HÀ NỘI, Việt Nam: Mối tương quan căng thẳng giữa Cộng sản Việt Nam và tự do tôn giáo lại một lần nữa được thử thách trong một vụ tranh chấp tại một thiền viện nơi tăng ni của thiền sư Thích Nhất Hạnh đang tu hành.
Đã bốn năm nay, hoà thượng và sư nữ ở thiền viện Bát Nhã (tỉnh Lâm Đồng) vẫn yên ổn học thiền và giáo pháp của nhà tu hành hiền hòa nay đã 82 tuổi, một người mà có lẽ được coi là một Phật tử danh tiếng nhất chỉ sau Đức Dalai Lạt Ma của Tây Tạng.
Nhưng gần đây, những tăng ni đang phải đối đầu với một cuộc đụng độ thách thức sự từ tốn của những kẻ tu hành có thể gọi là khai sáng nhất.
Đầu tiên, chính quyền địa phương đã cúp nước, điện và đường giây điện thoại của họ. Sau đó những đám côn đồ kéo đến dùng búa tạ đập vỡ cửa kính, tường gây nhiều thiệt hại cho thiền viện và đe dọa những người cư trú tại đây. Cầm quyền Cộng sản ra lệnh cho 379 tăng ni phải rời khỏi ngôi thiền viện ở cao nguyên này. Họ nói rằng chuyện dàn trận đối đầu là hậu quả của sự bất đồng ý kiến của hai phái Phật giáo ở thiền viện.
Nhưng tín đồ của ông Hạnh tin rằng họ bị trừng phạt vì thầy Nhất hạnh ca ngợi Đức Đàlai Lạt Ma và kêu gọi nới lỏng tự do tín ngưỡng ở Việt Nam.
Vấn đề cho thấy một cuộc thay đổi 180 độ so với 4 năm về trước khi thầy Nhất Hạnh trở về quê hương sau 39 năm lưu vong đặt căn cứ ở Pháp, trong thời gian đó thầy đã phát triển một triết lý gọi là "Phật giáo dấn thân" và đã bán hơn một triệu quyển sách ở phương Tây.
Hoà thượng trụ trì tại Bát Nhã, thuộc nhóm Phật giáo Việt Nam Chính thống đã mời tín đồ của thiền sư Nhất Hạnh về giảng huấn theo Phật pháp của họ cho tăng ni tại đây.
Nhưng sự hoà hoãn bắt đầu tan rã đi từ năm ngoái, tín đồ của thầy Nhất Hạnh cho biết. Những quan chức Trung Quốc tức giận vì những lời tuyên bố ủng hộ Đức Đà lai Lạt ma của thầy Hạnh được truyền thông đăng tải lại nên họ đã áp buộc nhà nước Việt Nam cấm thiền sư thuyết giảng trong một cuộc hội học quốc tế ở Hà Nội. Tín đồ của thiền sư Nhất Hạnh cho biết như thế.
Theo AP.
วันจันทร์ที่ 3 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No393: Tại sao xã hội đen?

Trần Khải
Một hình ảnh làm cho nhà nước CS Việt Nam nổi bật so với các nước là cách sử dụng xã hội đen để đối thoại với các tiếng nói bất đồng. Tại sao như thế? Ai đã nghĩ ra cách sử dụng xã hội đen như là một phương cách đối phó như thế? Các bộ luật để làm gì?
Hình ảnh những người thường dân hung dữ, còn được tường thuật từ chính nhiều người địa phương như là “côn đồ,” hay gọi là “xã hội đen” đã được ghi vào các bản tin thế giới. Nếu chúng ta đọc các bản tin Reuters, AP, AFP về những cuộc biểu tình tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Úc… và có thể nói là tới 99% các quốc gia trên thế giới, chúng ta không thấy hình ảnh những thường dân bị gọi là “xã hội đen” xuất hiện bên công an để đàn áp người biểu tình.
Thậm chí, có vẻ như chúng ta chỉ thấy hình ảnh xã hội đen đứng bên công an trong các cuộc biểu tình ở Trung Quốc và Việt Nam, như dường đây là đặc sản của hai chế độ toàn trị này. Chúng ta cũng không thấy ở Bắc Hàn, một thế giới hoàn toàn bưng bít và bàn tay sắt tàn bạo tới nổi người dân không thể xuống đường được. Cũng không thấy ở Cuba, một xã hội chưa thoát nổi nền kinh tế hoạch định kiểu xã hội chủ nghĩa ‒ nhưng điều cần ghi nhận, rằng những cuộc biểu tình và tuần hành của Quý Bà Áo Trắng (một nhóm vài chục phụ nữ gồm các bà mẹ, vợ, chị, em… của các tù nhân chính trị) trong các ngaỳ chủ nhật sau thánh lễ nhà thờ giữa Havana cũng không thấy xã hội đen xuất hiện chống phá.
