vì cộng sản muốn chiếm đất của địa phận giáo xứ. Khi Linh Mục Lý phản đối, công an bắt đầu cấm đoán và ngăn cản các giáo dân không được tới nhà thờ. Những người lên tiếng bênh vực giáo dân cũng bị ghép vào tội chống nhà nước cộng sản.

Chính vì thấy tôn giáo không thể có tự do nếu xã hội không được tự do, cho nên Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các nhà trí thức dân chủ đã cùng nhau lập Khối 8406 để tranh đấu cho tất cả mọi người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do tối thiểu, không phân biệt người theo đạo nào hoặc có tín ngưỡng hay không. Tôn giáo sống trong xã hội loài người. Khi con người không được sống tự do thì mọi tôn giáo đều có thể bị xúc phạm bất cứ lúc nào; giống như có những dây thòng lọng buộc sẵn quanh cổ.

Ðiển hình nhất là vụ gần 400 tăng ni đang bị đàn áp tại tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Ðồng. Theo tin AFP đăng trên báo Người Việt ngày hôm qua, phát ngôn viên chính quyền cộng sản mới xác định rằng ngày 2 Tháng Chín này các tu sĩ trẻ tuổi này sẽ bị trục xuất khỏi tu viện. Lý do ông ta nêu ra là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Lâm Ðồng đuổi họ vì những buổi giảng Phật pháp của họ không được giáo hội đó cho phép; do đó bị coi là bất hợp pháp. Như vậy có phải là chính quyền cộng sản đã vi phạm tự do tín ngưỡng hay không? Hiển nhiên là họ đã trà đạp trên quyền tự do sinh hoạt tôn giáo, vì họ đang sử dụng những điều cấm đoán khác mà luật pháp các nước cộng sản luôn luôn áp dụng.

Từ khi có những tăng ni tu tập theo Pháp môn Làng Mai, mỗi tháng họ đã thu hút hàng ngàn Phật tử từ khắp các tỉnh về tu học những cuối tuần, sống trong chánh niệm, hành trì giới luật. Ðó là truyền thống Thọ Bát Quan Trai trong Phật Giáo, Nam tông cũng như Bắc tông đều theo. Bây giờ, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố đó là những hoạt động bất hợp pháp, chẳng khác nào họ nói giáo lý của Ðức Phật là bất hợp pháp! Mai mốt các vị tăng ni trở về quê quán tiếp tục hành trì phép tu theo Phật của mình thì có bị coi là bất hợp pháp nữa hay không?

Trong lịch sử nước ta, truyền thống Phật Giáo vẫn công nhận có hàng muôn ngàn phương pháp tu tập - 84,000 pháp môn là một con số làm thí dụ. Ngay dưới triều nhà Nguyễn, khi sắc phong chức tăng thống thì vị tăng thống cũng chỉ là một người được coi là đạo cao đức trọng để làm gương cho cả nước chứ không phải là người cai quản và quyết định mọi hoạt động Phật giáo trong nước. Mọi người đều có quyền cạo đầu đi tu, chọn nơi dựng thảo am hành trị đạo Phật, nhận các đệ tử xuất gia hoặc tại gia.

Từ hai thế kỷ trước, tại Việt Nam đã nổi lên những nhà tu độc lập nổi tiếng như Ðức Phật Thầy Tây An. Một người đạo hạnh được nhân dân suy tôn vừa là Thầy, vừa là Phật, mà không cần có giấy phép của một chính quyền nào hay một giáo hội nào. Chính trong truyền thống đó chúng ta có những ông sư Vãi Bán Khoai, và sang thế kỷ 20 có Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ. Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã có những vị tu sĩ độc lập như vậy, cho nên chúng ta có ông Ðạo Dừa được bao nhiêu người ngưỡng mộ và giúp cho bao nhiêu người hướng về điều thiện. Ông Ðạo Dừa phản đối chiến tranh, kêu gọi hoà bình, nhưng không một chính phủ nào ở miền Nam khép ông vào tội chủ hòa làm ngã lòng binh sĩ để gây phiền phức cho ông; mỗi ngày vẫn có những người đến chiêm bái ông trên chiếc thuyền đậu ở Cồn Phụng mà khong ai bị công an theo dõi.

Truyền thống tự do đó đã bị dập tắt dưới chế độ Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản không cần làm một điều luật nào cấm tôn giáo. Họ chỉ cần thi hành những điều cấm đoán đối với các quyền tự do căn bản của con người là đủ xúc phạm tất cả các tôn giáo, bất cứ luc nào họ muốn. Trước đây các vị tu sĩ trẻ này được yên tâm tu học, nay chỉ vì ông thầy họ chống Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng nên họ bị đuổi!

Hành động trục xuất các tăng ni trẻ ra khỏi Tu Viện Bát Nhã sẽ khiến tất cả mọi người Việt Nam khác ý thức được rằng khi một người dân bị tước bỏ những quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội thì mọi người đều có thể bị đàn áp bất cứ lúc nào. Bốn trăm vị tăng ni trẻ tuổi này đã chứng tỏ đạo hạnh nghiêm trang trong suốt thời gian qua, họ được mọi người dân trong vùng kính trọng, kể cả nhiều tăng ni trong giới lãnh đạo hội Phật Giáo được nhà nước kiểm soát. Chính các vị tăng ni này sẽ nhìn ra rằng khi cái thòng lọng xiết lại trên cổ 400 tu sĩ trẻ tuổi ở Bát Nhã thì chính họ, những người vẫn tuân phục đảng và nhà nước Cộng Sản, chính họ cũng đang bị buộc những thòng lọng giống như vậy. Ngày xưa thân phụ cố văn sĩ Phùng Quang Lộc hỏi con: Bọn nhà văn chúng mày là giống gì mà lúc người ta cởi trói, lúc người ta trói lại vậy? Bây giờ sẽ có người hỏi các vị tăng ni trong giáo hội nhà nước như vậy!



Nhìn tấm gương Bát Nhã, tất cả mọi người dân Việt Nam, nhất là giới trí thức trẻ, cũng phải thấy họ đang bị những sợ dây thòng lọng tròng vào cổ. Ðó là một nỗi nhục mà người dân Việt phải chịu đựng từ bao nhiêu năm nay. Bây giờ, các tu sĩ ở Bát Nhã sẽ là minh chứng cho ai cũng ý thức được mối nhục đó. Mọi người Việt Nam sẽ hiểu ra rằng vấn đề ở tu viện Bát Nhã không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề tự do. Mà đó là những quyền tự do tối thiểu của công dân những nước độc lập. Tại sao các tu sĩ ở tu viện Bát Nhã bị đuổi đi vì không có hộ khẩu, còn những công nhân Trung Quốc đang sang Việt Nam làm việc, những thương gia Trung Quốc đang xâm nhập qua biên giới, không ai bị xét hộ khẩu bao giờ cả? Khi nào toàn thể mọi người Việt Nam ý thức được những nỗi nhục này, đó là do vụ đàn áp ở tu viện Bát Nhã.

Nếu khôn ngoan, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không đàn áp quá đáng nữa. Vì 400 vị tăng ni này khi bị đuổi về quê quán là 400 vị sứ giả của lối sống Phật Giáo có thể giúp bao nhiêu người bớt khổ đau, nhưng họ cũng là những nạn nhân biểu tựơng của một chế độ khống chế mọi quyền tự do căn bản mà mọi công dân Việt Nam có quyền nhưng không được hưởng! Khi mọi người dân đã nhìn thấy như vậy thì đất nước sẽ thay đổi!
Nguồn: http://www.nguoi-viet.c

วันศุกร์ที่ 14 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No434: Tổng cục 2 và những dấu hiệu của một đại họa (phần 3)

Phóng viên Trân Văn
Đài RFA

Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao?

Trong hai bài trước, Trân Văn đã tổng hợp và tường trình về những nội dung có liên quan đến các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại Tổng cục 2, cũng như lối xử lý hết sức khó hiểu của lãnh đạo Đảng CSVN đối với Tổng cục 2.

Ở bài này, Trân Văn phỏng vấn một số nhân vật có liên quan hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến việc tố cáo các sai phạm tại Tổng cục 2.

Chờ đợi cho đến chết

Đến nay, hầu hết những người từng lên tiếng yêu cầu xem xét, xử lý các sai phạm ở Tổng cục 2, trong giai đoạn từ cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000 đến năm 2005 như: ông Phạm Văn Xô, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Trung tướng Nguyễn Hoà,... đều đã qua đời, phần lớn những người còn lại thì già yếu, bệnh tật.

Chúng tôi đã thử gọi điện thoại, phỏng vấn một số người để xin thêm ý kiến của họ về vụ Tổng cục 2, cũng như suy nghĩ, thái độ của họ về cách xử lý vụ này của lãnh đạo Đảng CSVN.

