วันศุกร์ที่ 28 พฤศจิกายน พ.ศ. 2551

No133: Bỏ Phiếu Bất Tín Nhiệm?

Vậy là chuyện bầu lên các ông xã trưởng kể như hỏng. Ít nhất thì các ông đại biểu quốc hội cũng không nỡ nói là "hỏng," mà chỉ nói là "hoãn," nhưng chắc chắn rằng không ai ngồi một chỗ mà chờ mà đợi. Thế là phá vỡ xong âm mưu của bọn nghiện ngập dân chủ đang luồn sâu trèo cao để thực hiện chiến dịch "dân chủ quy hoạch." Vậy rồi kế tiếp, bây giờ Đảng CSVN phải tính làm sao để đoàn xiếc nhân dân Ba Đình trình diễn màn ảo thuật dân chủ? Hay là chúng ta cứ thử đề nghị màn "dân chủ làm nháp," nghĩa là bài toán chỉ mới làm ngoài tờ giấy nháp thôi... Thế là dân sẽ không nổi giận, quốc tế cũng không bực bội, và đảng CSVN cũng vẫn nắm quyền...

Hà Nội thấy rõ là luôn luôn nắm lấy ngọn cờ đầu, bất kể là phong trào gì... Lần này là màn hấp dẫn nhất: dân chủ. Sau khi kèn trống của màn dân chủ bầu ở cấp xã dẹp vào hội trường xong, chính quyền Hà Nội lập tức đưa ra ngay màn xiếc mới. Thoạt nghe thì không hấp dẫn, trông như anh hề quá nhẵn mặt, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì thấy vẫn là "sáng tạo."

Bài báo trên Hà Nội Mới ngày 24-11-2008 có nhan đề dài dòng "Lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp xã: Phải dân chủ, đúng quy trình, phát huy quyền làm chủ của nhân dân."

Bài báo này là cuộc phỏng vấn nêu rõ nội dung ngay ở đoạn đầu bài, "Dư luận hiện đang quan tâm đến việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch (CT), Phó CT HĐND và CT, Phó CT UBND cấp xã, năm 2008. Phóng viên Thu Hằng của báo Hà nội Mới đã có cuộc phỏng vấn ông Bùi Xuân Hộ, Phó CT Thường trực UB MTTQ TP Hà Nội về vấn đề này."

Điều cần ghi nhận, "dư luận hiện đang quan tâm" là dư luận nào? Đoàn xiếc đại biểu Ba Đình hay là nhân dân Hà Nội vừa mới chạy lụt? Và tại sao lấy phiếu tín nhiệm? Không phải đảng CSVN đã "bố trí" xong là đã có dư thừa tín nhiệm rồi sao?

Điều cần ghi nhận nữa, đây là màn dân chủ quy hoạch, có sẵn trong dự án cả rồi, vì đã có pháp lệnh cả rồi. Y hệt như thời phong kiến Trung Quốc, vua đánh trống xuân xong, hoa khắp vườn thiên hạ mới được phép nở.

Ông Bùi Xuân Hộ nói, trích:

"Khoản 1, điều 26, chương VI, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được UB Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 20-4-2007 quy định rõ: "Hai năm một lần, trong mỗi nhiệm kỳ của HĐND cấp xã, Ban Thường trực UB MTTQ Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với CT, Phó CT HĐND và CT, Phó CT UBND cấp xã". Xác định rõ đây là một chủ trương đúng đắn, có tác dụng thiết thực về nhiều mặt và là điều kiện để nhân dân phát huy dân chủ trực tiếp vào xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, vì vậy UB MTTQ TP đã tham mưu với Thành ủy Hà Nội ra Chỉ thị về việc lãnh đạo tổ chức lấy phiếu tín nhiệm; thành lập Ban chỉ đạo tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với CT, Phó CT HĐND và CT, Phó CT UBND cấp xã. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, nên phải được thực hiện dân chủ, đúng quy trình, tránh những biểu hiện lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết; bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, vai trò chủ động, tích cực của MTTQ. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm giúp cho cấp ủy làm tốt công tác cán bộ, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh." (hết trích)

Vậy thì, ai có quyền bỏ phiếu tín nhiệm? Và nếu bị bỏ phiếu bất tín nhiệm thì sao? Trong đoạn văn trên, ông Hộ đã nói rằng "...tránh những biểu hiện lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết; bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng..." nghĩa là xong rồi, bỏ phiếu trái ý lãnh đạo là bị quy chụp gây mất đoàn kết mà lại không bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng...

Thế cho nên, màn này thấy rõ là giễu dở, chắc chắn không ai quan tâm. Vì đảng lãnh đạo thì còn nói gì nữa, cứ để cho đảng bầu luôn đi. Mà thực tế là Đảng CSVN đã nhận luôn nhiệm vụ bỏ phiếu giùm người dân rồi, cũng theo bài báo.

Nếu đọc kỹ từng lời ông Hộ nói, chúng ta thấy ngay là hoàn toàn không có chuyện người dân bỏ phiếu. Thành phần ngoài các cán bộ chỉ huy, còn là thành viên Uủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc (nghĩa là cấp ủy viên), và mở rộng tới Ban Thường Vụ các tổ chức cấp xã, các cấp Trưởng Ban, Trưởng Tổ... nghĩa là không phải ai cũng bỏ phiếu. Nghĩa là chuyện này đã dàn dựng sẵn, làm ba mươi giây là xong, khỏi cần chia phe tranh cử hay mở hồ sơ tham nhũng để tố cáo bất tín nhiệm gì cả. Nghĩa là, ông Thành Uủy Hà Nội đưa chiếc nón đội trên đầu chìa ra, là trong vòng ba mươi giây sẽ có ngay bầy chim từ trong nón bay ra líu lo, hát bài dân chủ cơ sở, dân chủ quy hoạch, dân chủ "bỏ phiếu tín nhiệm" và vân vân. Ảo thuật thế mới hay.

Báo Hà Nội Mới ghi tiếp lời ông Hộ:

"- Ông Bùi Xuân Hộ: Cùng với việc chủ động tham mưu với Thành ủy ban hành chỉ thị; thành lập BCĐ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm CT, Phó CT HĐND và CT, Phó CT UBND cấp xã; phối hợp với các sở, ngành xây dựng các văn bản, hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện, UB MTTQ TP chỉ đạo các quận, huyện, TP trực thuộc tổ chức tập huấn, triển khai đầy đủ quy trình tổ chức lấy phiếu tới Ban Thường trực UB MTTQ xã, phường, thị trấn và Trưởng ban CTMT khu dân cư. BCĐ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của TP tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các bước tổ chức lấy phiếu tín nhiệm ở cơ sở.

Thành phần tham gia bỏ phiếu tín nhiệm được mở rộng hơn trước. Ngoài thành viên UB MTTQ còn có sự tham gia của Ban Thường vụ các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã, Trưởng ban Thanh tra nhân dân, Trưởng ban Giám sát đầu tư cộng đồng (nếu có), Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban CTMT thôn, tổ dân phố. Như vậy sẽ hạn chế được việc tổ chức hình thức, chiếu lệ như trước đây. Việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín (không phải biểu quyết bằng hình thức giơ tay như trước). Như vậy tránh được sự e dè, nể nang trong quá trình bỏ phiếu. Người dân sẽ phát huy được quyền làm chủ của mình, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng vững mạnh. Việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với CT, Phó CT HĐND và CT, Phó CT UBND cấp xã năm nay dự kiến sẽ hoàn thành trước 30-11-2008." (hết trích)

Phải nói là tuyệt vời. Hà Nội lúc nào cũng nắm ngọn cờ đầu, kể cả biết cách làm xiếc thần tốc. Nếu chúng ta chú ý, bài báo đề ngày 24-11-2008, thì ông Hộ triển khai sáng kiến "bỏ phiếu bất tín nhiệm" có thể là vài ngày trước, và tới cuối tháng này, tức chưa đầy một tuần tính tới ngày bài báo in ra, thì là bỏ phiếu xong.

Tuyệt vời. Sao mà nhanh thế. Phải làm khẩn cấp, có phải là để cho bọn "dân chủ tàng hình" phải bó tay, đừng có lớn tiếng mở kịp hồ sơ "bất tín nhiệm" nào?

Thế nhưng, tại sao lại phải trình diễn "bỏ phiếu bất tín nhiệm"?

No132: Bầu CT Xã: Khi Việt Nam sợ những bước đi chập chững Dân chủ.




Khi Thằng Bé Cộng Sản Việt Nam sợ những bước đi chập chững dân chủ

Theo tin Vietnamnet, hôm 15 tháng 11 vừa qua, ngay trước khi bế mạc kỳ họp thứ tư, với 95 phần trăm số phiếu tán thành, quốc hội cộng sản Việt Nam đã bỏ quyết định về thí điểm cho người dân trực tiếp bầu chủ tịch xã. Nói là việc này "được lùi lại, cân nhắc và tiếp tục nghiên cứu để quyết định vào thời gian thích hợp."

Trước đó, trong khi thảo luận lần đầu tại các phiên họp tổ, và tại Hội trường quốc hội, đa số đều nhất trí với chủ trương cho người dân bầu trực tiếp chủ tịch xã. Xem đây là "một bước tiến dân chủ và kỳ vọng tiến tới sẽ bầu trực tiếp ở cấp cao hơn.". Giải trình trước quốc hội hôm 7-11, Bộ trưởng Nội vụ Cộng sản Việt Nam Nam Trần Văn Tuấn khẳng định rằng, chủ trương này đã được nghiên cứu kỹ, đã lấy ý kiến của các địa phương, và nhận được sự ủng hộ... Tuy nhiên, chỉ một tuần sau đó, Phó Chủ tịch quốc hội Uông Chu Lưu lại giải trình trước quốc hội rằng,vì còn nhiều mô hình khác nhau, nên việc bầu trực tiếp như vậy sẽ không thuận cho chỉ đạo, điều hành.