Vậy, tại sao xã hội đen xuất hiện giúp công an đàn áp biểu tình ở Trung Quốc và Việt Nam? Có phải họ là đặc sản, là con cháu của Bác Mao, Bác Hồ?
Chúng ta không thể hiểu được cách suy nghĩ của nhà nước Hà Nội. Thực ra, khi nhìn các hình ảnh công an đối phó người biểu tình, người dân bình thường trên thế giới hoàn toàn không thấy phản cảm gì đối với các đoạn phim hay hình ảnh hàng trăm công an đội mũ bảo hộ, mang khiêng, cầm gậy, đứng dàn hàng ngang kình với hàng trăm hay hàng ngàn người biểu tình. Đó là chuyện bình thường của thế giới, có thể bật máy truyền hình lên là thấy trong các bản tin ở các nước khác, kể cả tại Iran và Pakistan, hai nước Hồi Giáo thường bị cho là cực đoan. Có phải vì công an các nước, hay công an tại Iran và Pakistan, nhìn người biểu tình như là “đồng bào” của họ, còn công an CSVN laị nhìn người biểu tình như kẻ thù.
Thực ra, nếu có hình ảnh công an CSVN đứng kình với người biểu tình, đó mới là chuyện bình thường. Còn sử dụng tới xã hội đen, rõ ràng là một xã hội bất thường.
Giáo dân Hà Nội biểu tình trước toà án đòi lại đất thuộc giáo hội (March 2009)
Nguồn: Ảnh AP
Thế giới sẽ thấy ngay đó là bệnh hoạn, khi côn đồ đứng bên cạnh công an, bất kể là cuộc biểu tình có hợp lý hay không, bất kể là cuộc xuống đường có phải vì lý do tôn giaó, vì chính trị, hay vì xã hội kinh tế ra sao. Ngay cả côn đồ có là đặc sản của chế độ, cũng cần ngưng ngay hình ảnh phản cảm như thế. Nếu nhà nước cho rằng biểu tình là sai, thì để tòa án nói chuyện. Thậm chí, ngay như chuyện mà chính quyền tỉnh Quảng Bình muốn giữ tháp chuông đổ nát Tam Tòa làm nơi du lịch, thì cũng còn nhiều cơ quan khác để nói chuyện với người Công Giáo, như thông qua Hội Đồng Giám Mục, hay qua Tổng Giáo Phận Vinh. Còn côn đồ và xã hội đen thì hãy biến dạng. Thế giới không ai làm thế bao giờ.
Nhà nước CSVN cần nhìn thấy rằng thế giới rất là phẫn nộ, sau trận đàn áp biểu tình ở Tam Tòa, Quảng Bình. Trên các báo Mỹ, và một số nước khác, hình ảnh nhà nước CSVN không còn gì là đẹp, bất kể đại sứ Mỹ Michael Michalak có thiên vị mà im lặng hay chống chế tới đâu. Nhìn cuộc họp báo tại Washington DC hôm Thứ Năm của 7 dân biểu liên bang Hoa Kỳ thì thấy. Một tấm ảnh có khi nói nhiều hơn cả ngàn chữ. Hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an thường phục bịt miệng trước tòa. Hình mục sư Nguyễn Công Chính băng bó, máu me đầy mặt vì bị công an đánh bầm dập.
Không phải vì các dân biểu là người theo đạo Thiên Chúa Giáo mà tiếp tay tố cáo nhà nước Hà Nội. Nói cho đúng, có lẽ chỉ có dân biểu Loretta Sanchez và dân biểu Cao Quang Ánh là Thiên Chúa giáo, còn các vị khác đều thuộc các hệ phái Tin Lành khác nhau. Nhưng hãy nhớ rằng, cả 7 dân biểu đều cũng đã từng bênh vực Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Như thế, rõ ràng là cách nhà nước CSVN giảỉ quyết các bất hòa trong xã hội đã rất là không bình thường.
Điều đặc biệt nữa, người Thiên Chúa giáo rất đoàn kết, vì “đức vâng lời” là một đức tính bất khả lay chuyển.
Muốn biết các suy nghĩ của người Thiên Chúa giáo tại Mỹ, có thể thấy một phần qua bài viết của Thầy Phó Tế Keith Fournier ngày 31/07/2009 trên mạng chính thức Catholic Online (www.catholic.org), nhan đề “Stop the New Vietnam War: They’re Attacking Catholic Priests!" (Hãy Ngưng Cuộc Chiến VN Mới: Họ Đang Tấn Công Các Linh Mục Công Giáo).