Cuộc phỏng vấn đầu tiên được thực hiện với cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc – nhân vật đã từng gửi “Thất trảm sớ”. Người nhấc điện thoại là vợ cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, bà cho biết: Bây giờ ông cháu đang bị bệnh cho nên trí nhớ không tốt lắm nhưng mà thôi cũng để ông cháu gặp cho nó khuây khỏa... Có người gọi có phải bác Ngọc không và muốn hỏi chuyện... Đây ông nghe...

Tuy đang trong tình trạng bán thân bất toại kèm nhiều chứng bệnh khác, sức khoẻ rất kém, song khi nghe đề cập đến Tổng cục 2, cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, 82 tuổi vẫn cố gắng xác nhận với chúng tôi qua một cuộc trao đổi ngắn:

Trân Văn: Sau khi bác gửi thư, đến nay có hồi báo gì không ạ?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Chưa có hồi âm gì ạ.

Trân Văn: Từ khi bác gửi thư, các cơ quan chức năng có cử người đến hỏi thăm thêm về những nội dung trong thư không?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Không ạ!

Trân Văn: Hiện nay, vụ Tổng cục 2 cũng vẫn cứ còn như cũ phải không ạ?

Trung tá Vũ Minh Ngọc: Vâng!

Cuộc phỏng vấn thứ hai, theo dự tính sẽ thực hiện với ông Nguyễn Văn Thi, vẫn được gọi là Năm Thi, Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền giai đoạn trước tháng 4 năm 1975, có 69 tuổi Đảng, người mà từ năm 1986 đã gửi sáu lá thư yêu cầu lãnh đạo Đảng CSVN giải quyết hàng loạt vấn nạn trong Đảng, trong đó có vụ Tổng cục 2.

Đến tháng 2 năm 2006, ông Nguyễn Văn Thi tiếp tục gửi lá thư thứ 7, trực tiếp phê bình Tổng Bí thư, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 vì đã hành xử không dân chủ với ông cũng như những đảng viên khác đã từng gửi các thư tương tự.

Tuy nhiên chúng tôi không thể trò chuyện với ông. Vợ ông giải thích: Nhà tôi bịnh nặng lắm, đang nằm nhà thương anh ạ! Đúng ra là ổng không còn tỉnh. Anh hỏi... nó, nó quá muộn rồi. Vấn đề đó anh đừng hỏi nữa vì những vấn đề có liên quan đến ông Cống, ông Xô này kia nọ...

Nói chung là người ta đã làm đền thờ ông Đồng Văn Cống này kia nọ rồi... Nói chung, tôi chỉ mong rằng đừng có ai nói thêm về những việc như thế và cũng hổng muốn nghe, cũng hổng được rảnh tâm lắm.

Dù Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, đã từng xác định đóng lại vụ Tổng cục 2 song trong lá thư thứ 7, ghi ngày 3 tháng 2 năm 2006, gửi Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, ông Nguyễn Văn Thi vẫn tiếp tục khẳng định:

Trách nhiệm đó trước hết thuộc về người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, đến Bộ Chính trị mà tôi và nhiều Đảng viên trong cả nước cho rằng, Trung ương Đảng khoá 9 đã tiếp tục duy trì ảnh hưởng của hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh vì nể nang hoặc cố tình để bảo vệ chức danh do nhờ hai ông này mà có được.

Không đưa ra giải quyết các vụ án này là che giấu khuyết điểm của Trung ương 9 đã tiếp tục kéo dài từ khoá 4 đến nay để bảo vệ quyền lợi cá nhân của một số người, bất chấp uy tín của toàn Đảng và tiếp tục không muốn đổi mới để cải cách hệ thống chính trị và quản lý Nhà nước, không muốn thay đổi nhân sự lãnh đạo Trung ương Đảng bằng những người trong sạch, có đức, có tài, có uy tín trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Hậu quả sẽ là Đảng viên chân chính cả nước sẽ tiếp tục đấu tranh để chỉ rõ trách nhiệm thuộc về Ban Chấp hành khoá 9 mà người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư.

Vẫn đòi làm rõ

Thực tế cho thấy, điều ông Nguyễn Văn Thi khẳng định hoàn toàn chính xác. Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí, đang làm việc tại Tổng cục 2 đã gửi một lá thư dài 13.000 chữ, khẳng định, Tổng cục 2 hiện làm cho “quân đội ta, Đảng ta, Nhà nước ta đang gặp phải hiểm họa vô cùng to lớn ngay từ bên trong, ngay ở bên trên”, cơ quan này hiện “khủng hoảng trầm trọng và toàn diện về lý luận, tư duy nghiệp vụ, phương châm, phương pháp, thủ đoạn, nề nếp, chế độ công tác, tổ chức lực lượng…”.

Theo Trung tá Trí, ngoài ông Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, Tổng cục trưởng, từng bị Đại học Kỹ thuật Quân sự đuổi học khi còn là sinh viên sĩ quan vì hạnh kiểm kém, Tổng cục 2 đang là nơi dung dưỡng nhiều người thiếu kinh nghiệm, kiến thức, tư cách, thậm chí có tiền án, ham danh, hám lợi, song vẫn thăng tiến rất nhanh cả về cấp bậc lẫn chức vụ bởi là thân nhân, thân hữu, hoặc là thủ túc của ông Nguyễn Chí Vịnh.

Trong thư, Trung tá Trí viết: Chúng làm điệp báo nhưng không tổ chức xây dựng điệp viên, tình báo viên mà nghĩ ra khái niệm “cán bộ mật”, “cán bộ diện B” để đưa từ bên ngoài quân đội vào tổ chức điệp báo hàng ngàn người mà nếu xét theo nguyên tắc, yêu cầu của điệp báo chiến lược thì hoàn toàn không có khả năng điệp báo (đặc biệt là về mặt quân sự). Phần lớn số này là người thân quen của chúng.

Với các “cộng tác viên mật” cũng có tình trạng tương tự. Điều kỳ lạ là trong số “cán bộ mật”, “cộng tác viên mật” đó, có rất nhiều người đang làm việc trong các cơ quan quân – dân – chính – đảng của ta, một số người còn là cán bộ cấp cục –vụ – viện trở lên. Trên khắp thế giới, từ xưa tới nay, chỉ có chúng làm điệp báo chiến lược mà không xây dựng điệp viên, tình báo viên.

Chúng dùng tổ chức và hoạt động điệp báo làm bình phong, dùng kế hoạch điệp báo làm công cụ chủ yếu để bòn rút công quỹ. Có thể khẳng định trong 10 năm trở lại đây, tất cả các kế hoạch điệp báo có mức kinh phí đáng kể của Tổng cục 2 đều ít nhiều mắc sai phạm về mặt kinh tế, tài chính.

Nếu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán một cách chặt chẽ, chắc chắn sẽ phát hiện ra nhiều vụ tham nhũng lớn, nhiều tên tham nhũng lớn.

Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn nhiều nội dung đáng chú ý khác và người “hâm” lại vụ Tổng cục 2 – Trung tá Vũ Minh Trí nói gì với Đài Á Châu Tự Do? Mời quý vị xem bài 4.

No433: Bỏ lỡ cơ hội hay tránh được rắc rối?

Hồ Bất Khuất
11.08.2009

Vào khoảng cuối tháng 8 – 2004, sau khi ngồi quán bia hơi với bạn bè, tôi và anh Ngô Sỹ Hoài về văn phòng của Viện nghiên cứu Giáo dục quốc tế (ở phố Kim Mã) uống nước. Vừa cầm chén nước lên thì thấy một người đàn ông lịch lãm đi một chiếc xe máy màu trắng sang trọng đến. Người đó bước vào và hỏi:

- Có anh Hồ Bất Khuất ở đây không?

Tôi đứng lên nói:

- Tôi là Hồ Bất Khuất đây. Anh là ai? Có chuyện gì đấy?

Người đàn ông xưng tên là Căn, cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương. Anh cũng chìa thẻ có ảnh và tên của anh. Sau đó anh mới nhẹ nhàng nói:

- Tôi xuống đây vì công việc, cụ thể là vì bài báo này.

Người đàn ông đưa ra tờ báo Tuổi Trẻ số ra ngày Thứ 4, 04/08/2004 và nói:

- Trong này có một bài viết của anh. Tôi muốn hỏi anh đôi điều về bài báo này.

- Đúng là tôi có bài “Người sử dụng nhân tài phải có bản lĩnh” đăng ở đây (tôi xin đưa lại bài báo vào đây). Anh hỏi gì, tôi sẵn sàng trả lời.

- Trước hết anh giới thiệu đôi điều về bản thân mình!

- Họ và tên của tôi là Hồ Bất Khuất, như anh đã biết. Sau khi tốt nghiệp Đại học ở Nga về, tôi làm việc hơn 10 năm ở Tạp chí Cộng sản. Sau đó tôi lại đi học ở Nga, về làm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp. Sau đó lại sang Nga làm cộng tác viên khoa học. Nay là Viện trưởng Viện nghiên cứu Giáo dục quốc tế và viết báo.