Tại sao Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam lại đi thụt lùi trên bước tiến dân chủ ngay từ bước đầu dò dẫm như thế? Câu trả lời có lẽ nằm trong câu chuyện bầu cử Xã sau đây, mà các báo đài của nhà nước đã không dám loan tải.

Mới đây Cộng Sản Việt Nam đã thử nghiệm cho bầu cử “tự do, dân chủ” chức vụ chủ tịch Xã ở một vài địa điểm. Tại xã Ngọc Mỹ, Huyện Quốc Oai, Hà Tây, qua 3 đời chủ tịch Xã: Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Thế Dục, Nguyễn Văn Khôi, dân trong xã đã thấy những chủ tịch xã vừa kể đều bất xứng. Trong đợt bầu cử Xã vào tháng 6/2008, Chủ tịch xã đương nhiệm Nguyễn Văn Khôi ra ứng cử, dân chúng trong Xã phản đối, tẩy chay không tham gia đi bầu. Sau cùng Uỷ ban Nhân Dân Hà Tây phải đưa ra nhân sự mới là Nguyễn Chí Lợi ra ứng cử. Dân chúng Xã Ngọc Mỹ cũng không đồng ý tham gia bầu cử với 1 ứng viên độc diễn được đảng đưa ra, và họ tự đề cử một cựu chiến binh là ông Nguyễn Văn Trực ra tranh cử cùng với ông Nguyễn Chí Lợi. Kết quả ông Trực thắng cử và thắng lớn. Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây đã buộc phải chấp nhận kết quả,và ông Nguyễn Văn Trực là tân Chủ Tịch xã Ngọc Mỹ, Huyện. Quốc Oai, Hà Tây.

Đây là một sự kiện phấn khởi, cần được loan tin rộng rãi, để nêu cao tinh thần “Nhà Nước là từ dân, của dân, vì dân”. Vì qua cuộc bầu cử trên, người dân xã Ngọc Mỹ đã thể hiện đúng nghĩa tinh thẫn người dân àm chủ tập thể, tự quyết định lấy vận mạng của mình, tự chọn cho mình người đại diện mà mình tin tưởng, thay vì để người khác chọn hộ. Bà con xã Ngọc Mỹ cũng đã chứng tỏ một ý thức dân chủ cao độ, đầy tự tin, khi cương quyết từ chối tham gia vào những cuộc bầu cử mà họ không được có cơ hội bầu cử một cách công bình. Chính sự tự tin và cương quyết đó đã buộc Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây phải chấp nhận kết quả cuộc bầu cử dân chủ này. Sau đó, Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây đã tôn trọng ý nguyện người dân, thể hiện tinh thần nhà nước là công bộc phục vụ nhân dân, lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Thái độ này của Ủy Ban Nhân Dân Hà Tây nhiều phần sẽ được nhân dân tín nhiệm, mà không cần phải có sự giúp đỡ qua những áp đặt chuyên chế từ Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam bao năm qua đã hô hào dân chủ hoá từ cơ sở, lẽ ra phải vui mừng với cuộc bầu cử kể trên tại xã Ngọc Mỹ, thì lại tỏ vẻ lo ngại. Sự lo ngại này biểu hiện qua việc không cho báo đài loan tải tin tức về cuộc bầu cử đó, và vội vàng đình chỉ vô hạn định những thử nghiệm cho dân bầu trực tiếp người đại diện ở cấp xã. Sợ rằng đảng sẽ mất quyền làm cha mẹ. Chỉ với quyết định cho người dân bầu cử trực tiếp ở đơn vị thấp nhất là xã, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vội rụt lại, không dám thử tiếp những bước chập chững trên đường dân chủ hóa, thì nhân dân Việt Nam không thể thụ động chờ mong Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ dẫn dắt Việt Nam hội nhập vào thế giới dân chủ pháp quyền như họ đã hứa hẹn.

Để khỏi lại phải ăn bánh vẽ của đảng Cộng Sản Việt Nam thêm một lần nữa, người dân Việt Nam cần noi gương bà con xã Ngọc Mỹ, Hà Tây. Tự tin, mạnh dạn thực hiện quyền làm chủ cho chính mình Cương quyết tẩy chay mọi cuộc bỏ phiếu Đảng Cử Dân phải bầu. Những cuộc bầu cử phải là cơ hội để người dân thực hiện quyền dân chủ thực sự, qua việc tự mình chọn lựa người đại diện xứng đáng cho mình.

วันพฤหัสบดีที่ 27 พฤศจิกายน พ.ศ. 2551

No131: Tài liệu mới: Hồ Chí Minh là người Khách Gia (Hakka) - tức người Hẹ, thuộc Hán tộc

Click the image to open in full size.

Khách Gia (Hakka) hay còn gọi là người Hẹ, là một tộc người Hán từ miền Bắc Trung Hoa di cư xuống miền Nam từ đời Tống, Đường, Minh, Thanh, Dân Quốc… ra đến hải ngoại. Tuy bôn ba như thế, nhưng người Khách Gia đã tạo nên một sự nghiệp nhân lực và nhân tài không chỉ riêng cho đại lục Trung Hoa.
Từ Hồng Tú Toàn của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, sau đó càng sanh sản thêm những nhân vật lỗi lạc có gốc là người Khách Gia như Tôn Dật Tiên, hai chị em Tống Khánh Linh Tống Mỹ Linh, Đặng Tiểu Bình, Lý Đăng Huy, Lý Quang Diệu v.v.

Tôi từng đọc trên một website giáo dục của người Khách Gia do Giáo sư A Quý thành lập (http://www.sctlog.sctnet.edu.tw) , ông đã dẫn ra một loạt tên tuổi các nhân vật nổi tiếng người Khách Gia từ đời Đường, Minh… di cư đến các nước như Mã Lai, Ấn Độ, Mỹ Quốc, Tân Gia Ba v.v. Và thật bất ngờ, người Khách Gia nổi tiếng duy nhất trong dòng Khách Gia tại Việt Nam được Giáo sư A Quý ghi tên là…”Hồ Chí Minh (Việt Nam chi Tổ phụ)”!
Có phải chăng đây là sự thật?
Sau trận công khai về những chuyện tình bê bối của Hồ Chí Minh do đàn anh Trung Quốc thực hiện trong thời gian vừa qua. Vào đầu tháng 11 năm nay, bức màn đen tối dần được vén cao hơn, kỳ này là từ phía Đài Loan!
“Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo”
Sách “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo” (Khảo cứu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do tác giả Giáo sư Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) dày công nghiên cứu trong nhiều năm qua. Sách vừa được Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01/11/2008 (mã số ISBN: 9789866820779). Giáo sư Hùng sanh năm 1949, tốt nghiệp khoa lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, có kinh nghiệm giáo chức 30 năm đồng thời ông còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. Với kinh nghiệm như thế, thì không lẽ nào Giáo sư Hùng lại đi nghiên cứu một đề tài xa vời.
Nhưng vì sao một người Đài Loan lại quan tâm đến Hồ Chí Minh? Vì lẽ, Hồ Chí Minh xuất thân là người tộc Hồ trong nhóm Khách Gia tại huyện Miên Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan (nơi mà tháng 07/2008, đoàn ca kịch và nghệ sĩ Việt Nam đã phục vụ chương trình “Hát cùng người xa xứ” cho cô dâu Việt tại Đài Loan).
Bìa sách "Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo"




Sách "Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo" giới thiệu trên website Press Store
Theo ông Hùng, đề tài Hồ Chí Minh đã bị Việt Nam và Trung Quốc che dấu ngụy trang quá nhiều, đến nỗi không còn biết đâu là sự thật. Tuy nhiên, theo các bậc trưởng lão trong dòng tộc của Giáo sư Hùng và truyền khẩu lâu đời giữa người Đài Loan thì Hồ Chí Minh “vị cha già của dân tộc Việt Nam” chính danh là Hồ Tập Chương, một người của dòng tộc Giáo sư Hùng!
Trong quá trình nghiên cứu để tìm ra sự thật. Giáo sư Hùng đã căn cứ theo hai cái tên là Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Giáo sư Hùng đã phát hiện ra đòn “di căn tiếp mộc” (dời hoa ghép nhánh) thâm độc của Trung Quốc: Nguyễn Ái Quốc đã chết có giấy chứng tử do bệnh lao vào năm 1932. Từ năm 1933 trở đi là sự thâm nhập của gián điệp Hồ Tập Chương!…
Những nghiên cứu trong sách còn rẩt nhiều. Như tác phẩm nổi tiếng “Ngục Trung Nhật Ký” là văn phong của người Khách Gia, chuyện hôn nhân, di chúc v.v… Nếu biết Trung văn, ta có thể tham khảo qua nội dung sách và trọn mục lục tại địa chỉ mạng của nhà sách Press Store: http://www.vital.com.tw/ps/book/book….asp?bo_id=302