Bài báo gọi rằng đang có một Cuộc Chiến VN mới đang diễn ra, và “kẻ thù của sự sống, của tự do và của tự do chân thực đang tấn công các linh mục Công Giaó tại VN.” Điều đặc biệt là cách tác giả nói rằng nhà nước Hà Nội đang hiện nguyên hình những người theo Chủ Nghĩa Mao, và kêu gọi con chiên toàn thế giới bênh vực các tu sĩ và giáo dân Tam Tòa. Thực ra, thông tin trong bài không có gì mới, nhưng điều này cho thấy suy nghĩ của rất nhiều, hay có thể gọi là, của hầu hết (hay có thể, tất cả) các giaó dân thế giới.
Thấy rõ, không ai tin xã hội đen là thành phần nào khác hơn là công an. Tại sao lại làm thêm hình ảnh phản cảm như thế, trong khi nhà nứơc vẫn có thể đối thoại qua nhiều kênh khác nhau? Thậm chí, hình ảnh công an dàn ra phố, đứng ngăn cản người biểu tình phaỉ thấy là bình thường, và là hình ảnh rất là pháp trị… trong khi hình ảnh xã hội đen ra đánh đập thực ra rất là bệnh hoạn.
Xã hội nào cũng có những bất đồng, bất hòa, và việc đối thoại là điều khả thi, có thể thực hiện được qua nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Nhưng phương cách sử dụng xã hội đen phải xóa ngay ra khỏi cuốn “cẩm nang công an.” Vì nhân loại đã vượt qua thời kỳ đồ đá từ lâu rồi.
วันอาทิตย์ที่ 2 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No392:Chính sách ngoại giao “Mèo trắng, mèo đen” của TQ
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt *
Thứ Hai, ngày 20-7-2009
Bình luận về chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với các nước láng giềng đồng minh, mạng Foreignpolicy.com đăng bài viết của Wen Liao cho rằng ngày nay, hình như câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” đang được Trung Quốc áp dụng với các nước láng giềng theo cách “dù là dân chủ hay chuyên chế miễn là nước đó bảo vệ lợi ích của Trung Quốc”.
Giả thuyết đơn giản này giúp giải thích tại sao sau nhiều năm làm việc với chính quyền quân sự Myanma, Trung Quốc giờ đây có thể tìm cách thay đổi chiến thuật. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc lo ngại một chính phủ như vậy là đáng nghi ngờ về mặt tinh thần mà vì họ lo ngại các nhà lãnh đạo Myanma không đủ năng lực điều hành và tình trạng bất ổn định ở nước này có thể dẫn đến những hậu quả không hay cho vận may của chính họ. Từ phía bên kia hàng rào của các nước láng giềng, Trung Quốc trông giống như một bá chủ đang nổi lên, muốn tỏ rõ sức mạnh của mình. Sự can thiệp có tính quyết định của họ trong việc ủng hộ chính phủ trong cuộc nội chiến vừa kết thúc tại Srilanka – một nước bên ngoài vùng ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc – dường như chứng tỏ điều này.
Tuy nhiên, nhìn từ Bắc Kinh, chính các đồng minh của Trung Quốc thỉnh thoảng lại như những con ngựa bất kham. Đặc biệt là hai nước được coi là phụ thuộc Trung Quốc (Bắc Triều Tiên và Myanma) đã làm cho Trung Quốc có cảm giác ngoài tầm kiểm soát, lo ngại rằng bất kỳ một sự mất ổn định nào ở bên ngoài cũng có thể làm đổ vỡ sự ổn định về chính trị mong manh bên trong của Trung Quốc. Như phản ứng nhanh chóng của Trung Quốc trước tình trạng mất ổn định ở Tân Cương cho thấy rõ rằng không gì có thể làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc bị hoảng hốt hơn khả năng xảy ra các bất đồng khu vực và biên giới kích động sự bất ổn định ở bên trong. Với khoảng 200 người thiệt mạng trong các cuộc bạo động gần đây ở Tân Cương, hơn bao giờ hết Trung Quốc nhận thấy các nước láng giềng không ổn định và nguy cơ của dòng người tị nạn nguy hiểm. Vì thế, toan tính đằng sau chiến lược an ninh khu vực của Trung Quốc là rất rõ ràng: Nếu hòa bình và thịnh vượng của các nước láng giềng của Trung Quốc không được bảo đảm, thì hòa bình, thịnh vượng và sự đoàn kết trong nội bộ Trung Quốc cũng bị lâm nguy. Mệnh lệnh chiến lược này nổi lên sau thắng lợi tương đối của Trung Quốc trong việc tránh được cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và 1998. Kinh nghiệm này đã giành được sự tôn trọng trong khu vực và Trung Quốc bắt đầu tăng cường các mối quan hệ với khu vực Đông và Đông Nam châu Á, đặc biệt là các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trung Quốc đồng ý giải quyết những bất đồng về lãnh thổ với các nước ASEAN thông qua cơ chế hòa giải tập thể. Nước này cũng đã ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN, cam kết không bao giờ sử dụng vũ lực chống lại các nước thành viên ASEAN. Đó là cơ cấu rất phù hợp với Trung Quốc từ trước tới nay, trừ hai ngoại lệ Bắc Triều Tiên và Myanma.