- Anh có dám chắc tất cả những gì anh viết trong này là sự thật không?

- Tôi dám chắc như vậy. Thậm chí còn có thể nói thêm là báo Tuổi Trẻ đã biên tập, cắt bớt đi nên trong bài báo thiếu thông tin cụ thể. Bây giờ tôi có thể trả lời anh cụ thể hơn.

- Ví dụ, những chi tiết nào vậy?

- Trong bản thảo của mình, tôi viết: “Vậy mà một tháng sau anh nhận được lời từ chối với lý do: “Hình như trước đây có lần cậu tranh luận với anh Nguyễn Phú Trọng, một học sinh cũ của trường, nay là một cán bộ cao cấp?...”. Tôi viết rõ tên anh Trọng vì tôi đã từng làm việc 10 năm ở Tạp chí Cộng sản, quan hệ với anh Trọng bình thường. Cho đến bây giờ vẫn thế. Chắc là báo Tuổi Trẻ cẩn thận nên bỏ tên anh Nguyễn Phú Trọng đi.

- Anh đã viết như vậy thật à?

- Tôi đã viết như vậy. Hơn nữa, trước đó tôi còn gửi thư cho anh Đào Trọng Thi là Giám đốc Đại học Hà Nội, nói rõ vị giáo sư ấy là ai, chủ nhiệm khoa nào ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học quốc gia Hà Nội. Tôi không chỉ viết báo mà còn tham gia đào tạo nhà báo, vì vậy tôi bảo đảm và chịu trách nhiệm về những gì mình viết ra. Nếu anh cần biết tên vị giáo sư đó, tôi cũng có thể nói ngay bây giờ.

- Chưa cần đâu.

Nói rồi người đàn ông đó chìa cho chúng tôi (tôi, anh Ngô Sỹ Hoài và vài nhân viên của VNCGDQT) xem hai bức thư được viết tay khá nắn nót. Tôi đọc nhanh và nhớ nội dung đại ý như sau (có thể tôi nhớ không chính xác hoàn toàn).
Bức thư thứ nhất: “Kính gửi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Vừa rồi tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 04/08/2004 có bài viết của TS Hồ Bất Khuất. Bài viết này khiến tôi quan tâm. Tôi không biết Hồ Bất Khuất là ai, những điều được viết trong bài báo có chính xác hay không? Mong anh cho điều tra và thông báo để tôi được biết! Kính thư – Sáu Dân”.

Bức thư thư hai: “Gửi anh Trần Đình Hoan! Anh Sáu Dân có viết thư cho tôi và đề nghị tôi kiểm tra lại thông tin cũng như tác giả bài báo “Người sử dụng nhân tài phải có bản lĩnh” đăng trên báo Tuổi Trẻ. Mong anh cho người kiểm tra và báo cáo lại. Nông Đức Mạnh”.
Tôi ngạc nhiên một cách thú vị khi khi thấy tác giả của hai bức thư ngắn ngủi kia là những nhân vật vô cùng quan trọng! Tôi tự hỏi: “Không hiểu vì lý do gì mà những con người bận rộn bao việc lớn lao lại quan tâm tới bài báo của tôi?”. Anh Ngô Sỹ Hoài cho biết: “Ông Võ Văn Kiệt vẫn có thói quen đọc báo hàng ngày và có phản ứng tức thì nếu thấy cần thiết. Có lẽ ông ấy quan tâm tới những vấn đề anh đề cập đến bài báo”.

Người đàn ông tên Căn cũng xác nhận như vậy và hẹn mấy ngày nữa sẽ gọi tôi lên Văn phòng Tổng bí thư để gặp gỡ, trao đổi thêm. Tôi nhất trí, nhưng nói thêm:

- Nếu vậy các anh thu xếp nhanh nhanh lên vì sắp tới tôi đi công tác xa.

Chúng tôi trao đổi điện thoại cho nhau và hẹn gặp lại. Người đàn ông đó đi rồi, trong đầu tôi mới xuất hiện cái tên “Phan Thanh Nam ”. Tối 30/12/1990 tôi sang ký túc xá Viện Hàn lâm Khoa học Nga nằm trên phố Ulianovsk chơi (người Việt vẫn gọi đây là “đôm 5”) với anh Lê Tây (lúc đấy là chồng nữ nhà văn Trần Thùy Mai). Năm hết, Tết đến nên mọi người mang rượu ra uống, chủ yếu là vodka Ba Lan. Không hiểu thế nào mà tôi “quật đổ” tất cả các bạn rượu trong phòng. Một người nói với tôi: “Đừng có mừng vội! Tôi đi gọi một cao thủ về đấu với anh ngay bây giờ, anh không thắng được nhân vật này đâu!”

Tôi đấu rượu với một thanh niên khá là to khoẻ, uống rất bốc. Nhưng cũng chỉ được khoảng 30 phút sau, anh ta giơ tay lên nói: “Tôi xin hàng! Xin được tôn anh làm đại ca!”. Nói xong, người thanh niên đó gục xuống, nghỉ ngơi. Một người hỏi tôi: “Anh có biết anh vừa thắng rượu ai đó không?”. “Một người uống rất sòng phẳng, nhưng thua tôi. Còn cụ thể là ai, tôi không biết.” “Phân Thanh Nam, con Thủ tướng Võ Văn Kiệt đấy!” “Bố họ Võ, con họ Phan, thế là con nuôi à?” “Không phải con nuôi đâu, con đẻ đấy!”.

Nghe chúng tôi nói chuyện, người thanh niên tưởng như đã ngủ kia, mở mắt, ngẩng lên nói: “Họ gốc của ông già tôi là họ Phan, dòng dõi Phan Thanh Giản đấy. Còn họ Võ chỉ là họ bí danh, dùng khi đi hoạt động cách mạng. Anh đã thắng rượu tôi, dù tôi là ai, anh là ai thì tôi cũng tôn anh là đại ca.”

Sau đấy một thời gian, Phan Thanh Nam hoàn thành khoá học về nước. Những người ở đôm 5 bảo là anh ấy về để nhận chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đấy vài năm, tôi cũng về Việt Nam . Thông tin mà tôi có được là anh Phan Thanh Nam không trở thành Phó Chủ tịch UBND TP HCM, mà trở thành một doanh nhân khá thành đạt, định bụng khi nào rỗi rãi, tìm cách gặp anh, không phải để làm “đại ca”, mà là “đấu trận lượt về”. Bây giờ ba của anh ấy không làm thủ tướng nữa, vẫn quan tâm tới bài báo của mình, có lẽ đây là dịp để gặp gỡ…

Dẫu suy nghĩ như vậy, nhưng vì bận rộn và cũng còn một chút ngại ngần, tôi không liên lạc với anh Nam, chỉ gọi điện cho báo Tuổi Trẻ kể lại chuyện có người của Ban Tổ chức Trung ương đến gặp để trao đổi về bài báo. Sau đó anh Căn có gọi điện cho tôi hẹn ngày giờ lên Văn phòng Tổng bí thư, nhưng lúc đó đã gần đến giờ tôi ra sân bay để đi nước ngoài.

Sau gần một năm ở nước ngoài trở về, mọi việc êm ả. Tôi lại đi làm báo. Khi kể lại chuyện này cho bạn bè, người thân; có người cho rằng, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội; có người lại bảo, tôi tránh được một rắc rối lớn. Tôi cũng không quan tâm nhiều tới những vấn đề này, chỉ hơi tiếc là một số bài báo tâm huyết và công phu của mình không được in công khai trên các báo.


Thứ Tư, 04/08/2004, 09:08 (GMT+7)

Người sử dụng nhân tài phải có bản lĩnh

TT - Tôi chưa dám gọi những người mà tôi từng quen biết là nhân tài, nhưng họ là những người có khả năng - khả năng đã được thừa nhận nhưng không được cơ quan nhà nước sử dụng.

Tôi có may mắn được quen biết khá nhiều người trong số này. Hành trình của họ sau khi được giải thưởng là ra nước ngoài học tập. Thông thường họ học một mạch cho đến khi có bằng tiến sĩ. Phạm Hữu Tiệp được giải nhì toán quốc tế, sang học ở Trường ĐH Tổng hợp Matxcơva mang tên Lomonosov và nhận được bằng tiến sĩ (sau khi đã có bằng phó tiến sĩ) khi anh mới 27 tuổi. Anh là người học giỏi và rèn luyện tốt (cả về thể lực); từ một cậu bé loắt choắt, còm nhom thành một người đàn ông cao trên 1,7m, một đảng viên… Tốt nghiệp xong, anh về nước ngay, nhưng ba tháng sau anh quay lại Matxcơva và buồn bã kể:

“Em về nước, hăm hở vác hồ sơ đi xin việc, đến một cơ quan khoa học thuộc chuyên ngành của mình tới ba lần, nhưng lần nào cũng chỉ gặp được ông bảo vệ…”.