Tác giả Giáo sư Hùng dù sao cũng có chủ ý là tạo thêm thanh thế cho người Khách Gia. Nếu nghiên cứu của ông là chính xác, vô hình chung ông đã giúp cho dân tộc Việt Nam chúng tôi rất nhiều! Hăy cảm ơn ông! Dân tộc Việt!
Rất mong các cao thủ giỏi Trung văn khai thác thêm cho dân tộc Việt Nam được sáng tỏ!
Hồ Chí Minh, kẻ tội phạm gây ra cái chết của 7 triệu xác chết và 20 năm nội chiến đẫm máu tại Việt Nam! Thực chát là một tên người Hẹ không hơn không kém đã lãnh đạo cả nước Việt đi vào đường cùng, gây chia rẽ dân tộc không thể hàn gắn và một đám hậu duệ khốn nạn đang tiếp tục dâng hết đất biển Việt Nam cho Tàu Cộng! Đất nước Việt Nam không thuộc về chúng nó! Đúng vậy! Bọn ngoại bang đứng ngay trong lòng dân tộc! Tại sao lại còn giữ cái xác của hắn?
Bài viết của tác giả: Chân Mây
http://vietlinhweb.com/Diendan/index.php?s=7f2b311b935e0d43cdd39fc7f071fe29&showtopic=5159&pid=9629&st=0&#

Sách "Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo" được bán online tại:

http://www.books.com.tw/exep/prod/bo...tem=0010419950

http://buy.yahoo.com.tw/gdsale/gdsale.asp?gdid=1193178

วันพุธที่ 26 พฤศจิกายน พ.ศ. 2551

No130: Khoanh lại và Vỡ lở

“…có khoanh mấy đi nữa thì vụ án rồi cũng bị lộ, bị vỡ, bị bể. Tiếng Việt ta có những từ thật hay, giàu hình tượng, gây ấn tượng. Đó là từ vỡ, và "vỡ lở ". Vỡ lỡ là vỡ rộng dần, vỡ lan ra, vỡ và tan nát…”

Cái chủ trương "khoanh lại" đang được nhóm lãnh đạo ở Hà Nội dùng ngày càng rộng rãi.

Vụ PCI - Pacific Consultant Institute (Viện tư vấn Pacific) được khoanh lại; báo chí, phát thanh, truyền hình... bị cấm không được nói đến, bàn đến. Vụ Hoàng Sa - Trường Sa có bị mất hay không, mất đến đâu rồi, giải quyết ra sao cũng không được bàn đến, nói đến.

Vụ PMU 18 được coi là vụ tham nhũng số 1 trong 10 vụ lớn nhất năm 2006 cũng bị ém nhẹm, nói đến nó là "phạm húy", là vu cáo, là phạm pháp, là vào tù.

Bộ chính trị đảng Cộng sản khoá X, gồm 14 quan lớn toàn quyền hiện nay, có thể được mang tên là: Bộ chính trị khoá "Khoanh lại ".

Chữ "khoanh lại" được chính thức dùng trong nghị quyết của cuộc họp cuối cùng, mang số 14, của Ban chấp hành trung ương đảng CS khoá IX, họp đầu tháng 4 năm 2006.

Trước đó, vào đầu năm 2005, Ban chấp hành Trung ương ra quyết định thành lập một Ban Kiểm tra Liên ngành để điều tra về vụ án được gọi là "siêu nghiêm trọng" liên quan đến Tổng cục 2 và Vụ T4. Đầu năm 2006, Ban kiểm tra liên ngành này gồm những viên chức cấp cao được chọn từ Ban kiểm tra trung ương đảng, Ban Tổ chức trung ương đảng, Ban Bảo vệ trung ương đảng, Viện kiểm sát tối cao, Toà án Nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp... đã viết lên một tập báo cáo tuyệt mật cực kỳ hệ trọng để trình trung ương và sau đó sẽ trình ra Đại hội đảng khoá X vào ngày 19-4-2006. Tại cuộc họp Trung ương 14 đầu tháng 4-2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh lẽ ra phải trình Trung ương Bản báo cáo ấy, nhưng ông ta lại đề nghị với trung ương thôi, không nghe bản báo cáo ấy nữa, giao cho bộ chính trị đọc thay (!) và coi như giải quyết xong xuôi (!), bởi vì những vấn đề lớn nhất của báo cáo đã thuộc về quá khứ, không có hậu quả lớn, nếu để lộ ra sẽ rất bất lợi cho đảng. Vì là cuộc họp trung ương cuối cùng của khoá IX, các vị trung ương buộc lòng phải nghe lời, từ nhiệm trách nhiệm của chính mình là có quyền lực cao hơn bộ chính trị, "lập công" bóp chết bản báo cáo kinh khủng này, để còn hy vọng được cử lại vào trung ương khoá X. Đây là hậu quả của nếp tổ chức riêng của các đảng cộng sản là tạo nên các cấp uỷ bằng cách trên tuyển chọn dưới, không phải dưới tuyển lựa bầu cấp trên.

Việc "khoanh" bản báo cáo kiểm tra liên ngành về vụ Tổng cục 2 là một vi phạm ngang nhiên điều lệ của đảng Cộng sản, chà đạp thô bạo quyền dân chủ nội bộ, đi ngược với xu thế công khai, minh bạch thời mở cửa và hội nhập. Đây là sáng kiến, công đầu (!) của ông tổng Mạnh, cũng là món nợ lịch sử của ông Mạnh đối với đảng cộng sản, đối với xã hội, ông không thể trốn tránh và quỵt mãi được. Bởi vì ý muốn về công bằng, công khai, minh bạch của xã hội là một sức mạnh không thế lực nào ngăn chặn được. Lịch sử của mọi xã hội là từ độc đoán đến dân chủ, từ bị đè nén áp bức đến được tự do, bình đẳng, tù tối tăm, mờ ám đến minh bạch, sáng tỏ. Xu thế phát hiện, khám phá ra sự thật và chân lý là xu thế phát triển của khoa học.

Cho nên có "khoanh" tất có "vỡ". Có "khoanh lại" tất có "vỡ ra". Vì khoanh lại tạo nên sức dồn nén, khoanh càng chặt sức công phá càng lớn. Bức tường Berlin khoanh "phe xã hội chủ nghĩa hiện thực" đã vỡ tan trong có vài giờ.

Quốc hội Hà Nội họp mới rồi lẽ ra đã phải bàn về "Luật đất đai sửa đổi" và về "Luật báo chí mới", nhưng bộ chính trị lo sợ rằng cuộc thảo luận công khai về 2 luật này sẽ mang tính bùng nổ, nên quyết định "khoanh lại" cho đến cuối năm 2009. Bởi vì dự thảo lần thứ 6 do bộ Tài nguyên Môi trường và bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn chuẩn bị vẫn bất cập so với đòi hỏi chính đáng của xã hội. Nông dân ta đòi lại quyền sở hữu tư nhân về đất đai như ở hầu hết mọi nước khác; sao tư nhân ngành thương nghiệp, ngành công nghiệp, ngành dịch vụ đều đã có quyền sở hữu cá nhân mà riêng nông dân ta vẫn trắng tay, vẫn chỉ là người bơ vơ, làm thuê trên đồng ruộng của chính mình? Về luật báo chí, hơn 10 vạn nhà báo viết, báo nói, báo mạng, báo ảnh hầu hết đều mong được là nhà báo tự do, như gần một triệu nhà báo khác trên thế giới; không ai có quyền bắt buộc mọi nhà báo phải là viên chức, công chức của nhà nước, của đảng, để bị sai bảo, kiểm soát như con trẻ chưa trưởng thành. Có bao giờ báo chí Việt Nam nhạt nhẽo, nhàm chán, giống nhau như mặc đồng phục, bị xã hội chê trách như hiện nay, trong khi cuộc sống sôi động, cần đến một công luận kịp thời, sắc sảo, định hướng cho xã hội đang hỗn loạn.

Với mấy chục triệu nông dân từng góp hàng triệu thanh niên liệt sỹ cho cuộc chiến, để rồi bị cướp hết ruộng đất, thành dân oan; liên minh công nông trên đầu lưỡi của đảng chỉ còn là khẩu hiệu cay đắng; với hơn 10 vạn nhà báo bị đảng khinh thị xử sự như tôi đòi, việc khoanh lại 2 đạo luật chỉ làm cho sự phẫn nộ khi nổ ra sẽ xung thiên như sấm động.
Photobucket - Video and Image Hosting
Chẳng phải chờ lâu. Ngay lúc này, vụ PCI bắt đầu nổ. 4 viên chức cấp cao của Nhật bản đã khai nhiều tình tiết, thú nhận tội trước Toà án Tokyô, hồ sơ của vụ án đã được chuyển đến Hà Nội với những quan chức Nhật bản đi theo. Hà nội cố khoanh lại suốt 3 tháng trời, buộc phải ngọ nguậy, sờ gáy bị cáo Huỳnh Ngọc Sỹ, hỏi thăm ông ta và cử người thay thế. Các bị cáo Nhật khai đã đưa ông Sỹ 820 ngàn đôla tiền mặt, và số đưa hối lộ cho Việt Nam các đợt cộng lại là 2 triệu 6 đôla.