Trong trường hợp đầu, sự tồn tại của chế độ Bắc Triều Tiên là mục tiêu hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Bắc Kinh lo ngại làn sóng tị nạn không tránh khỏi sẽ tràn qua biên giới đổ vào nước họ sau sự sụp đổ của nước này. Hơn nữa, một bán đảo Triều Tiên bị chia rẽ phù hợp với mục đích của Trung Quốc, vì một bán đảo Triều Tiên thống nhất có thể trở thành một “thách thức lớn” khác của khu vực, ngang tầm với Nhật Bản. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tham gia tiến trình đàm phán 6 bên về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên do họ lo ngại các biện pháp trừng phạt của phương Tây có thể phá huỷ nền kinh tế dễ đổ vỡ của Bắc Triều Tiên. Giống như một ngân hàng quá lớn không thể để phá sản, Bắc Triều Tiên tạo ra một mối đe doạ kinh hoàng cho Trung Quốc nếu Bắc Kinh gây sức ép quá mạnh đối với nhà lãnh đạo Kim Chính Nhật. Vì thế, ảnh hưởng của Trung Quốc dường như không có hiệu quả lắm.
Bực bội khi cảm thấy bị ràng buộc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc muốn ngăn chặn một nước khác là Myanma, và không để cho nước này có được một động lực như vậy. Mặc dù Myanma nằm trong cái gọi là chính sách “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc, với nỗ lực nhằm xây dựng các căn cứ hải quân và tình báo xung quanh Ấn Độ Dương, song lợi ích của nước này đang bị đe doạ. Những tuần gần đây, Trung Quốc đang lén lút thăm dò xem liệu nhà lãnh đạo đối lập đang bị cầm tù Aung San Suu Kyi có khả năng lãnh đạo Myanma như một người đáng tin cậy và dễ uốn nắn hơn chính quyền quân sự hiện nay hay không.
Tình hình hiện nay cho thấy biên giới không có luật pháp của Myanma cho phép tất cả các tệ nạn độc hại – không chỉ sự nổi dậy mà còn ma tuý và AIDS – xâm nhập vào Trung Quốc. Buôn bán thuốc phiện và ma túy tràn vào Trung Quốc, một phần do các tướng lĩnh cầm quyền Myanma thúc đẩy, phần khác được tiến hành bởi quan nổi loạn mà chính quyền quân sự không chế ngự được trong cuộc chiến kéo dài mấy thập kỷ nay, đẩy nạn nghiện ngập ma túy vào các thành phố miền Nam của Trung Quốc, nơi các dân tộc thiểu số đang sống thành từng nhóm.
Rõ ràng, Myanma là một đối tác không đáng tin cậy của Trung Quốc. Cho tới nay, chính quyền quân sự đang dần suy sụp đã tồn tại trong sự rạn nứt của hệ thống quốc tế, nhất là những nhóm quyền lực được hình thành trong sự nghi kỵ lẫn nhau của các nước láng giềng khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, và nền văn hóa bị trói buộc ASEAN. Thực ra, Trung Quốc từng lặng lẽ giang tay cứu giúp phe đối lập Myanma. Năm ngoái, trong các cuộc biểu tình phản đối do các nhà sư tiến hành ở Myanma, Trung Quốc đã nhắc lại lời kêu gọi kiềm chế và ủng hộ việc đặc phái viên đặc biệt của Liên hiệp quốc đến nước này. Hai tháng trước, Trung Quốc đã ký một kiến nghị chung EU-ASEAN kêu gọi trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi. Giờ đây, Trung Quốc lại đứng sau nỗ lực của Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon đòi chấm dứt việc giam giữ tại gia Aung San Suu Kyi. Trung Quốc dường như muốn thăm dò liệu có thể có sự lựa chọn nào đó hay không.
Bài báo kết luận: Mỹ và Anh ủng hộ một cách chiến thuật Nam Phi với tình trạng phân biệt chủng tộc vì họ lo ngại tình trạng hỗn loạn sẽ nổ ra nếu quyền lực được trao cho đa số người da đen ở nước này. Tuy nhiên, khi nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nelson Mandela nổi lên từ nhà tù, ông đã định hình một chế độ đề ra sự bảo vệ lâu dài tốt hơn cho các quyền lợi của Mỹ và Anh so với chế độ Aparthei trước đây. Đối với Trung Quốc, Aung San Suu Kyi có thể tạo ra một chế độ an toàn tương tự thay cho chế độ quân sự đang suy yếu. Ít nhất, như Đặng Tiểu Bình nói, Aung San Suu Kyi có thể là “con mèo có giá” ở sân sau của Trung Quốc.