Biết được hoàn cảnh của Tiệp, Trường Lomonosov gọi sang làm công tác khoa học. Sau đó anh sang Đức, rồi sang Mỹ làm việc. Những người được giải nhất như Lê Tự Quốc Thắng, Đàm Thanh Sơn… cũng có cuộc hành trình từ Nga sang Mỹ.

Theo tính toán sơ bộ của tôi, có quá nửa những người được giải toán quốc tế của ta hiện đang làm việc ở châu Âu và ở Mỹ. Mà họ không đi một mình đâu nhé, họ mang theo những người vợ VN, thường cũng là tiến sĩ. Như vợ của L.T.Q.T. là tiến sĩ luật; vợ của P.H.T. là tiến sĩ ngôn ngữ… Tôi chỉ thấy một người trở về nước được làm cái việc mình thích là dạy toán. Đó là anh Lê Bá Khánh Trình hiện công tác tại khoa toán của một trường đại học ở TP.HCM.

Người VN hay nói “người có tài thường có tật”. Theo tôi, chưa hẳn như vậy, nhưng người có tài thường tự tin, có lòng tự trọng và có bản lĩnh. Những người có tài đi xin việc thường đến thẳng cơ quan nộp hồ sơ và chờ đợi. Kết quả không mấy khả quan.

Một tiến sĩ được một trưởng khoa của Đại học Quốc gia Hà Nội ngỏ ý mời về giảng dạy. Sau vài lần gặp gỡ, anh đồng ý viết đơn ngay tại phòng làm việc của trưởng khoa. Vậy mà một tháng sau anh nhận đuợc lời từ chối với lý do: “Hình như trước đây đã có lần cậu tranh luận với một học sinh cũ của trường, nay là một cán bộ cao cấp”.

Anh không nói gì thêm và cũng không làm gì thêm. Anh cho rằng làm đến trưởng khoa mà chỉ mới nghe nói như thế đã vội từ chối thì rõ ràng không có bản lĩnh. Người như thế rất khó cộng tác. Biết chuyện, có người cho rằng có thể nguyên nhân đích thực là việc anh chẳng đến nhà trưởng khoa, chẳng quà cáp gì…

Theo tôi được biết, những người có khả năng đi xin việc thường không kèm theo quà cáp, phong bì. Không phải họ không có tiền hay tiếc tiền, mà đơn giản họ cho rằng làm như vậy thì lòng tự trọng ít nhiều bị tổn thương; hơn nữa họ sợ xúc phạm người được biếu.

Một trong những người có khả năng, đi xin việc không được, nói với tôi: “Thời bao cấp, nếu không được làm việc trong các cơ quan đoàn thể nhà nước hay cơ sở tập thể thì chỉ có việc về đẩy xe thồ hoặc đạp xích lô. Nay không thế, tôi có thể đi làm cho công ty liên doanh, công ty nước ngoài, hoặc tôi mở công ty riêng”. Thật vậy, anh đã thành lập công ty và làm ăn khá phát đạt.

Cũng không ít trường hợp những người có khả năng đã làm việc ở cơ quan nhà nước, nhưng vì không được trọng dụng, lại bị trù úm nên họ ra đi. Tôi có quen một người tốt nghiệp tiến sĩ ở Liên Xô, làm hơn mười năm ở một bộ. Ở đó ai cũng công nhận năng lực trí tuệ của anh, nhưng lại cho là anh “hâm”, anh lập dị, thậm chí người ta ghép từ “điên” vào sau tên anh.

Nguyên nhân hết sức đơn giản: anh thẳng thắn, trong sáng và yêu cầu rất cao trong công việc. Một lần anh tới dự một buổi bảo vệ luận án thạc sĩ. Người của ban tổ chức trao phong bì cho anh và nói: “Đây là tiền ăn trưa của anh”. Anh trả lại phong bì và nói: “Cảm ơn! Tôi không bao giờ ăn trưa ở cơ quan”.

Người của ban tổ chức cuống quít hỏi tôi: “Liệu anh ta có phật ý gì không?”. Nhưng không có gì xảy ra. Anh nhận xét tốt về buổi bảo vệ và vui vẻ ra về. Anh bị cô lập, không được trọng dụng và thu nhập rất thấp. Nhân đọc báo thấy một cơ quan của Liên Hiệp Quốc tuyển trợ lý trưởng đại diện, anh đã dự thi và trúng tuyển. Dù thu nhập ở chỗ làm mới cao hơn 15 lần nhưng anh vẫn luyến tiếc công việc của mình ở bộ đó.

Phát hiện, đào tạo được nhân tài là quan trọng, nhưng sử dụng được họ còn quan trọng hơn. Để sử dụng được họ thật ra cũng không khó, chỉ cần cán bộ tổ chức, thủ trưởng cơ quan đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

TS HỒ BẤT KHUẤT
Nguồn: Hồ Bất Khuất's Blog

No432: Tân Cương – Palestine của Trung Quốc?

Mark O’Neill

Thứ Năm, ngày 13-8-2009

Cuốn sách được bán với số lượng tăng vọt như tên lửa cho chúng ta một thể loại phóng sự tốt nhất về cuộc khủng hoảng ở Duy Ngô Nhĩ [Uighur]

“Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những chính sách của mình ở Tân Cương, thì dần dần họ sẽ đem tới một cuộc chiến tranh sắc tộc như là cuộc chiến giữa Israel và những người Palestine, một cuộc chiến không có cách gì giải quyết nổi và không có hồi kết.”

Đây là ý kiến của tác giả và là nhà báo người Trung Quốc Wang Lixiong, người đã viết lên mảng phóng sự hấp dẫn nhất về khu vực tranh chấp này – cuốn “Vùng Đông Thổ của anh, Miền Tây của tôi.” Nhà xuất bản Locus của Đài Loan ấn hành lần thứ nhất cuốn sách vào tháng Mười năm 2007 rồi đã và đang tái bản với số lượng tăng lên đột ngột nhằm đáp ứng nhu cầu độc giả trong năm nay. Số sách bán ra trong giới nói tiếng Trung đã tăng vọt khi mà người dân đã phải cố gắng để giải thích những sự kiện gây xúc động sâu sắc tại Thiên Sơn [Urumqi] kể từ khi xảy ra vào tháng Bảy. Tuy nhiên cuốn sách đã không được dịch ra tiếng Anh, và có lẽ sẽ không được dịch, căn cứ trên thực tế là phương Tây và đặc biệt là Âu châu đã phải sửng sốt với những luận điệu của người Hán Trung Quốc tại Tây Tạng và phần lớn họ không hay biết về những gì đang xảy ra tại Thiên Sơn.

Theo các phương tiện truyền thông nhà nước, ít nhất có 197 người chết và 1.720 người bị thương trong những cuộc náo loạn sắc tộc vào trưa và tối ngày 5 tháng Bảy. Một đám đông người Duy Ngô Nhĩ, được vũ trang bằng kiếm và gậy gộc, đã kéo tới quảng trường trung tâm, theo tin tức cho hay thì họ phản kháng về vụ giết hại ít nhất là hai người Duy Ngô Nhĩ tại một nhà máy ở Shaoguan, Tỉnh Quảng Đông trong tháng Sáu. Các lực lượng an ninh đã ngăn chặn những người phản kháng và nổ súng, giết hại ít nhất là 12 người. Từ đó đám đông đã nổi cơn thịnh nộ, tấn công và giết những công dân người Trung Quốc gốc Hán không có vũ trang.

Để đối phó với tình trạng bạo lực, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã phải huỷ bỏ một chuyến công du dự hội nghị G20 ở Rome để trở về nước. Chính phủ trung ương đã phái 130.000 binh lính từ khắp nơi trong nước tới các thành phố lớn ở Tân Cương, nơi mà có khả năng họ phải lưu lại ít nhất là cho tới ngày 1 tháng Mười, là dịp kỷ niệm lần thứ 60 quốc khánh nhà nước Cộng sản này.

Những người muốn hiểu về điều gì đã xảy ra trong tháng qua ở đây thì có thể không gì hơn là nhắm vào cuốn sách của Wang, một tác giả độc lập từng đi đây đi đó khắp vùng Tân Cương, phỏng vấn người dân từ tất cả mọi hạng người sống tại đó. Vào tháng Một năm 1999, ông đã bị tống giam ở đây trong sáu tuần vì “chiếm hữu những bí mật quốc gia”. Trong thời gian bị giam giữ, ông đã giúp đỡ một trí thức người Duy Ngô Nhĩ, người mà sau này khi được trả tự do, đã giới thiệu ông với các vùng thuộc xã hội Duy Ngô Nhĩ thường gần với người Trung Quốc gốc Hán.