Nếu như phía Việt Nam vào cuộc sớm thì sau 3 tháng việc phá án đã được thực hiện sâu lắm rồi, danh sách đồng phạm với ông Sỹ không thể ngắn. Nhưng biện pháp "khoanh" đã được áp dụng, từ từ, đủng đỉnh, vì quân ta đối với quân mình mà, vì "đồng chí nhà ta " cả. Khoanh chừng nào tốt chừng ấy. Bức màn vén dần lên; thì ra ông Huỳnh Ngọc Sỹ là từ cán bộ Thanh niên xung phong mà lên, từ 1995 đến 1999 là Giám đốc công ty Thanh niên xung phong Sàigòn khi đảng dùng sức trẻ làm kinh tế cho đảng, nhận thầu các công trình lớn. Rồi ông lên chức Phó giám đốc Sở Giao thông vận tải Sài gòn, kiêm luôn Trưởng ban quản lý dự án Đại lộ Đông tây, cũng là trưởng ban quản lý dự án cải tạo môi trường nước Sài Gòn. Bộ máy cai trị Sài gòn hiểu ngay ông Sỹ là viên chức có thế lực, được trọng dụng từ thời ông Trương Tấn Sang làm chủ tịch thành phố (ông Sang do mang tiếng ăn chơi buông thả quá xá phải dời ra Hà Nội ngồi ghế trưởng ban kinh tế); ông Ngọc cũng thân cận với ông Nguyễn Minh Triết khi ông Triết làm Bí thư thành uỷ và khi ông Lê Thanh Hải làm chủ tịch thành phố. Ông Sỹ và ông Hải còn chuẩn bị thông gia với nhau. Ông Hải hiện là Bí thư thành uỷ Sàigòn, uỷ viên bộ chính trị.

Đã 2 năm nay, các nhà nghiên cứu về Việt Nam của Trường Đại học Harvard dùng danh từ " nhóm lợi ích " - interest-groups - để chỉ một hiện tượng kinh tế - chính trị nguy hiểm, sự cố kết ám muội của những kẻ có quyền lực và vốn liếng thành từng nhóm riêng biệt nhằm kiếm chác những quả thầu béo bở nhất, đục khoét tài sản của đất nước với quy mô lớn. Ở Nga, các nhà kinh tế quốc tế gọi các nhóm lợi ích - tội phạm - cầm quyền này là "mafia - cộng sản".

Đúng vào lúc ở Quốc hội Hà Nội ông thủ tướng Dũng buộc phải hứa sẽ xử lý nghiêm vụ PCI, ở Lima (Pêru) ông Triết buộc phải hứa với thủ tướng Nhật Taro Aso xử lý nghiêm các quan chức liên quan, thì... ở Sài Gòn ông Sỹ lăn ra bất tỉnh tối 23-11 vì một cơn nhồi máu ở tim, phải vào bệnh viện nằm riêng một nơi, không ai được gặp. Một cuộc đột quỵ. Vì quá lo nghĩ ? Vì bị Trời hành do ăn bẩn ? Hay là theo lệnh đảng ? Để khoanh thêm một thời gian? Hay để xoá một đầu mối ? Màn tuồng Lê Lai liều mình cứu chúa?

Ở các nước có tự do báo chí, các nhà báo có tâm và có tài tha hồ đua nhau lao vào cuộc; họ sẽ đến sở giao thông, cơ quan quản lý dự án đường cao tốc Đông tây, lấy tài liệu, phỏng vấn, đến bệnh viện, nhà riêng, hỏi bạn bè, cộng sự của ông Hải, xem kỹ các biên bản đấu thầu ...Sau 100 ngày điều tra, đã khui ra khối chuyện. Nhưng họ đang bị trói tay, bịt mắt. Ở nhiều nước có những phóng viên, thám tử chuyên điều tra riêng biệt về tự sát, về tai nạn, về giết người, cướp của, về án kinh tế. Ở ta nhà báo chỉ có một "chuyên môn" là bất động, chờ đảng mớm cho điều gì là nói theo đúng như vậy.

Nhưng có khoanh mấy đi nữa thì vụ án rồi cũng bị lộ, bị vỡ, bị bể. Tiếng Việt ta có những từ thật hay, giàu hình tượng, gây ấn tượng. Đó là từ vỡ, và "vỡ lở ". Vỡ lỡ là vỡ rộng dần, vỡ lan ra, vỡ và tan nát...

Vụ án siêu nghiêm trọng Tổng cục 12, với bản Báo cáo tuyệt mật tháng 4-2006 của Ban điều tra liên ngành rồi cũng sẽ vỡ lở ra.

Vụ án PCI đang rập rình vỡ dần ra, vẫn có thể vỡ lở ra như vụ Năm Cam hồi nào.

Vụ án khá lớn nữa là vụ Nexon - Technologies (Hoa kỳ) cũng hối lộ lớn ở Việt Nam với 4 công dân Mỹ đã bị khởi tố, nổ ra 3 tháng nay cũng khó mà khoanh lại cho êm, như vụ Trịnh Vĩnh Bình, công dân, đảng viên đảng Dân chủ Hà Lan, từng đòi nhà nước phải đền bù 100 triệu đôla, buộc bộ chinh trị phải đánh bài lùi, chịu thua, nhưng tiền đền bù lớn lấy từ đâu ?

Và vụ PMU18 nữa, gần 3 năm rồi, "khẩn trương" , "trách nhiệm chính trị chống tham nhũng cao", "không để lọt tội phạm" , "xử tội bất kể cấp nào phạm tội" mà như thế ư ?

Vụ PCI và vụ PMU18 dính liền nhau, cùng do thứ trưởng thường trực bộ giao thông Nguyễn Việt Tiến phụ trách, dùng vốn ODA viện trợ của chính phủ Nhật bản.

Mà Nguyễn Việt Tiến cùng Bùi Tiến Dũng đều nằm trong nhóm lợi ích với ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh, người gửi cả con gái và con rể cho 2 ông này trông nom, coi sóc, lại chính là người đẻ ra biện pháp "khoanh", theo ý tưởng chung: ta là đảng, ta là nhà nước, ta là pháp luật, ta muốn "khoanh lại" là khoanh. Ta là độc đảng, là độc quyền, là Chúa tể sơn hà.

Nhưng thưa ngài tổng bí thư và 14 vị thái thú, trên đời này còn có nhân dân đang thức tỉnh , còn có lẽ phải, còn có luật pháp quốc tế, còn có công luận, còn có các nhà đầu tư quốc tế rất khó tính, còn có những chính phủ dân chủ giàu có - chủ nợ của nước ta, rất công bằng, tôn trọng luật pháp và công pháp quốc tế. Quý vị sức mấy mà "khoanh " họ lại!

Cái vụ "vỡ lở" cực lớn sẽ có thể sớm nổ ra cuối năm nay chính là từ sự việc Bắc Kinh vừa triệu thủ tướng Dũng sang để thông báo trực tiếp: "cần ký hiệp định hoàn thành việc đặt cột mốc suốt giải biên giới trước khi năm 2008 này kết thúc", với tập bản đồ tỉ mỉ kèm theo; sau đó họ thò ngay ra tuần dương hạm Trịnh Hòa để ra oai. Khoanh lại suố 8 năm nay tập bản đồ ký tháng 12-1999 (tỉ lệ 1/25.000), khó mà khoanh lại tâp bản đồ tỉ mỉ hơn (tỉ lệ 1/5.000), nóng bỏng hơn của năm nay, hai bên phải phổ biến rộng rãi ngay để thực hiện ngiêm chỉnh. Mất bao nhiêu đất rành rành ra đấy. Không ai khoanh nổi.

Câu chuyện Khoanh lại và Vỡ lở sẽ còn dài.

Paris 26-11-2008
Bùi Tín

No129: Xã hội dân sự tại nông thôn Việt Nam

“…tình trạng xã hội bế tắc, hoang tàn như vậy là một vết thương rất ư trầm trọng, đã hằn sâu trong lòng dân tộc Việt Nam, mà chế độ cộng sản đã gây ra từ trên nửa thế kỷ nay. Và phải mất nhiều thế hệ nữa, thì dân tộc ta mới có thể lần lần phục hồi, củng cố tái thiết…”

Trong khoảng mười thế kỷ tự chủ, cha ông chúng ta đã xây dựng được một xã hội tương đối phát triển, ổn định và hài hoà. Nhất là tại các vùng nông thôn, các thuần phong mỹ tục vẫn được củng cố, duy trì qua bao nhiêu thế hệ. Kể cả sau khi bị mất chủ quyền vào tay người Pháp vào giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, lề thói sinh họat truyền thống tốt đẹp trong mỗi gia đình cũng như ngoài xã hội Việt nam vẫn không bị phá hoại mai một hư hại đi là bao nhiêu.

Từ ngàn xưa, cha ông chúng ta vẫn thường nêu cao khẩu hiệu “Phép vua thua lệ làng”, ngay dưới thời quân chủ phong kiến mà quyền hành của nhà vua được coi như tuyệt đối. Vào thời đó, tại các miền nông thôn đã có chế độ “xã thôn tự trị”, tức là tại các làng xã, chính quyền và dân chúng địa phương được dành nhiều quyền tự trị rông rãi, chứ không bị quá ràng buộc, lệ thuộc vào chính quyền ở trung ương tại kinh đô do nhà vua điều khiển. Mỗi làng xã đều có ngân sách riêng để tự mình lo trang trải các chi tiêu của địa phương, và như vậy là các hương chức có quyền thâu thuế để nộp vào ngân sách của làng. Dĩ nhiên là họ cũng có trách nhiệm thâu thuế cho chính quyền cấp tỉnh,cũng như cấp trung ương. Tức là cũng có 3 cấp chính quyền tương tự với ở các quốc gia văn minh ngày nay trên thế giới.