* Nguồn: China’s Black Cat, White Cat Diplomacy.
Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên, Myanma | Leave a Comment »
Tài liệu tham khảo đặc biệt *
Thứ Hai, ngày 20-7-2009
Bình luận về chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với các nước láng giềng đồng minh, mạng Foreignpolicy.com đăng bài viết của Wen Liao cho rằng ngày nay, hình như câu nói nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” đang được Trung Quốc áp dụng với các nước láng giềng theo cách “dù là dân chủ hay chuyên chế miễn là nước đó bảo vệ lợi ích của Trung Quốc”.
Giả thuyết đơn giản này giúp giải thích tại sao sau nhiều năm làm việc với chính quyền quân sự Myanma, Trung Quốc giờ đây có thể tìm cách thay đổi chiến thuật. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc lo ngại một chính phủ như vậy là đáng nghi ngờ về mặt tinh thần mà vì họ lo ngại các nhà lãnh đạo Myanma không đủ năng lực điều hành và tình trạng bất ổn định ở nước này có thể dẫn đến những hậu quả không hay cho vận may của chính họ. Từ phía bên kia hàng rào của các nước láng giềng, Trung Quốc trông giống như một bá chủ đang nổi lên, muốn tỏ rõ sức mạnh của mình. Sự can thiệp có tính quyết định của họ trong việc ủng hộ chính phủ trong cuộc nội chiến vừa kết thúc tại Srilanka – một nước bên ngoài vùng ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc – dường như chứng tỏ điều này.
Tuy nhiên, nhìn từ Bắc Kinh, chính các đồng minh của Trung Quốc thỉnh thoảng lại như những con ngựa bất kham. Đặc biệt là hai nước được coi là phụ thuộc Trung Quốc (Bắc Triều Tiên và Myanma) đã làm cho Trung Quốc có cảm giác ngoài tầm kiểm soát, lo ngại rằng bất kỳ một sự mất ổn định nào ở bên ngoài cũng có thể làm đổ vỡ sự ổn định về chính trị mong manh bên trong của Trung Quốc. Như phản ứng nhanh chóng của Trung Quốc trước tình trạng mất ổn định ở Tân Cương cho thấy rõ rằng không gì có thể làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc bị hoảng hốt hơn khả năng xảy ra các bất đồng khu vực và biên giới kích động sự bất ổn định ở bên trong. Với khoảng 200 người thiệt mạng trong các cuộc bạo động gần đây ở Tân Cương, hơn bao giờ hết Trung Quốc nhận thấy các nước láng giềng không ổn định và nguy cơ của dòng người tị nạn nguy hiểm. Vì thế, toan tính đằng sau chiến lược an ninh khu vực của Trung Quốc là rất rõ ràng: Nếu hòa bình và thịnh vượng của các nước láng giềng của Trung Quốc không được bảo đảm, thì hòa bình, thịnh vượng và sự đoàn kết trong nội bộ Trung Quốc cũng bị lâm nguy. Mệnh lệnh chiến lược này nổi lên sau thắng lợi tương đối của Trung Quốc trong việc tránh được cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và 1998. Kinh nghiệm này đã giành được sự tôn trọng trong khu vực và Trung Quốc bắt đầu tăng cường các mối quan hệ với khu vực Đông và Đông Nam châu Á, đặc biệt là các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trung Quốc đồng ý giải quyết những bất đồng về lãnh thổ với các nước ASEAN thông qua cơ chế hòa giải tập thể. Nước này cũng đã ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN, cam kết không bao giờ sử dụng vũ lực chống lại các nước thành viên ASEAN. Đó là cơ cấu rất phù hợp với Trung Quốc từ trước tới nay, trừ hai ngoại lệ Bắc Triều Tiên và Myanma.
Trong trường hợp đầu, sự tồn tại của chế độ Bắc Triều Tiên là mục tiêu hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Bắc Kinh lo ngại làn sóng tị nạn không tránh khỏi sẽ tràn qua biên giới đổ vào nước họ sau sự sụp đổ của nước này. Hơn nữa, một bán đảo Triều Tiên bị chia rẽ phù hợp với mục đích của Trung Quốc, vì một bán đảo Triều Tiên thống nhất có thể trở thành một “thách thức lớn” khác của khu vực, ngang tầm với Nhật Bản. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tham gia tiến trình đàm phán 6 bên về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên do họ lo ngại các biện pháp trừng phạt của phương Tây có thể phá huỷ nền kinh tế dễ đổ vỡ của Bắc Triều Tiên. Giống như một ngân hàng quá lớn không thể để phá sản, Bắc Triều Tiên tạo ra một mối đe doạ kinh hoàng cho Trung Quốc nếu Bắc Kinh gây sức ép quá mạnh đối với nhà lãnh đạo Kim Chính Nhật. Vì thế, ảnh hưởng của Trung Quốc dường như không có hiệu quả lắm.