Đối với Wang, sự gần gũi tương đồng nhất của vùng này là Palestine. Vào năm 1949, khi những người Cộng sản giành được chính quyền, người Trung Quốc gốc Hán chiếm 6% dân số ở Tân Cương, tương phản với 75% người Duy Ngô Nhĩ. Tới năm 2005, tỉ lệ người Duy Ngô Nhĩ đã rớt xuống 45,9% và tỉ lệ người Hán đã lên tới 39,6%. Giữa năm 1990 và 2000, số người Hán đã gia tăng thêm 1,79 triệu và những sắc dân thiểu số tăng 1,5 triệu.

Sự gia tăng này là kết quả từ chính sách của chính phủ nhằm siết chặt quyền kiểm soát khu vực rộng lớn nhất này của Trung Quốc với một nguồn dự trữ to lớn dầu lửa, khí gas, các loại kháng sản, than đá, bông và những tài nguyên thiên nhiên khác, và cho định cư hàng chục ngàn dân dư thừa. Trong ba thập kỷ đầu của chế độ cai trị Cộng sản, chính phủ đã lệnh cho dân chúng tới định cư ở Tân Cương, trong đó có các binh lính giải ngũ, “các thành phần tội phạm”, “các phần tư hữu khuynh” và “những tầng lớp không được ưa thích” khác. Kể từ năm 1980, chính phủ này đã dùng những lối khuyến khích về kinh tế, đặc biệt là chính sách “Về miền Tây”, trong đó có việc bơm hàng tỉ nhân dân tệ vào Tân Cương và ban cho nhiều quyền lợi trong công ăn việc làm.

“Những người nhập cư gốc Hán này đã đưa đến cuộc đối đầu hàng ngày giữ các sắc tộc, một cuộc chiến giành nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ, và làm cho việc đối đầu trở thành một chuyện thường ngày,” ông Wang viết. “Điều này có thể dẫn đến ’sự hình thành một kiểu Palestine’ trong xung đột”. Hai cộng đồng này sống phần lớn riêng biệt, ngoại trừ tại nơi làm việc; hôn nhân ngoại chủng rất hiếm xảy ra và thường bị phản đối quyết liệt.

Quyền lực nằm trong tay các quan chức người Hán, đặc biệt trong chính quyền và các lực lượng an ninh; những vị trí hàng đầu để ngỏ cho người Duy Ngô Nhĩ là công việc hành chính, dân sự. Các mối quan hệ giữa người Hán và người Duy Ngô Nhĩ, nhất là trong giới trẻ, đã trở nên xấu đi, đặc biệt kể từ khi có các cuộc đánh bom tại khu vực này năm 1997 do những đòi hỏi được độc lập. Nó làm cho người Duy Ngô Nhĩ trở nên bị nghi ngờ trong mắt của người Hán, tại Tân Cương và phần còn lại trên đất nước Trung Quốc, nơi mà họ bị đối xử trong nỗi e sợ và hoài nghi. “Nếu anh cư xử với tôi như là một kẻ ăn cắp, thì tại sao chúng ta lại phải cùng chung một đất nước với nhau?”

Sức mạnh kinh tế ở Tân Cương nằm trong tay người Hán, những người có điều kiện tiếp cận giáo dục, công nghệ, tài chính và thị trường tốt hơn. Các công ty, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, thiên về thuê mướn người Hán, có vẻ được đào tạo tốt hơn, có khả năng hơn và nói tiếng Phổ thông tốt hơn là người Duy Ngô Nhĩ.

Một trong những công cụ cho “quá trình thực dân hóa” này là Tập đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương [Xinjang Production and Construction Corp], được biết đến dưới cái tên Bing Tuan (nhóm quân đội), một tổ chức của những người được quân sự hóa tới đây khai khẩn, thành lập vào những năm 1950. Hiện tập đoàn này có 2,6 triệu thành viên và kiểm soát một khu vực rộng 75.000 km2. Người sáng lập ra nó là Wang Zhen, một viên tướng kỳ cựu sau đó trở thành Phó Chủ tịch tập đoàn. Vào những năm 1950, ông ta đã xử sự như hoang thú với những người Duy Ngô Nhĩ đấu tranh đòi li khai; cứ với mỗi binh lính bị họ giết là ông ta ra lệnh xử tử năm người đàn ông Duy Ngô Nhĩ trong ngôi làng nơi xảy ra cuộc giết chóc.

Ông ta là một trong ba nhà lãnh đạo người Hán bị người Duy Ngô Nhĩ gọi là “kẻ bạo chúa ở Tân Cương”. Người thứ nhất là Sheng Shicai, một viên tướng được những kẻ dân tộc chủ nghĩa ủng hộ, từng kiểm soát khu vực này từ năm 1933-1944. Người thứ ba là Wang Lequan, từng là bí thư Đảng Cộng sản khu vực này và là người đứng đầu nhóm Bing Tuan từ năm 1994.

Ông Wang coi chính sách về ngôn ngữ và tôn giáo như là một khía cạnh quan trọng của cuộc thực dân hóa này. Nhà thờ Hồi giáo không được phép mở trường học kinh Ko-ran, các học sinh dưới 18 tuổi không được phép tới nhà thờ và không có tôn giáo nào được dạy trong trường học. Các công chức không được phép thờ phượng cũng như không được để râu – thậm chí cho dù là Karl Marx và Lenin cũng từng có râu như vậy.

Tiếng phổ thông Quan thoại là ngôn ngữ trong nhà trường, chính quyền và giao dịch kinh doanh. Việc nắm vững tiếng phổ thông – chứ không phải tiếng Duy Ngô Nhĩ – là yêu cầu thiết yếu cho một sự nghiệp thành đạt trong hầu hết mọi lĩnh vực. Cho nên, trong khi việc dạy tiếng Duy Ngô Nhĩ có ở trong nhiều trường học, nhưng hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ đã chọn cách gửi con em họ tới học ở các trường nói tiếng phổ thông Quan thoại.

Làm cho nhiều vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa chính là những thay đổi trong văn bản chữ viết của Duy Ngô Nhĩ. Văn bản lúc ban đầu là bằng chữ A-rập, rồi nó đã bị đổi sang chữ Latin vào năm 1962 và tiếp đến là quay trở lại chữ A-rập vào những năm 1980. Như một hệ quả, hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ từng học vào những năm 1960 và 1970 không thể đọc được ngôn ngữ của riêng họ.

“Hầu hết người Hán tới Tân Cương trên 20 năm trước đã học tiếng Duy Ngô Nhĩ, song những người đến đây trong 20 năm nay thì không. Họ cũng không muốn học ngôn ngữ này. Tiếp đến là một lượng chương trình học chính trị khổng lồ, đặc biệt kể từ chuyến viếng thăm của ông Jiang Zemin năm 1998. Mỗi chuyến như vậy là bạn lại phải ghi chép những lời dạy và giữ chúng lại. Khổ sở nhất là các giáo viên trong làng – thu nhập của họ thấp mà lại phải làm việc nhiều cho chương trình dạy chính trị. Họ không có thời gian mà nghỉ ngơi.”

Ở Tân Cương, y như ở Palestine, chẳng thể nào thấy xung đột chấm dứt.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

No431: Có quyết tâm thì chống được tham nhũng

Ngô Nhân Dụng, Người Việt Online
13.08.2009

Báo chí trong nước mới loan tin về một bản báo cáo do Tòa Ðại Sứ Ðan Mạch ở Hà Nội mới công bố tuần này. Các chuyên gia của Bộ Ngoại Giao Ðan Mạch nghiên cứu về tình trạng phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã đưa ra những câu hỏi về nhận định của Bộ Xây dựng chính phủ Việt Nam rút kinh nghiệm “hai năm thực hiện phòng chống tham nhũng (2006-2008)” trong đó họ kết luận rằng “mức độ tham nhũng và lãng phí đã giảm hẳn.”

Câu hỏi là: Khi thấy số trường hợp tham nhũng bị phát hiện giảm đi thì Bộ Xây Dựng coi là “mức độ tham nhũng đã giảm;” nhưng phải tự hỏi lý do vì sao số các vụ tham nhũng lại giảm. Hoặc là số người tham nhũng và số tiền tham nhũng giảm đi nhờ có các biện pháp phòng ngừa mới. Hoặc là khả năng khám phá và tố cáo các vụ ăn cắp của các cơ quan chịu trách nhiệm chống tham nhũng đã giảm bớt. Cũng giống như khi thấy hàn thử biểu đo nhiệt độ của một bệnh nhân giảm xuống thì có thể vì một trong hai lý do: Bệnh sốt đã thuyên giảm thật; hoặc cái nhiệt kế nó bị “tê liệt” rồi!