Phân tích chi tiết hơn về sinh họat xã hội tại nông thôn từ hồi trước 1945, ta thấy người dân phần đông được sống thoải mái trong bầu không khí yêu thương gắn bó của dòng tộc và tình liên đới tương trợ lẫn nhau của xóm giềng. Nếp sống thanh bình thân ái đó mà được duy trì lâu ngày là nhờ nơi đức độ và uy tín của các bậc tôn trưởng là những vị lãnh đạo tinh thần tại hạ tầng cơ sở nông thôn trong xã hội cổ truyền Việt Nam từ ngàn xưa, mà ngay dưới thời Pháp thuộc cũng vẫn còn giữ vững được. Các vị tôn trưởng này gồm một số quan chức đã hồi hưu, các vị đồ nho vốn là thầy dậy học cho các sĩ tử ở địa phương, các vị tu sĩ Phật giáo, Công giáo, và một số những nhân sĩ “xuất thân từ những dòng họ vốn có danh giá và được trọng vọng tại địa phương” v.v…Đây chính là những thành phần cốt lõi, rường cột của cộng đồng địa phương tại mỗi xóm làng ở nông thôn nước ta từ ngàn xưa. Chính cái tập thể giới lãnh đạo này từ nhiều thế hệ đã duy trì được nếp sống an vui, trật tự, điều hoà và nhân ái tại hạ tầng cơ sở nông thôn của chúng ta.

Nhờ các vị tôn trưởng này mà Xã hội Dân sự ở nông thôn đã giữ vững được vị thế và vai trò quan trọng của mình trong cộng đồng dân tộc. Như ta đã biết, khái niệm về Xã hội Dân sự (XHDS) mới chỉ được phổ biến thông dụng trong mấy chục năm gần đây, nhất là sau khi chế độ toàn trị cộng sản bị sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô từ năm 1989 trở đi.Đó là một khu vực cùng tồn tại song hành với khu vực Nhà nước và khu vực Thị trường, để tạo thành cái Không gian Xã hội (bao gồm ba yếu tố: Nhà nước + Cơ chế thị trường + xã hội dân sự). Và theo định nghĩa như vậy, ngay trong xã hội cổ truyền ở nước ta hay tại Trung Hoa, trước khi đảng cộng sản nắm trọn quyền hành để thiết lập nên một chế độ độc tài chuyên chế toàn trị nhằm chiếm lãnh độc quyền không những về chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn cả về mặt văn hóa, tinh thần và tâm linh nữa, thì XHDS vẫn tồn tại trong sinh họat thường ngày của các cư dân tại mỗi địa phương. Tức là từ khi đảng cộng sản chiếm được trọn bộ quyền hành rồi, thì họ đã chi phối không những bộ máy Nhà nước, guồng máy kinh tế, mà còn khống chế, lũng đoạn toàn bộ khu vực XHDS nữa. Ta sẽ phân tích chi tiết khía cạnh này trong phần tiếp theo sau đây, khi so sánh tình hình ở nông thôn ở hai giai đoạn trước và sau năm 1945 kể từ khi đảng cộng sản lên nắm chính quyền.

1 Như ta đã biết, trước khi người Pháp xâm chiếm nước ta, thì ngay đến giữa thế kỷ XIX, nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn là nền kinh tế nông nghiệp và tuyệt đại đa số nhân dân ta đều sinh sống tại nông thôn. Thời đó hầu như chưa có kỹ nghệ, mà chỉ có tiểu thủ công nghiệp, cũng như buôn bán nhỏ lồng trong đại bộ phận là sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, kỹ thuật thô sơ và năng xuất còn rất thấp. Đa số người dân suốt đời quanh quẩn trong phạm vi làng quê được bao bọc bằng lũy tre xanh vây xung quanh làng, do vậy mà họ quen biết lẫn nhau, gắn bó thân thiết với nhau và có tình liên đới tương trợ lẫn nhau mỗi khi “tắt lửa tối đèn”, hay gặp khi “trái gió trở trời, tai trời ách nước” v.v… Gia đình nào thì cũng phải lo việc “Hiếu, Hỷ” tức là việc tang ma, giỗ chạp cho cha mẹ, ông bà, hay đám cưới đám hỏi cho con cháu ; mà thường gọi là việc “Quan, Hôn, Tang, Tế”. Và mỗi lần như vậy, thì bà con lối xóm cùng nhau xúm vào giúp đỡ gia chủ trong mọi chi tiết thông thường của những loại biến cố thuộc sinh họat gia đình thường xuyên như thế này. Họ giúp đỡ nhau bằng cách cho mượn chén bát, nồi niêu, bàn ghế, giúp làm lều rạp che mưa chắn nắng, giúp cả việc nấu nướng để đãi ăn cho cả hàng trăm thưc khách. Và nhất là còn cho khách từ xa đến trú ngụ tại nhà mình, bởi lẽ căn nhà của gia chủ thường không bao giờ đủ rộng rãi để có thể chứa được số đông bà con của chính họ từ phương xa mà đến vào các dịp lễ nghi như vậy.

Người nông dân lại còn giúp đỡ nhau ngay cả trong việc xây cất, sửa chữa nhà cửa và cả trong việc đồng áng theo thể thức “Vần công, đổi công cho nhau”, nay cho nhà này, mai lại đến nhà mình v.v… Nhờ các việc giúp đỡ lẫn nhau như vậy (mutual assistance), mà bà con trở thành gắn bó, liên kết thân mật chặt chẽ với nhau (social cohesion). Từ đó, nếp sống cộng đồng có cơ được an vui, phấn chấn và mỗi thành viên cảm thấy thoải mái, thân thương với môi trường sinh hoạt đấy ắp tình người, tình xóm giềng, nghĩa đồng hương. Đến nỗi mà nhân gian có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “Thứ nhất cận lân, thứ nhì cận thân”, tức là có ý nhắc nhở lẫn nhau là: “Cần phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp, thân thiết với bà con láng giềng kề sát với mình”, giống như người Mỹ thường nói đến Good neighborhood.

Và như đã ghi ở trên, chính các bậc tôn trưởng được mọi người trong xóm làng tín nhiệm, cảm phục và mến yêu vừa do đức độ, tài năng của bản thân, và cũng vừa do uy tín của các bậc tiền nhân trong dòng tộc của họ, mà vốn đã từng có công đức lớn lao đối với dân làng, thì các vị đó đã đóng vai trò của giới lãnh đạo cho toàn thể cộng đồng địa phương xóm làng. Các nhân vật này, ta có thể còn tìm thấy dấu tích của họ như đã được ghi chép khá trung thực, chính xác trong các cuốn gia phả của nhiều dòng họ, mà hiện nay con cháu bao nhiêu đời sau vẫn cò lưu giữ được. Khảo sát cặn kẽ gia phả của những dòng họ danh giá như thế tại địa phương, chúng ta còn có thể thấy rõ được những công trạng to lớn, những đóng góp tuyệt vời của các bậc “sĩ phu quân tử” này đối với địa phương cơ sở mà dòng tộc của họ đã lâu đời lập nghiệp và sinh sống tại đó. Các nhân sĩ này cũng còn được liệt kê trong những cuốn Địa dư chí của mỗi địa phương. Và nhiều nơi, dân làng lại còn lập miếu thờ các “bậc tiên hiền”, để ghi nhớ công đức của các vị đã đóng góp nhiều cho sự phát triển và hưng thịnh của địa phương. Trên một phạm vi rộng lớn hơn, ta có thể tham khảo nơi cuốn Bách Việt tiên hiền chí do nhà biên khảo Trần Lam Giang mới công bố cách nay vài ba năm.

Dĩ nhiên, nông thôn của chúng ta thời xưa cũng chẳng phải là cõi thiên đàng với mọi sự đều tuyệt vời, hoàn hảo. Mà vẫn còn nhiều mặt trái với những hủ lậu, tham nhũng áp bức do giới cường hào ác bá gây ra.Các khuôn mặt tiêu cực này đã được khắc họa rõ nét trong văn học như là Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo, Nghị Hách trong Giông Tố và nhiều thứ tham quan, lại nhũng khác v.v… Nhưng nói chung, thì xã hội cổ truyền ở làng quê vẫn còn bảo tồn được nhiều tính cách lành mạnh, hoà nhã, nhân ái và lương hảo theo đúng với truyền thống đạo đức của dân tộc. “Sơn hà xã tắc, tôn ti trật tự”, cũng như nền nếp sinh họat “trên thuận dưới hoà” vẫn được người dân coi trọng. Tình trạng an hoà ổn định tại hạ tầng cơ sở nông thôn như thế này, một phần lớn đó là nhờ nơi công lao, đức độ và uy tín của các bậc tôn trưởng của mỗi địa phương như đã ghi ở trên.

Nhưng tiếc thay, sau năm 1945 kể từ khi người cộng sản lên nắm chính quyền, thì họ đã phá tan tành cái nền nếp truyền thống tốt đẹp đó ở nông thôn của nước ta. Trong cơn hăng say điên lọan của cuộc cách mạng đẫm máu với khẩu hiệu “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, đảng cộng sản đã phát động một cuộc tàn sát, tiêu diệt toàn bộ hệ thống lãnh đạo tại nông thôn, và thay vào đó là tầng lớp cán bộ của họ, mà được đào tạo trong tinh thần “Hận thù giai cấp, Bạo lực cách mạng, Vô sản chuyên chính”.

2 Kết quả là sau trên 60 năm người cộng sản nắm giữ độc quyền trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và cả đến văn hóa, tâm linh trên cả nước, thì Xã hội Dân sự tại nông thôn đã hoàn toàn bị phá nát hoang tàn.Tại làng quê, không còn thấy bóng dáng của một vị tôn trưởng vốn được người dân mến thương và thần phục như xưa nữa. Đầu tiên là cuộc “Cải cách ruộng đất” rập theo khuôn mẫu của Trung quốc,chính quyền cộng sản Việt Nam đã gửi các “Đội cải cách” xuống tận các thôn xóm để phát động cuộc đấu tố rất man rợ, sắt máu làm tiêu diệt mọi thành phần có tên tuổi ở địa phương. Chỉ trong có mấy năm, mà chiến dịch này đã hạ sát, bỏ tù hàng mấy trăm ngàn người, tịch thu mọi tài sản ruộng đất, nhà cửa của các nạn nhân bị quy kết là thuộc thành phần địa chủ. Các đội cải cách này có toàn quyền sinh sát đối với các nạn nhân, nên dân gian mới nói :” Nhất Đội, nhì Trời”, tức là họ còn có quyền thế hơn cả ông Trời nữa.Có thể nói trong lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ nông thôn Việt Nam lại bị tàn phá kinh hoàng như trong đợt cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950 như thế này. Đây rõ rệt là một cuộc “Đại khủng bố” nhằm tiêu diệt toàn bộ hệ thống lãnh đạo Xã hội Dân sự tại thôn quê miền Bắc nước ta.