Bực bội khi cảm thấy bị ràng buộc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc muốn ngăn chặn một nước khác là Myanma, và không để cho nước này có được một động lực như vậy. Mặc dù Myanma nằm trong cái gọi là chính sách “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc, với nỗ lực nhằm xây dựng các căn cứ hải quân và tình báo xung quanh Ấn Độ Dương, song lợi ích của nước này đang bị đe doạ. Những tuần gần đây, Trung Quốc đang lén lút thăm dò xem liệu nhà lãnh đạo đối lập đang bị cầm tù Aung San Suu Kyi có khả năng lãnh đạo Myanma như một người đáng tin cậy và dễ uốn nắn hơn chính quyền quân sự hiện nay hay không.
Tình hình hiện nay cho thấy biên giới không có luật pháp của Myanma cho phép tất cả các tệ nạn độc hại – không chỉ sự nổi dậy mà còn ma tuý và AIDS – xâm nhập vào Trung Quốc. Buôn bán thuốc phiện và ma túy tràn vào Trung Quốc, một phần do các tướng lĩnh cầm quyền Myanma thúc đẩy, phần khác được tiến hành bởi quan nổi loạn mà chính quyền quân sự không chế ngự được trong cuộc chiến kéo dài mấy thập kỷ nay, đẩy nạn nghiện ngập ma túy vào các thành phố miền Nam của Trung Quốc, nơi các dân tộc thiểu số đang sống thành từng nhóm.
Rõ ràng, Myanma là một đối tác không đáng tin cậy của Trung Quốc. Cho tới nay, chính quyền quân sự đang dần suy sụp đã tồn tại trong sự rạn nứt của hệ thống quốc tế, nhất là những nhóm quyền lực được hình thành trong sự nghi kỵ lẫn nhau của các nước láng giềng khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, và nền văn hóa bị trói buộc ASEAN. Thực ra, Trung Quốc từng lặng lẽ giang tay cứu giúp phe đối lập Myanma. Năm ngoái, trong các cuộc biểu tình phản đối do các nhà sư tiến hành ở Myanma, Trung Quốc đã nhắc lại lời kêu gọi kiềm chế và ủng hộ việc đặc phái viên đặc biệt của Liên hiệp quốc đến nước này. Hai tháng trước, Trung Quốc đã ký một kiến nghị chung EU-ASEAN kêu gọi trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi. Giờ đây, Trung Quốc lại đứng sau nỗ lực của Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon đòi chấm dứt việc giam giữ tại gia Aung San Suu Kyi. Trung Quốc dường như muốn thăm dò liệu có thể có sự lựa chọn nào đó hay không.
Bài báo kết luận: Mỹ và Anh ủng hộ một cách chiến thuật Nam Phi với tình trạng phân biệt chủng tộc vì họ lo ngại tình trạng hỗn loạn sẽ nổ ra nếu quyền lực được trao cho đa số người da đen ở nước này. Tuy nhiên, khi nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Nelson Mandela nổi lên từ nhà tù, ông đã định hình một chế độ đề ra sự bảo vệ lâu dài tốt hơn cho các quyền lợi của Mỹ và Anh so với chế độ Aparthei trước đây. Đối với Trung Quốc, Aung San Suu Kyi có thể tạo ra một chế độ an toàn tương tự thay cho chế độ quân sự đang suy yếu. Ít nhất, như Đặng Tiểu Bình nói, Aung San Suu Kyi có thể là “con mèo có giá” ở sân sau của Trung Quốc.
* Nguồn: China’s Black Cat, White Cat Diplomacy.
Đăng trong Quan hệ Quốc tế, Trung Quốc | Tagged: ASEAN, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên, Myanma | Leave a Comment »
No391: Từ Singapore, nghĩ đến niềm tự hào của Việt Nam

Đến Singapore, chúng ta dễ thấy nó khác hẳn với hầu hết các quốc gia Á châu khác
Tôi đến Singapore chỉ có mấy lần. Lần nào cũng chỉ ở có vài ba ngày. Tuy nhiên, với tôi, như vậy là đủ. Với những thành công kỳ diệu về phương diện kinh tế và xã hội, Singapore phức tạp đủ để các nhà nghiên cứu bỏ ra một thời gian dài, năm mười năm, thậm chí, cả đời để khảo sát. Nhưng với diện tích chỉ có gần 700 cây số vuông, gần bằng một nửa diện tích thành phố Đà Nẵng, Singapore lại quá nhỏ cho các du khách.
Chỉ mấy ngày, tôi đi gần hết các thắng cảnh ở Singapore.
Phải nói một cách thành thực: tôi rất thích. Thích và phục.