Bộ Xây Dựng ở Hà Nội từng nổi danh về những vụ khám phá cột xi măng bê tông cốt bằng tre; nhưng những người đầu tiên khám phá ra cái tài “xây dựng hiện đại” này là các trẻ em đi ăn trộm. Các em đào, đẽo cột bê tông để lấy sắt đem bán mà không thấy sắt chỉ thấy tre! Một vụ các quan chức trong Bộ Xây Dựng bị đưa ra tòa vì tham nhũng chỉ xẩy ra sau khi một người bị bắt vì đi đánh bạc thua vài triệu đô la. Nếu không có các cảnh sát bắt bạc thì cũng không có việc “phát hiện” này. Rồi tới vụ đường đại lộ xuyên thành phố Sài Gòn bị phát hiện cũng là do mấy ông cảnh sát Nhật Bản đi bắt các người quản lý công ty Nhật về tội hối lộ các quan chức Việt Nam.

Như vậy thì nếu trong những năm 2006-2008 số thống kê những vụ tham nhũng giảm đi không phải chỉ vì các quan chức bỗng tu tâm sửa tính hay luật lệ nghiêm minh hơn; mà có thể vì người ta không có dịp “phát hiện” tham nhũng nữa. Mà điều này cũng dễ hiểu. Sau khi các nhà báo bị bắt bỏ tù vì tội đi điều tra tham nhũng rồi, còn ai có “nhã hứng” đi tìm tòi nữa làm chi?

Bản nghiên cứu của các chuyên gia Ðan Mạch nêu lên một số nguyên nhân khiến công việc tìm tòi và khám phá: “(1)do các cơ quan chức năng không đủ thẩm quyền; (2) do các luật và quy định vênh nhau, không có hướng dẫn và chỉ thị cụ thể, rõ ràng; (3) không có cơ chế khuyến khích cho những người làm tốt; và (4) không có cơ chế giải trình cũng như không có cơ quan kiểm tra và hệ thống giám sát độc lập.” Cả một bản báo cáo 4 không trên đây tóm tắt lại, là do người ta không thật tình muốn chống tham nhũng! Nếu thật tình thì người ngu đến mấy cũng phải biết: (1) trao cho các cơ quan lo chống tham nhũng đầy đủ thẩm quyền để làm việc; (2) đặt các quy luật rõ ràng để họ làm việc; (3) tưởng thưởng những người tố cáo tham nhũng thay vì bỏ tù người ta và (4) đặt đường dây tố cáo tham nhũng độc lập với những cơ quan làm công việc dễ tham nhũng, và đặt ra những cơ quan điều tra, truy tố độc lập.

Khi nói đến việc chống tham nhũng, nhiều người thường nhún vai tỏ ý tuyệt vọng, nói rằng công việc này khó lắm, phức tạp lắm, chính quyền nào cũng chịu thua những cái vòi bạch tuộc tham nhũng.

Nhưng lý do quan trọng nhất vẫn là thiếu quyết tâm. Một chính quyền quyết tâm chống tham nhũng thì sớm hay muộn cũng tìm ra cách chống tham nhũng.

Xin kể một câu chuyện cũng khó khăn tương tự như việc chống tham nhũng để chúng ta thấy không nên nản lòng. Ðó là kinh nghiệm chống cướp bóc, trấn lột trong hệ thống đường xe điện ngầm ở New York vào đầu thập niên 1990. Không cần đặt ra thêm luật lệ, không cần cổ động rùm beng, chỉ cần quyết tâm, một vấn đề nhức nhối kéo dài mấy chục năm cuối cùng có phương pháp giải quyết.

Ðường xe điện ngầm trong thành phố New York nổi tiếng nhiều tội phạm khiến nhiều người không dám sử dụng, nhất là vào ban đêm. Tội ác tràn lan như một thứ bệnh truyền nhiễm, người ta cũng thấy tuyệt vọng, nghĩ rằng không có cách nào bài trừ được. Năm 1984 có một vụ án mạng cả thế giới đều nghe tin, là vụ Bernhard Goetz bắn chết mấy thanh niên da đen trong đường xe điện ngầm khi mấy cậu này vây quanh anh ta rồi thản nhiên bảo anh ta đưa tiền, giữa ban ngày và trong một toa xe có nhiều hành khách khác. Goetz hỏi lại: Các anh muốn gì? Trả lời: Năm đô la! Goetz rút khẩu súng trong túi ra bắn từng người một, rồi tới trạm sau thì thản nhiên đi ra khỏi xe, lên đường. Mấy ngày sau, báo chí khắp nơi đã loan tin, Goetz ra trình diện cảnh sát.

Năm 1990 cơ quan Chuyên Chở New York bổ William Bratton làm cảnh sát trưởng cho cả hệ thống đường xe điện ngầm. Bratton là người tin ở lý thuyết “Cửa Sổ Hư” (Broken Windows) của các nhà nghiên cứu về tội phạm. Thuyết này cho là những căn nhà vô chủ, cửa sổ bị phá vỡ không ai sửa sang, là một nguyên nhân chính tạo nên những khu phố đầy tội phạm. Những trẻ em thiếu giáo dục sẽ tới vẽ bậy lên tường, phá thêm những cửa sổ khác, rồi các tay giang hồ sẽ tìm cách vào trong nhà đó, dùng làm sào huyệt và nơi giải trí, trao đổi,buôn bán ma túy, và tổ chức những tội ác khác. Muốn ngăn ngừa chuyện này, thành phố thấy nơi nào có cửa sổ vỡ kính phải tới sửa ngay, để không cho tội ác nẩy mầm.

Bratton giải quyết vấn đề tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York bằng cách tấn công một trọng điểm làm gương. Ðó là bắt phạt những người đi xe điện ngầm lậu, không mua vé. Mỗi ngày có khoảng 170,000 người đi lậu trong hệ thống đường xe điện ngầm New York! Có khi một đám thiếu niên nhẩy hàng rào bước vào, cười nói, nhởn nhơ đi trên chỗ chờ xe điện, thế là mấy người lớn cũng bắt chước! Bratton tin rằng đa số những tay gây tội phạm cũng là những tay nhẩy hàng rào, đi xe không trả tiền. Nhưng lý do quan trọng hơn là hình ảnh những thanh thiếu niên nhẩy rào đi xe lậu là một “dấu hiệu xấu” giống như cảnh những khung cửa sổ kính bị bể; khiến cho người ta có cảm tưởng là quanh đây là một nơi vô pháp luật, ai muốn làm gì thì làm. Chiến thuật của Bratton cũng rút từ kinh nghiệm của cơ quan Chuyên Chở New York trong một chiến dịch bài trừ nạn viết bậy trên tường và trên thành, cửa các toa xe. Họ quyết tâm hễ thấy một hình, một chữ viết hay vẽ bậy nào là xóa bỏ ngay, không để cho ai thấy rồi bắt chước. Trong vòng 5 năm, cả hệ thống đường xe điện ngầm New York đã hết cảnh viết, vẽ bậy (graffiti).

Tại sao ban giám đốc cơ quan Chuyên Chở không bài trừ nạn đi xe lậu này từ trước? Vì họ thấy vấn đề nặng nề quá, mối lợi nhỏ mà công sức bỏ ra lớn không bõ, nên thà chịu bó tay. Mỗi vé xe điện lúc đó chỉ có 1.25 đô la. Sở cảnh sát thấy không đáng công đi bắt mấy cậu bé con, mất công đưa về sở hỏi cung, làm tờ trình, tất cả mất một buổi; rồi sau đó lại chờ ngày truy tố mấy chú bé ra tòa, để đòi hơn một đô la!

Bratton đã chọn một trạm có những hành khách nhảy hàng rào nhiều nhất, đặt 10 cảnh sát viên tại đó, thấy cậu nào đi lậu bắt ngay tại chỗ, còng tay, cho đứng xếp hàng chờ đợi cho bàn dân thiên hạ ngó. Thay vì đưa các người vi phạm về sở cảnh sát, Bratton cho lập luôn một văn phòng lưu động trong trạm xe điện, làm việc tại chỗ, mỗi trường hợp chỉ mất một tiếng đồng hồ.

Riêng khung cảnh trên đã là một tín hiệu cho tất cả mọi người thấy “quyết tâm” làm việc của cảnh sát. Nhưng Bratton còn ra lệnh các cảnh sát viên phải khám xét và truy tầm lý lịch các tay đi xe lậu, nhờ thế khám phá ra nhiều tay có đem súng trong túi hoặc đã từng bị bắt về những tội nho nhỏ.