Tiếp theo là chiến dịch “Tập thể hóa ruộng đất” được phát động cũng tàn bạo quyết liệt không kém việc cải cách ruông đất nói trên. Tất cả các thửa đất tư hữu của người dân đều bị cưỡng bức sung vào “hợp tác”, và nông dân bị biến thành người làm công, làm “nông nô”, được trả lương rất thấp kém, đến độ không thể nuôi sống cho riêng bản thân mình, nói chi đến cưu mang cho cả gia đình.Vì thế mà nông dân phải tìm cách làm thêm nhiều nghề vụn vặt hầu đắp đỗi qua ngày.

Rốt cuộc là cả hai chiến dịch Cải cách và Tập thể hóa ruộng đất này đã phá tan hoang tất cả nền nếp sinh hoạt của hương thôn mà cha ông chúng ta đã phải dầy công khó nhọc suốt bao nhiêu thế hệ mới gây dựng ra được.Vì kinh tế suy sụp, người dân lâm vào cảnh bần cùng đói kém, lại cộng thêm với cuộc chiến tranh Nam Bắc mỗi ngày một leo thang khủng khiếp, khiến cho tình trạng xã hội càng thêm tiêu điều, khốn khổ. Vì thế, có thể nói là khu vực Xã hội Dân sự truyền thống đã bị tan rã, vô hiệu hóa để mặc cho cán bộ nhà nước, cũng như các tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản như Đoàn Thanh Thiếu niên,Hội Phụ nữ,Mặt Trận Tổ quốc v.v…tha hồ mà tung hoành múa gậy vườn hoang, một mình một chợ, dọc ngang nào biết trên đầu có ai!

Vì chủ trương Bạo lực cách mạng, Chuyên chính vô sản, Tranh đấu giai cấp, Dân chủ tập trung… rất là cực đoan, quá khích đến độ cuồng tín theo sách lược của Staline, Mao Trạch Đông, cho nên các cán bộ, viên chức cộng sản ở nông thôn không hề có được uy tín và sự mến phục của quần chúng nhân dân, như trường hợp của các vị tôn trưởng tại làng quê hồi trước 1945 như đã mô tả chi tiết ở trên.Thành ra tại các miền quê nơi thôn xã đã có tình trạng “trống vắng lãnh đạo”, khiến cho người dân không còn có thể sinh họat theo lối “an cư lạc nghiệp”, như trong cảnh thanh bình, yên ấm thuở xưa. Và khu vực Xã hội Dân sự đã bị tê liệt, tan rã không còn sinh khí năng động, phấn khởi mà lại an hoà với tình nghĩa đôn hậu, chân chất của xóm làng trước đây nữa. Có thể nói tình trạng xã hội bế tắc, hoang tàn như vậy là một vết thương rất ư trầm trọng, đã hằn sâu trong lòng dân tộc Việt Nam, mà chế độ cộng sản đã gây ra từ trên nửa thế kỷ nay. Và phải mất nhiều thế hệ nữa, thì dân tộc ta mới có thể lần lần phục hồi, củng cố tái thiết. Bởi vì cái lòng hận thù, uất ức vốn bị dồn nén từ bao nhiêu năm nay trong các gia đình ở nông thôn chúng ta, thì không thể ngày một ngày hai mà giải toả, dẹp bỏ hết ngay đi được. Cũng như về mặt tích cực, ngay trong số con cháu của những “danh gia vọng tộc” ngày trước, thì cũng phải mất nhiều năm nữa họ mới gây dựng và quy tụ lại với nhau, hầu nối tiếp được cái sứ mạng cao quý, mà tổ tiên của họ đã có thời hoàn thành một cách xuất sắc, như đã được ghi lại trong sử sách cũng như trong lời truyền tụng của dân gian.

Công cuộc tái kiến thiết và phục hồi Xã hội Dân sự hiện đang được thực hiện tại các nước Đông Âu và Nga từ 20 năm nay, kể từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ, để trả lại quyền tự quyết cho nhân dân các quốc gia này được nhận lấy trách nhiệm hàn gắn những hận thù đổ vỡ trong xã hội, và tạo ra được một bàu không khí phấn khởi, nô nức nơi mọi tầng lớp quần chúng trước vận hội mới của đất nước mình. Và đây mới rõ ràng là một hành trình của mỗi dân tộc đó để “trở về lại với cuộc sống bình thường” của chính mình, như nhà xã hội học Max Weber đã từng viết ngay từ đầu thế kỷ XX.

Đó cũng là một kinh nghiệm quý báu cho dân tộc Việt Nam chúng ta, để chuẩn bị bước sang giai đoạn “hậu cộng sản”trong một tương lai không còn xa vời nữa vậy.

No128: Phải tạ ơn Nước Mỹ

Kể từ ngày định cư trên xứ Mỹ này gia đình anh Ba Lumbing không năm nào không mở tiệc nhân ngày lễ Tạ ơn. Không phải đợi đến lúc khá giả như bây giờ mà ngay từ khi chân ướt chân ráo đến Mỹ, đi học ESL, được cô giáo giảng về ý nghĩa của ngày lễ quan trọng này. Bài giảng “Thanksgiving and the American Indians” nhắc lại sự tích những người Puritans với con tàu Mayflower đi tìm tự do ở Tân Thế Giới cách đây gần 400 năm đã làm anh chị Ba vừa bùi ngùi vừa thích thú.

Đến đất thánh (Plymouth Rock, Massachusetts)
Nguồn: picasaweb.google.com
Vào năm 1620 những người từ Anh quốc chạy trốn sự đàn áp tôn giáo đã vượt biển đi tìm vùng đất tự do để thực hành niềm tin tôn giáo của mình, nên tự nhận là Pilgrims, nghĩa là những kẻ hành hương đi tìm vùng đất thánh. Cuối cùng họ đến được hải cảng Plymouth, tiểu bang Massachusetts ngày nay. Sau một mùa đông băng giá, do không thích nghi với thổ nhưỡng, nhóm người này đã chết đi phân nửa, từ 102 người chỉ còn lại 50. May thay sau đó họ được những thổ dân tốt bụng của bộ lạc Massasoit ở Plymouth giúp đỡ, chỉ cho những kinh nghiệm sinh tồn. Kết hợp với nghi lễ tôn giáo truyền thống tạ ơn Thuợng Đế, những người Pilgrims đã tổ chức buổi ăn tối nhằm cám ơn và thắt chặt mối quan hệ với thổ dân. Bữa ăn tối đầu tiên mở đầu cho lễ Thanksgiving truyền thống là vào mùa thu năm 1621, với món gà tây và các động vật hoang dã khác do họ săn được. Ngày nay Thanksgiving Day đã trở thành ngày sum họp gia đình, ngày để nhắc nhở và đề cao lòng biết ơn, không chỉ với Thượng Đế mà cả với người thân, bạn bè và xã hội.

Hiểu vắn tắt nhiêu đó, lại liên tưởng tới hoàn cảnh của riêng mình, với những sự giúp đỡ chân tình mà họ nhận được từ ngày đầu tỵ nạn, vợ chồng anh Ba Lumbing cảm động lắm. Thì ra hoàn cảnh của mình cũng như người xưa. Cách nhau 400 năm có ai ngờ người Việt mình ngày nay lại cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự, lại có bề bi đát hơn những người Pilgrims xưa kia! Xứ sở này quả là có truyền thống nhân đạo. Họ giúp đỡ những kẻ khốn cùng như gia đình anh Ba không chỉ về vật chất, họ còn cho anh chị một thứ quí giá hơn nhiều, đó là sự tôn trọng phẩm giá con người. Từ người nhân viên sở xã hội, viên cảnh sát, cô bán hàng, cho đến người hàng xóm… họ thảy đều đối xử bình đẳng và tỏ ra kính trọng những người lưu vong như anh chị.

“Đây là miền đất bao dung, là nơi cưu mang cho những kẻ khốn cùng liều mình đi tìm tự do và lẽ sống. “Tạ ơn Trời. Tạ ơn Đất. Tạ ơn Chúa. Tạ ơn Phật. Tạ ơn những con người xa lạ. Tạ ơn nước Mỹ. Tui tạ ơn hết thảy, nhiều lắm, nhiều lắm…” Vợ chồng anh Ba cứ tấm tắc hoài.

Năm nay anh chị Ba lại làm tiệc Thanksgiving lớn hơn vì ngoài niềm vui chung với mọi người, anh chị vừa đón cô Út, người em cuối cùng trong gia đình anh Ba còn sót lại bên Việt Nam, qua đoàn tụ. Cô Út cũng đã ngoài 40, không lập gia đình và tình nguyện ở lại nuôi mẹ già cho đến ngày cụ qua đời mới chịu ra đi. Con cháu dâu rể của anh chị ở xa cũng về đồng đủ để trước thăm ba mẹ, sau thăm cô Út luôn thể. Bữa tiệc được tổ chức ở sân sau nhà. Cuối tháng 11 trời San Diego mát mẻ, hàng cây sau vườn đã đổi màu lá đỏ như chào đón một mùa lễ đang bắt đầu. Những ngày vui đoàn tụ, nghỉ ngơi sau một năm làm việc cật lực. Xứ này làm cũng dữ mà hưởng cũng nhiều. Phải như vậy mới hay chớ!