Mà không phục sao được? Là một trong 20 quốc gia nhỏ nhất, có mật độ dân số cao thứ nhì trên thế giới (chỉ sau Monaco), mà, chỉ trong vòng mấy chục năm sau khi độc lập (1965), Singapore đã vươn lên hàng cường quốc về kinh tế trên thế giới, vượt qua hẳn các quốc gia đất rộng người đông và giàu tài nguyên thiên nhiên ở chung quanh, kể cả Việt Nam.
Singapore chiếm nhiều kỷ lục trên thế giới. Đó là một trong những quốc gia sạch nhất, có môi trường làm ăn buôn bán tốt nhất, có ngọn thác nhân tạo cao nhất (30 mét), có vườn chim có nhiều chim nhất thế giới (Jurong Bird Park), có phi trường trong nhiều năm được xếp hạng cao nhất thế giới (Changi), có hải cảng thuộc loại tấp nập nhất thế giới, có trường đại học được xếp vào hạng ưu tú nhất thế giới, v.v…
Đến Singapore, chúng ta dễ thấy nó khác hẳn với hầu hết các quốc gia Á châu khác: Ở đây mọi vật đều gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ; mọi công việc đều được tiến hành một cách hợp lý và trong trật tự. Ấn tượng ấy có thể thấy ngay được từ khi bước chân ra khỏi máy bay: Tất cả các thủ tục giấy tờ nhập cảnh, từ việc trình hộ chiếu đến việc nhận lấy hành lý đều nhanh chóng. Ở đâu cũng thấy sạch như lau. Các nhà vệ sinh công cộng, ngay ở những chỗ khuất vắng hoặc đông đúc người qua kẻ lại, đều sạch sẽ và thơm tho.
Với một đất nước như vậy, phục là phải.
Nhưng tại sao ở trên, tôi phải nhấn mạnh “Phải nói một cách thành thực”?
Bởi vì, tôi biết, không phải ai cũng đồng ý như vậy. Và không phải lúc nào tôi cũng thành thực như vậy.
Ví dụ, những lúc tôi nói chuyện với bạn bè người Úc của mình.
Trong lúc nói chuyện phiếm, hễ nghe nhắc đến Singapore là bạn bè Úc của tôi lại lên tiếng chê bai thậm tệ!
“Trời! Cái nước gì mà chán! Mọi thứ cứ máy móc, vô hồn, vô cảm. Ngay các thanh sắt chấn dọc xa lộ cũng không được quyền là sắt; người ta cứ phải trồng hoa hay dây leo cho nó phủ lên trên. Trên các chiếc cầu lộ thiên, băng qua các đường đi cũng vậy; cũng có dây leo phủ trùm lên. Đất nước gì mà cứ như thời trung cổ. Cái gì cũng phạt. Ném chiếc khăn giấy xuống đất: Phạt. Vất mẩu tàn thuốc lá xuống đất: Phạt. Vất bã kẹo cao su xuống đường: Phạt. Đi nhà vệ sinh công cộng, không dội nước: Cũng phạt! Trời! Sống ở đó chẳng khác gì ở tù!”
Đại khái các luận điểm của họ như vậy.
Nghe họ nói hăng đến độ tôi đành im lặng. Tôi biết họ đều là những người yêu thích Á châu; một số là những nhà nghiên cứu Á châu học xuất sắc. Tuy nhiên, cách nhìn của họ có cái gì thiên lệch. Hình như với họ, chỉ có các quốc gia Tây phương mới nên đô thị hoá và cơ giới hoá. Còn các quốc gia Á châu thì, để bảo vệ bản sắc truyền thống của mình, nên có cái gì xô bồ, lộn xộn và bẩn thỉu. Có như thế mới đẹp và quyến rũ chăng?
Trong số những người chê bai Singapore và khen ngợi Việt Nam, có một số là sinh viên hoặc cựu sinh viên của tôi. Có lần tôi tò mò hỏi họ: Điều gì họ thích nhất ở Việt Nam? Thật bất ngờ, câu trả lời tôi nghe được từ khá nhiều người, đặc biệt là sinh viên nam: Ỉa đồng!
Họ kể, trong các chuyến du lịch nào đó về Việt Nam, lên tận các tỉnh miền núi hay miền quê, khi đau bụng, tìm nhà vệ sinh không ra, họ bèn, theo lời chỉ dẫn của người địa phương, ra ngoài đồng vắng xổ bầu tâm sự!
Tôi đọc cho họ nghe câu tục ngữ “Nhất quận công, nhì ỉa đồng” và câu ca dao: “Thứ nhất là đỗ thám hoa / Thứ nhì cưới vợ, thứ ba ỉa đồng”. Và cười. Nhưng ngượng chín người.