Sau một thời gian, số người đi xe điện lậu giảm, và nhiều kẻ gian không dám mang vũ khí vào trong hệ thống xe điện ngầm. Cùng lúc đó, cảnh sát xe điện đi bắt những người say rượu hoặc ngủ trong hầm xe điện, hoặc có những hành động lỗ mãng. Trong 5 năm trời Bratton đã chứng tỏ cho công chúng thấy, và những kẻ gian phải thấy là cảnh sát trong đường xe điện New York nhất định bài trừ những tội phạm dù nhỏ nhặt nhất; và họ làm việc hữu hiệu. Từ đó số tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York giảm hẳn. Năm 1994, ông thị trưởng mới của New York mời Bratton làm cảnh sát trưởng thành phố. Năm năm sau, số tội phạm trong thành phố này cũng giảm bớt, ông thị trưởng nổi tiếng, có lúc nhiều triển vọng ứng cử làm tổng thống Mỹ. Ngày nay, dân New York sống trong trật tự, an ninh hơn trước, nhờ những người quyết tâm giải quyết một vấn đề tưởng như nan giải.

Một câu chuyện trên cho thấy có những vấn đề xã hội tưởng như là nan giải, nhưng vẫn giải quyết được nếu người ta có quyết tâm. Cảnh sát New York không cần thêm những đạo luật bài trừ tội phạm mới nào. Không cần thêm quyền hành hoặc ngân sách lớn lao nào. Ðiều quan trọng nhất là quyết tâm.

Cho nên nếu đồng bào Việt Nam mình muốn bài trừ tham nhũng thì cũng cần một hành động quyết tâm. Phải thay đổi cái cơ chế gây nên đại họa tham nhũng này. Cơ chế đó là độc quyền chính trị của một đảng bịt miệng toàn dân không cho nói.

วันพฤหัสบดีที่ 13 สิงหาคม พ.ศ. 2552

No430: Vừa hèn, vừa ác, vừa bất xứng


Nguyễn Thanh Văn

"Những gì Đảng và nhà nước không nói được thì các tổ chức phi chính phủ phải nói". Đó là lời nhấn mạnh của ông Nguyễn Minh Triết trong ngày đại hội Liên Hiệp các Hội Khoa Học và kỹ thuật Việt Nam, tổ chức ngày 9 tháng 4 năm 2009 tại Sài Gòn, bàn về những vấn đề liên quan đến đất nước.


Những vấn đề liên quan đến đất nước hiện nay là những vấn đề gì mà ông Triết phải nhấn mạnh rằng đảng và nhà nước của ông không nói được, đúng hơn là không dám nói? Phải chăng là việc Trung quốc xâm lấn chủ quyền trên biển Đông của Việt Nam?

Hành động bá quyền ngang ngược của Trung quốc trên biển đông đã làm cho các nước vùng Á châu như Nhật bản, Phi luật Tân, Nam Dương có những phản ứng; tuy mạnh yếu khác nhau nhưng ít nhiều cũng làm cho Trung quốc phải e dè. Chỉ riêng ông Triết và bộ chính trị của ông thì im thin thít, dù Trung quốc có những hành động trắng trợn và ngang ngược xâm lấn chủ quyền Việt Nam; xâm phạm đến tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam. Ngang nhiên bắt giữ ngư dân Việt Nam trong vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế của Việt Nam và công khai gọi điện thoại thẳng đến nhà của nạn nhân đòi tiền chuộc mạng.

Trước những hành động bạo ngược này của Trung quốc, lẽ ra đảng và nhà nước của ông Triết phải triệu đại sứ Trung cộng tại Việt Nam đến để mà chính thức phản đối và nếu cần thì đưa vụ việc ra các diễn đàn quốc tế, như Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, hoặc thưa ra trước Tòa án Biển tại Hamburg - Đức quốc. Nhưng đảng và nhà nước của ông Triết đã không dám làm điều đó, mà chỉ dám dùng cái loa rè Lê Dũng phát đi điệp khúc của ngày nào một cách lấy lệ mà âm thanh vừa chỉ đủ cho người dân tại Bà Đình nghe. Thậm chí còn kỵ húy nên chỉ dám dùng từ tàu lạ. Mà người dân ai cũng biết cái "lạ" đó là Tàu.

Nếu khiếp nhược trước người đồng chí anh em xỏ lá, bá quyền Trung cộng, mà không dám nói thì đã là một điều tệ hại. Nhưng còn tệ hơn nữa, Đảng và nhà nước của ông Triết lại nhắm mắt làm ngơ hoặc đôi khi tiếp tay để văn hóa tàu tràn ngập trên các hệ thống truyền thông hiện nay và buộc người dân luôn trọng thị kính cẩn thờ lạy 16 chữ vàng mà Bắc Kinh đã rao xướng.

Mới đây nữa, Tham tán Kinh tế - Thương mại của tòa Đại sứ Trung quốc tại Việt Nam là Hồ Tỏa Cẩm lên tiếng một cách trịch thượng, không dưới 3 lần đòi nhà nước CSVN phải "khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị" báo VietNamNet, vì báo này đã dám cho đăng buổi thảo luận trực tuyến giữa ông Nguyễn Minh Phong, bà Phạm Chi Lan, Nhà báo Nguyễn Quang Thiều, ông Thân Đức Việt về đề tài "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp". Trước thái độ trịch thượng kể cả của tên tham tán Hồ Tỏa Cẩm, nhà nước của ông Triết chỉ biết cúi đầu hứa sẽ xem xét lại vấn đề và hứa sẽ thúc đẩy tốt quan hệ giửa 2 nước. Có phải để biến Việt Nam thành nơi cho Trung quốc bán hàng và khai thác tài nguyên hầu để phục vụ cho quyền lợi Trung quốc??

Ông Triết và đảng của ông tự nhận mình là lãnh đạo đất nước mà hèn không dám làm tròn trách nhiệm của một chánh quyền đại diện một quốc gia độc lập, không dám lên tiếng mạnh trước những hành động ngang ngược khinh thường mình của nước "lạ". Cầm quyền bất xứng như vậy mà cứ nhất định ngồi đó để làm gì?

Có vẻ những gì liên quan đến việc "nước lạ" hà hiếp Việt Nam thì đảng và nhà nước của ông Triết không dám nói, mà chỉ dám "xúi" các tổ chức phi chính phủ nói. Nhưng thực tế hiện nay tại Việt Nam làm gì có tổ chức phi chính phủ đúng nghĩa! Mà chỉ có những người Việt Nam yêu nước từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, đã lên tiếng mà không cần đảng và nhà nước của ông Triết nhắc nhở, một khi có kẻ ngoại bang xâm lấn đến chủ quyền quốc gia, xâm phạm đến quyền lợi của dân tộc.

Điều mĩa mai và nghịch lý là tuy "xúi" dân nói những gì mà đảng của ông Triết không dám nói, nhưng một khi có tiếng nói nào "vượt quá" sự cho phép thì đảng tìm cách hãm lại. Như mới đây trong buổi tọa đàm về Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam vào ngày 24 tháng 7 tại Sài Gòn, khi phần phát biểu của ông Nguyễn Quang Thắng bị cho là "vượt quá" thì người chủ tọa là linh mục Nguyễn Thái Hợp đã bị người "lạ" gọi ra vài lần, khi vào nét mặt rất căng thẳng và lo lắng. Linh mục Hợp phải chọn ví trí ngồi cạnh ông Thắng và nhắc nhở liên tục, khiến ông Thắng phải chấm dứt sớm bài tham luận còn dang dở.

Trong trường hợp không kìm hãm được tiếng nói "vượt qua" thì đảng trở nên hung ác và dở thói côn đồ, mà điển hình nạn nhân là các nhà dân chủ đã lên tiếng phản đối Trung quốc như các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Mạnh Sơn, nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và cô Phạm Thanh Nghiên...

Đảng muốn người khác nói những điều tế nhị mà đảng không nói được, nhưng phải nằm trong sự kiểm soát của đảng hầu không làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ ngoại giao với "nước lạ" đàn anh mà lãnh đạo đảng đang cúc cung khấu tấu.

Trong sứ mạng cúc cung tận tụy với "nước lạ" đàn anh, mới đây đảng đã nâng cấp bằng cách cho phép sự hiện diện của "người lạ" trong một số những vụ thẩm tra các nhà dân chủ VN. Điển hình cục công an A37 đã mời hai chuyên gia "an ninh lạ" sang để xử lý thông tin trong máy vi tính của cô Quỳnh Như (Blogger Mẹ Nấm), sau khi đã sách nhiễu điều tra cô về việc mặc chiếc áo thun màu xanh lá mạ ở giữa phía trước có dòng chữ "NO Bô-xít, Hoàng Sa Trường Sa là của VN" và sau lưng có dòng chữ "Người Việt Yêu Nước SOS, giữ mầu xanh và an ninh cho Việt Nam".

Dã tâm của "nước lạ" được thể hiện qua việc lấn đất, lấn biển, lấn kinh tế, lấn văn hóa… Nay việc làm của cục công an A37 đối với Blogger Mẹ Nấm ở trên, cho thấy đảng của ông Triết sẵn sàng tạo điều kiện cho "nước lạ" bắt đầu lấn đến những lãnh vực khác.