Khi anh Ba đang lui cui đút lò con gà tây, lăng xăng sắp xếp bàn ghế, chuẩn bị bia rựợu thì nơi góc vườn chị Ba bày cái bàn nhỏ với dĩa trái cây ngũ quả để cúng thành hoàng thổ địa. Dẫu ở Mỹ đã lâu, chị Ba vẫn kỷ niệm ngày lễ Thanksgiving theo niềm tin của chị. Mà cũng phải, ngày này đã trở thành ngày nhớ ơn chớ đâu riêng gì cho tôn giáo nào nữa.

Hai tay chấp mấy cây nhang lên ngang trán, chị Ba quay vòng, vái tứ phương rồi khấn lâm râm, nghe tiếng được tiếng mất như vầy:

“Kính thưa,
Thành Hoàng da đen
Thổ Địa da đỏ
Cụ lõ Tây Ban Nha
Cụ già Anh Cát Lợi
Chú Ý Đại Lợi
Cô Bồ Đào Nha
Cậu cả Harrah,
Thổ dân Viejas
Cô bác Sycuan…
Nói chung cả làng
Xin nghe cho kỹ,
Từ ngày tới Mỹ
Tui rất biết ơn
Tấm lòng thiện nhơn
Quí ngài đã giúp…”

Người hiệp chủng quốc
Nguồn: theonion.com
Chị Ba chơn chất nhớ đâu khấn đó, ngay cả tên mấy bộ lạc người da đỏ chị cũng biết sơ qua nhờ mấy cái …casino trong vùng; tuy vậy lòng thành của chị thì không nghi ngờ gì nữa. Đợi đến khi chị Ba cúng xong, thắp mấy cây nhang ngay ngắn vào lư nhang, bái thêm mấy bái, quày quả bước vào thì anh Ba vừa cười vừa hỏi:

– Nãy giờ tui nghe bà tạ ơn khắp thế giới mà sao không tạ ơn tui?
– Ông có ơn gì mà đòi tạ?
– Thì tui đem mẹ con bà đến xứ này chớ ai?

Chị Ba nói đùa:

– Xít! Ông cứ như bọn cộng sản, cựa một chút là kể công. Không có ông thì mẹ con tui cũng tự kiếm đường mà chạy chớ ở sao được với tụi nó. Mà thôi, chờ khi nào ông…vãng tui sẽ vái luôn một thể. Ý chà! Mà hổng được, nếu cám ơn ông thì tui lại phải cám ơn… bác Hồ.

Nghe nhắc tới “bác” Hồ anh Ba lộ vẻ mất vui:

– Mắc mớ gì lại cám ơn thằng chả?
– Không có lão thì giờ này chắc ông còn cày ruộng ở Tân Châu chớ dễ gì đến xứ văn minh này.

Anh Ba nghe vợ nói tuy hơi bực nhưng thấy cũng có lý, bèn làm thinh không trả lời. Nghĩ kỹ ra thì nếu không có “bác” và cái đảng thổ tả kia thì hẳn anh cũng chẳng thèm tới đây ăn hamburger làm gì cho ngán, ở nhà ăn canh so đũa, cá kho tộ ngon hơn. Hết thảy bà con mình ở hải ngoại này cũng thế thôi; nếu không có vần công, hợp tác, nếu không có ăn cướp ngang xương ban ngày, khủng bố lén lút ban đêm, nếu không có phân biệt đối xử... thì ai điên ông điên cha gì bỏ xứ sở ra đi. Xứ này tuy tử tế, công bằng, dễ làm ăn thật đó nhưng anh vẫn lưu luyến hồi xưa nơi quê nhà, cái hồi mà bọn mặt người lòng thú chưa mò về đó. Lẩm nhẩm như thế rồi anh Ba trả lời vợ:

– Thì cũng do đường cùng mình mới liều chết ra đi. Bộ bà quên những ngày trôi dạt trên biển rồi sao? Hồi đó mình chỉ biết chạy trốn bọn người khốn nạn đó rồi tới đâu thì tới chớ đâu biết gì về cái xứ này. Bây giờ nhờ ơn phước ông bà, ở đây cái gì cũng có nhưng bì sao được với ngày xưa.

– Ừa! Ông nói cũng phải, tui vẫn hay nằm mơ về cái thời chế độ cũ ấy lắm. Ủa, mà hình như tụi nhỏ nó tới rồi kìa. Thôi ông coi thử con gà đã vàng chưa rồi chuẩn bị dọn ăn kẻo tụi nó đói.

Sau đó là một buổi tối sum họp gia đình, tiếng cười tiếng nói già trẻ chen nhau. Yên bình, hạnh phúc và đầm ấm lắm. Xin tạ ơn nước Mỹ! Xin tạ ơn tự do!



Cũng vào lúc gia đình anh Ba Lumping vui vầy bên Mỹ thì cách nửa vòng trái đất bên Việt Nam, trên lầu thượng của khách sạn năm sao Caravelle tại Sài Gòn cũng có một nhóm người Việt mở tiệc để tạ ơn… nước Mỹ!

Đó là tiệc ăn mừng mối quan hệ khắng khít của Việt kiều Mỹ Hăng-ri Nguyễn và một quan lớn của chế độ là đồng chí Ba Cà. Ba Cà không phải là tên thật mà là biệt danh do người đời tặng cho cái tật lưỡi gỗ nói lặp của va.

Ông Hăng-ri Nguyễn là người sinh trưởng ở miền Nam. Sau ngày đổi đời năm 75, dầu chỉ là một viên chức nhỏ của chế độ cũ, ông Nguyễn cũng được đảng quan tâm gởi đi học về ngành cải tạo... đất gần ba năm tại các trạị tập trung. Những ngày trong tù và cả sau khi được thả về, thân phận ông là thân phận của con sâu cái kiến. Cách mạng, mà đại biểu là những tay công an mặt lạnh như tiền cỡ anh Ba Cà này, đã coi ông như đồ rác rưởi. Cán bô cộng sản là những bóng ma đe dọa ngày đêm, họ là sự pha trộn giữa con người, súc vật và hung thần mà những kẻ hèn mọn như ông không bao giờ dám nhìn thẳng vào mặt. Một người dân lương thiện có thể thành thủ phạm của bất cứ tội nào, bất cứ lúc nào, mà kẻ phát giác và phán quyết cuối cùng chỉ cần là gã công an khu vực. Hiểu được rằng mình đang sống trong chuồng với cái thòng lọng tòn ten trên cổ, ông Nguyễn nhất trí là phải giương cao…ngọn buồm vượt biển. Chết cũng chạy! Bọn chó má này chơi không được! Ngày đó ông kết luận một cách triệt để, dứt khoát như đinh đóng cột như vậy.

Thế rồi ông Nguyễn may mắn vượt thoát được để đến Mỹ tỵ nạn cộng sản. Cũng như bao người dân Việt tỵ nạn khác, ông chăm chỉ làm ăn và thành công nơi xứ sở đầy cơ hội này. Con cái ông học hành thành đạt. Túi ông rủng rỉnh đô la. Đời sống gia đình căn cơ, vững chắc lắm. Cuộc đời tưởng đâu sẽ bình lặng trôi qua cho đến ngày cuối. Nhưng không! Người thực dụng như ông không bao giờ thấy đủ. Ông vẫn tìm cách làm giàu hơn, có tiền rồi thì cần có danh, bất cần cái danh đó như thế nào. Con cái ông cũng cần vươn cao hơn nên ông khuyến khích chúng tìm mọi cơ hội. Đừng bỏ qua bất kỳ cơ hội nào để ngoi lên, đó là triết lý sống mà ông giáo huấn các con. Ông còn nhớ đã đọc đâu đó một câu nói rằng cơ hội tốt nhất để làm giàu là khi một quốc gia đang phá sản hay đang trong thời kỳ xây dựng. Những năm qua ông đã nhìn thấy một quốc gia đang phá sản một cách ghê gớm, đó là quê hương ông, ở đó có một số người phất lên lẹ quá. Vì thế ông khuyến khích cậu con trai vừa tốt nghiệp đại học là hãy về nước để tìm mọi cách nắm lấy cơ hôi.

Trong khi đó thì thời thế cũng làm cho “người cách mạng” thay đổi cách nhìn. Dưới mắt lãnh đạo cộng sản bây giờ, người như cha con ông Nguyễn là vốn quí của dân tộc. Đồng đô la đã nâng ông từ chỗ cặn bã lên khúc ruột ngàn dặm, là máu thịt không thể phung phí, bỏ quên. Trại tập trung đã không cải tạo được ông thành người tốt nhưng các hãng xưởng ở nước Mỹ đã làm được. Nói cách khác, linh nghiệm hơn hẳn hình ảnh “bác” Hồ, bóng dáng ngài George Washington trên tờ đô la đã làm ông Nguyễn trông tiến bộ hơn, yêu nước hơn.