Đảng của ông Triết tưởng rằng càng trù dập những tiếng nói chống đối "nước lạ" thì đàn anh sẽ hài lòng và ngưng lấn lướt. Nhưng với thái độ ươn hèn này của đảng và nhà nước của ông Triết thì "nước lạ" sẽ tiếp tục lấn tới ngày càng gia tăng cường độ.

Ông Dương Danh Hy, một cựu nhân viên ngoại giao CSVN về quan hệ Việt-Trung, khi được hỏi về vấn đề quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc trước đây, đã cho biết lãnh đạo Hà Nội ngày trước vì ngây ngô khờ khạo, không hiểu biết và quá tin tưởng vào Bắc Kinh nên đã có những điều hứa trong vấn đề biển Đông với Trung quốc.

Lãnh đạo CSVN ngày trước thì như thế. Còn 15 nhân sự lãnh đạo trong bộ chính trị CSVN hôm nay ra sao?

Vừa hèn trước "nước lạ", vừa ác với đồng bào, vừa bất xứng với nhân dân.

Liệu nhân dân Việt Nam chịu đựng tập đoàn lãnh đạo "khôn nhà dại chợ" này đến bao giờ?

No429: Tổng Cục 2, cơ quan tình báo gây nhiều quan ngại (phần 1)


Trân Văn, phóng viên RFA
2009-08-12

Tổng cục 2 là cách gọi tắt cơ quan đặc trách tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam và kể từ năm 2004 đến nay, ba từ “Tổng cục 2”nhắc nhiều người nhớ đến một scandal, tuy ầm ĩ nhưng vẫn chưa có hồi kết.

AFP photo

Lần thứ nhì, đại tướng Võ Nguyên Giáp viết thư bày tỏ sự phản đối của ông đối với việc khai thác bô xít tại Tây Nguyên.

Hồi thượng tuần tháng 6, chỉ trong vòng hai ngày, tướng Võ Nguyên Giáp – một nhân vật được xem như “khai quốc công thần” của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay – đã gửi liên tiếp hai lá thư, lập lại một yêu cầu từng được ông nêu ra từ đầu năm 2004, đó là những nhân vật cao cấp trong Đảng và chính quyền đương nhiệm, cần giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 thuộc Bộ Quốc Phòng.
Scandal “Tổng cục 2”

Đã và đang có những dấu hiệu cho thấy “Tổng cục 2” không còn đơn thuần là một scandal về những thủ đoạn tàn độc mà một số cá nhân, phe nhóm trong Đảng CSVN sử dụng để triệt hạ đối thủ của mình, nhằm thâu tóm quyền lực.

Các tình tiết trước, trong và sau scandal “Tổng cục 2” chỉ ra một nguy cơ khác, đáng ngại hơn đối với vận mệnh quốc gia.

Tiền thân của cơ quan tình báo quân đội Việt Nam hiện nay là Phòng Tình báo Quân ủy hội, thành lập vào tháng 10 năm 1945, do ông Hoàng Minh Đạo phụ trách. Sau một sắc lệnh được ban hành vào tháng 3 năm 1946 về tổ chức Bộ Quốc Phòng, tháng 3 năm 1947, Phòng Tình báo Quân ủy hội được chuyển thành Cục Tình báo, còn được gọi là Cục Quân báo hoặc gọi tắt là Cục 2.

Trong 48 năm sau đó, Cục 2 vẫn chỉ là một cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thế rồi đến năm 1995, Cục 2 được nâng lên thành Tổng cục 2, với tên gọi chính thức là Tổng cục Tình báo Quốc phòng và từ vị trí phụ thuộc, Tổng cục 2 được chuyển thành cơ quan ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu.

Vai trò của Tổng cục 2, được ông Nông Đức Mạnh, khi ấy đang là Chủ tịch Quốc hội, hợp pháp hoá bằng Pháp lệnh Tình báo ban hành vào tháng 12 năm 1996. Sau đó, pháp lệnh vừa kể được ông Võ Văn Kiệt chi tiết hoá, bằng Nghị định 96, ban hành vào tháng 9 năm 1997.

Pháp lệnh Tình báo đã đưa Tổng cục 2 thoát ra khỏi sự kiểm soát của Bộ Quốc Phòng khi xác định: “Lực lượng tình báo Việt Nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước)”.

Và Nghị định 96 đã phá vỡ mọi giới hạn về vai trò và hoạt động của Tổng cục 2, khi nhấn mạnh: “Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe doạ chống lại Đảng CSVN, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”

Cũng vì thế, Tổng cục 2 trở thành một cơ quan, liên tục bị các công thần như: ông Phạm Văn Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương hoặc những cán bộ, sĩ quan cao cấp của Đảng CSVN, chính quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam như:

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, người thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng Chu Huy Mân - cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đại tướng Nguyễn Quyết - cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - cựu Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Thượng tướng Phùng Thế Tài - cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo – cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân sự. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp – cựu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Trung tướng Đồng Văn Cống - cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Trung tướng Lê Tự Đồng - cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Phạm Hồng Sơn - cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Nguyễn Hoà – cựu Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự tại Lào.

Thiếu tướng Nguyễn Tài - cựu Thứ trưởng Bộ Công an. Ông Nguyễn Văn Thi - cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền... cùng với rất đông cán bộ lão thành cách mạng, sĩ quan cấp tá, đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.
Siêu quyền lực

Tổng cục 2 đã hoạt động ra sao và đã làm những gì khiến các công thần, những trụ cột của chế độ phẫn nộ đến như vậy?

Trong nhiều thư được gửi liên tục cho Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, những nhân vật vừa kể đã nêu ra vai trò, ý đồ của một số người tham gia nâng Cục 2 thành Tổng cục 2 và biến Tổng cục 2 thành một cơ quan “siêu quyền lực”, khiến Tổng cục 2 trở thành hiểm họa.

Trong đó, có hai sai phạm bị xác định là “siêu nghiêm trọng” và được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: Vụ Sáu Sứ và vụ T4.

Ông Bùi Tín - cựu Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, người theo dõi rất sát các diễn biến liên quan đến Tổng cục 2, tóm tắt về vụ Sáu Sứ:

“Vụ Sáu Sứ còn gọi là vụ Năm Châu, xảy ra từ Đại hội 7, năm 1991. Vụ đó do bàn tay của Tổng cục 2, bố trí cho một số Đảng viên lâu năm ở miền Nam là Năm Châu và Sáu Sứ ra Hà Nội, mục đích để giăng bẫy ông Võ Nguyên Giáp, rồi từ đó, kết luận là ông Võ Nguyên Giáp bè phái, tham quyền, có ý đồ tập trung một số tay chân của mình để lật đổ Bộ Chính trị và chính quyền hồi đó.

Thế nhưng tất cả những chuyện này là chuyện dựng đứng. Do đó mà ông Giáp yêu cầu phải làm rõ vụ Năm Châu và Sáu Sứ. Lúc ấy, họ cho rằng ông Giáp có ý định giành quyền Tổng bí thư và được ông Trần Văn Trà tiếp sức. Ông Trần Văn Trà định là giành chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Thế nhưng tất cả những cái đó đều là sự bịa đặt của Lê Đức Anh, của Nguyễn Chí Vịnh, của Đỗ Mười,để làm hại ông Võ Nguyên Giáp. Đấy là tóm tắt vụ Sáu Sứ với Năm Châu. Cả ông Năm Châu, bà Sáu Sứ đều đã chết rồi.”

Vụ T4 cũng có tính chất tương tự, ông Bùi Tín kể tiếp:

“Vụ T4 là vụ Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng cục 2 bịa đặt rằng họ đã đặt được một gián điệp của Việt Nam vào cơ quan CIA vàđiệp viên đó có bí danh là T4. T4 thông báo danh sách những người đã cộng tác với CIA, đã tiếp xúc với CIA, đã làm tay sai cho CIA.

Danh sách đó dài lắm. Nó lên tới hơn 20 người. Trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà rồi những người lúc bấy giờ đang còn tại chức như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,..

Mục đích của họ là gì? Mục đích của họ là bôi nhọ những người đó, rồi Tổng cục 2 cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười được nước láng giềng lớn giúp đỡ làm một cuộc đảo chính, lật đổ hết và dựng lên một chính quyền mới, một Bộ Chính trị mới, một Ban Chấp hành Trung ương hoàn toàn mới và hoàn toàn là tay sai của Bắc Kinh.

Đó là mưu đồ của T4 và cũng đã bị ông Giáp tố cáo, yêu cầu phải giải quyết một cách triệt để.”

Theo nhiều tài liệu, Sáu Sứ và T4 chỉ là hai trong hàng loạt sai phạm đã xảy ra tại Tổng cục 2 và sự phẫn nộ trong hàng ngũ các công thần, những trụ cột của chế độ đã buộc Đảng CSVN phải tính đến việc xem xét toàn diện các sai phạm này vào năm 2005.

Kết qủa xem xét, xử lý ra sao? Chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình trong bài kế tiếp.