Ông Nguyễn không nhớ đây là lần thứ mấy ông chén thù chén tạc với Ba Cà, nhưng hôm nay là một ngày đặc biệt. Bữa tiệc hôm nay đánh dấu ngày quan hệ giữa ông và Ba Cà được nâng lên một tầm cao mới. Họ làm sui với nhau. Được kết tình thông gia với Ba Cà không chỉ là một vinh dự mà còn là sự đảm bảo an toàn gần như tuyệt đối cho việc “đầu tư” của cha con ông trên xứ này. Thực tình mà nói ông không hình dung được đôi trẻ yêu nhau đến độ nào, nhưng phần ông thì ông sung sướng lắm, mãn nguyện lắm. Mặt khác, tiềm tàng trong lòng ông có chút hả dạ, nỗi “mặc cảm với quá khứ” trong lòng ông đã tiêu tan. Chúng mày đâu thể khinh rẻ tao mãi được! Ông nhủ thầm trong óc mà vẫn hơi sợ người đối diện đọc được ý nghĩ của ông.

Đưa hai tay nâng ly rượu, ông Nguyễn cung kính mời Ba Cà:

– Xin cám ơn anh Ba và chúc mừng cho đại gia đình chúng ta.
– Xin mừng anh sui. Nhưng ơn này trước tiên xin dâng lên Bác. Không có Bác làm sao có được ngày hôm nay.

Câu nhật tụng rất vẹt của Ba Cà không ngờ lại làm ông Nguyễn suy nghĩ. Với Ba Cà thì cám ơn bác là phải, không có bác thì giờ này giỏi lắm anh ta chỉ làm tới chức y tá huyện là cùng. Nhưng phần ông, việc gì ông phải cám ơn “bác”? Ông có được ngày hôm nay là nhờ ông là Việt kiều Mỹ chớ dính dấp gì tới bác Hồ? Coi mấy thằng bạn ông còn kẹt lại, tụi nó có thua kém gì ông mà giờ này vẫn vất vưởng ngoài kia? Kiếp nào tụi nó mới bước chân được vào nhà hàng này chớ nói gì tới nhậu nhẹt với hạng người như Ba Cà?

Thế nhưng việc gì trên đời này cũng có điểm xuất phát, nên cuối cùng một ý tưởng vụt đến làm ông Nguyễn nghiệm ra là Ba Cà cũng có lý. Ý tưởng đó trùng hợp với câu chị Ba Lumbing đã nói với chồng chiều nay bên Mỹ:

Hotel Caravelle
Nguồn: flickr.com
“Không có lão thì giờ này chắc ông còn cày ruộng ở Tân Châu chớ dễ gì đến xứ văn minh này.”

Đúng vậy! Với ông Nguyễn, nếu không có “bác” thì ông đâu đến Mỹ. Không là Việt kiều Mỹ thì giờ này Ba Cà đâu thèm tiếp thằng phản động như ông? Khi đã ngộ, ông lại nâng ly xởi lởi tiếp lời Ba Cà:

– Anh Ba nói chí phải. Không có bác tụi mình không thể có ngày hôm nay. Riêng tui thì cũng cần nói lời tạ ơn nước Mỹ nữa đó!

– Phải đó anh sui. Vậy mới là người tình nghĩa thủy chung như nhứt chớ!

Cạn xong ly rượu, hai người sánh vai ra đứng nơi lan can, khoan khoái nhìn xuống những ngã đường đông đúc duới kia, nơi mà các đồng chí công an đang hò hét, hạch hỏi, xua đuổi những người dân oan nghèo khó. Cả hai người không ai nhận ra hình ảnh của mình trong đó nữa, vì họ đã quên đi quá khứ rồi.

San Diego,
Mùa lễ Tạ Ơn năm 2008

No127: Việt Nam đang đi dây

HÀ NỘI – Việt Nam, giống như nhiều nước khác trên thế giới, đang tìm cách kích thích nền kinh tế của mình giữa cuộc suy thoái toàn cầu, nhưng lại lâm vào một tình trạng khó xử bởi vì phải giữ cho nạn gia tăng giá cả phi mã không bùng phát trở lại, các chuyên viên nói.

Với một hệ thống ngân hàng tương đối nhỏ và cô lập, Việt Nam không trực tiếp đối diện với cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn, cuộc khủng hoảng này đã kích hỏa sự tan chảy của phố Wall và tiếp theo đó là sự khan hiếm tín dụng toàn cầu rồi đến sự rối loạn của thị trường tài chính thế giới.

Nhưng những ảnh hưởng kinh tế lan rộng của điều được coi là sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tệ hại nhất kể từ thời Đại Khủng Hoảng, đang được cảm nhận trong nền kinh tế đang phát triển này. Nhất là trong khu vực xuất khẩu quan yếu.

Giữa sự suy giảm của nhu cầu từ hải ngoại, xuất khẩu hàng tháng của Việt Nam sụt giảm đều đặn từ $6.5 tỷ đô la trong tháng Bảy, $6 tỷ đô la trong tháng Tám, $5.3 tỷ đô la trong tháng Chín, rồi $5.1 tỷ đô la trong tháng Mười.

Dù vẫn còn quá sớm để cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài đang rút ra khỏi thị trường tài chánh, trong tháng vừa qua họ chỉ bán ra cổ phiếu và chứng khoán.

Sự gia tăng giá cả ở mức độ 2 con số suốt năm và đứng ở mức 26.7 phần trăm trong tháng Mười, hơi giảm nhẹ sau khi có sự giảm giá năng lượng toàn cầu và giá nguyên liệu.

Nhằm giảm bớt khối lượng tiền mặt để chống lạm phát, nhà cầm quyền đã tăng lãi xuất và tiền dự trữ trong ngân hàng nhiều lần trong năm.

Nhưng điều này lại gây ra khan hiếm tín dụng cho các khoản đầu tư và vốn hoạt động của các nhà kinh doanh, buộc ngân hàng trung ương phải đảo ngược lại chính sách tiền tệ trong lúc những yếu tố địa phương và quốc tế đã làm chậm đà phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Kể từ cuối tháng Mười, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã hai lần giảm lãi xuất chuẩn. Hiện nay mức lãi xuất này là 12 phần trăm và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuần trước đã nói rằng sẽ còn nhiều đợt cắt giảm lãi xuất để giải tỏa tín dụng trong năm tới.

Ông Phạm Đỗ Chí, giám đốc kinh tế ở quỹ đầu tư VinaCapital Group, đồng ý rằng “nhà nước có thể giảm lãi xuất hơn nữa để thúc đẩy nền kinh tế qua những thành phần kinh tế tư nhân trong nước và thành phần kinh tế do nước ngoài đầu tư.”

“Họ có thể giảm lãi xuất cơ bản nhiều hơn nữa, khoảng 2 phần trăm trong vòng ba tháng tới. Nền kinh tế có thể chịu đựng được sự cắt giảm này bởi vì chúng ta đã thấy rằng sự gia tăng giá cả đang giảm dần, và nền kinh tế đang nguội bớt.”

Sự gia tăng giá cả của các mặt hàng tiêu dùng đã bắt đầu ngừng lại và giảm nhẹ so với cùng kỳ tháng trước khoảng 0.2 phần trăm, các số liệu của nhà cầm quyền cho thấy.

Chỉ tiêu của nhà cầm quyền Cộng Sản là mang mức độ gia tăng vật giá từ 23-24 phần trăm trong năm 2008 xuống dưới 15 phần trăm trong năm 2009, nhằm ngăn chặn sự nổi giận của nhân dân và một đợt sóng bất ổn về lao động.

Các lãnh đạo cũng cắt giảm chỉ tiêu tăng trưởng từ 8.5 phần trăm của năm ngoái xuống khoảng 6.5 phần trăm cho năm nay và sang năm- mặc dầu nhiều kinh tế gia tiên đoán rằng mức gia tăng của tổng sản lượng sẽ dưới 6 phần trăm trong năm tới.

Nhà cầm quyền còn tiên đoán rằng xuất khẩu sẽ giảm xuống từ 33 phần trăm xuống còn 13 phần trăm trong năm 2009.

“Khi tình thế đã hoàn toàn thay đổi trong vòng từ ba đến bốn tháng, giảm lãi xuất là một quyết định đúng hướng.” Ông Sebastien , kinh tế gia của nhóm Calyon of Crédit Agricole French đặt trụ sở ở Hồng Kông, nói.

"Mức độ gia tăng vật giá ở Việt Nam là khổng lồ nhưng dần dần sẽ không còn là mối quan tâm bởi vì các động lực làm giảm thiểu sự tăng giá đang tác động khắp nơi và các động lực nầy vô cùng, vô cùng mạnh.”

Dẫu vậy, khoảng hở cho Việt Nam xoay xở rất hạn chế bởi vì mối nguy vật giá gia tăng chưa biến mất. Chẳng hạn, một số chuyên viên cảnh cáo rằng sự tăng lương trong khu vực dịch vụ quốc doanh trong năm tới sẽ đóng góp vào việc thực đẩy vật giá gia tăng trở lại.

“Sự thách đố chính là bằng cách nào anh điều hành một tình huống kinh tế vĩ mô, sao cho anh có thể đối phó với sự trì trệ kinh tế toàn cầu mà không làm sống lại áp lực lạm phát trong quá khứ.” Ông Chi nói.

Ông Võ Trí Thành, giám đốc nghiên cứu Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương của bộ Quy Hoạch và Đầu Tư, nói rằng “đã đến lúc chúng ta có thể nới tay một cách thận trọng trong các chính sách kinh tế vĩ mô.”

Một sự nới lỏng trong các chính sách kinh tế là một điều cần thiết ”nhất là khi các vấn đề xã hội bắt đầu xuất hiện,” ông nói, trong lúc chỉ ra những dấu hiệu về sự gia tăng của các cuộc đình công và mức độ thất nghiệp.


© DCVOnline



Nguồn:

(1) Vietnam walks tightrope. AFP, 16 November 2008