Chẳng thà tôi làm dân của một nước bị chê bai là máy móc như Singapore còn hơn làm dân một nước người ngoại quốc thích đến đó chỉ vì được… ỉa đồng
วันเสาร์ที่ 1 สิงหาคม พ.ศ. 2552
No390:Đức Dalai Lama trở thành công dân danh dự của thủ đô Warsaw, Ba Lan

Trong chuyến thăm viếng Ba Lan từ 28 đến 30-07/2009, đức Dalai Lama đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cho người dân của thủ đô Warsaw của Ba Lan.
Ngày 28 ngài đã thuyết trình đề tài: "Để nhanh chóng đạt tới sự hiểu biết phổ cập về thế giới , cần có một trái tim nhân hậu'' trước các sinh viên và các nhà nghiên cứu khoa học của trường Đại Học Tổng Hợp Warsaw. Buổi thuyết trình đã thu hút sự chú ý đặc biệt của thính giả, hội trường đầy ắp, nhiều thính giả phải đứng nghe.Cùng ngày, ngài đã đến thăm Viện Bảo Tàng Khởi Nghĩa Warsaw. Đây là viện bảo tàng ghi lại các chứng tích anh hùng của quân và dân Warsaw khởi nghĩa chống lại sự chiếm đóng của phát xít Đức trong Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ II. Tại đây, ngài đã thắp nến để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa. Ngài nói: "Tôi luôn ngưỡng mộ tư tưởng tự do của dân tộc Ba Lan".
Sáng ngày 29/7/2009, tại Cung Vua Warsaw, tòa thị chính thủ đô đã tổ chức lễ trao danh hiệu công dân danh dự cho đức Dalai Lama. Đến dự lễ có cựu tổng thống Ba Lan Lech Walesa, cựu thủ tướng không cộng sản đầu tiên của Ba Lan Tadeusz Mazowiecki, đại diện của tổng thống Ba Lan và nhiều chính khách khác.
Trên đường vào Cung Vua, nhiều người hâm mộ tập trung chào đón ngài. Không chỉ có người Ba Lan, mà còn có những khách du lịch nước ngoài. Một người Tây Ban Nha nói: "Nhiều người cho rằng, Dalai Lama diễn tả những vấn đề một cách đơn giản, nhưng đối với tôi, điều đó thật là đẹp". Một phụ nữ trẻ Ba Lan tâm sự: "Tôi rất yêu quý Dalai Lama, tôi đã được bắt tay ông trong một lần ông đến Ba Lan trước đây".
Trong buổi lễ, bà thị trưởng Warsaw, Hanna Gronkiewicz-Waltz đã trao bằng công dân danh dự cho đức Dalai Lama. Chủ tịch hội đồng thành phố Warsaw bà Eva Malinowska-Grupinska đã đọc diễn văn chào mừng. Bà nói: "Với tư cách là những công dân của thành phố không biết khuất phục, chúng tôi tự hào là bắt đầu từ hôm nay, Dalai Lama là một công dân của thành phố chúng tôi”.
Trong đáp từ, Dalai Lama khẳng định: "Trở thành công dân của thành phố Warsaw nổi tiếng thật là một vinh dự to lớn. Tôi sẽ mãi mãi bảo vệ các sắc tộc và sự hòa hợp giữa các tôn giáo. Xin hãy theo dõi tôi, với tư cách một công dân Warsaw, có thực hiện đúng lời hứa trên đây không.''
Trong lời chào mừng, Lech Walesa, người bạn lâu năm của Dalai Lama phát biểu: "Dân tộc chúng ta (dân tộc Ba Lan và dân tộc Tây Tạng - ĐCV) có một quá khứ bi thảm giống nhau. Tôi rất vui mừng Dalai Lama trở thành công dân danh dự của Warsaw. Tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ nhận đươc danh hiệu công dân danh dự từ chính những công dân Tây Tạng trao cho".
Đây không phải là lần đầu tiên Dalai Lama viếng thăm Ba Lan. Trong những lần trước, chính quyềnTrung Quốc đều phản đối Ba Lan về những cuộc viếng thăm này. Thậm chí, họ còn phản đối cả việc đặt tên các đường phố mang tên liên quan đến Tây Tạng. Phía Ba Lan đã trả lời rõ ràng , đây là những vấn đề thuộc chủ quyền của Ba Lan. Ba Lan luôn kính trọng Dalai Lama và ủng hộ chủ trương đấu tranh ôn hòa cho một Tây Tạng tự trị nhiều hơn và bảo tồn nền văn hóa truyền thống của Tây Tạng.
Theo các báo và TV Ba Lan.
No389: MỘT XÃ HỘI KHÔNG BÌNH THƯỜNG CẦN MỘT SỰ THAY ĐỔI
Buổi “tọa đàm về Biển Đông và Hải đảo Việt Nam”, được tổ chức bởi CLB trí thức Công giáo Phaolô Nguyễn Văn Bình (P.NVB) và NXB Tri Thức phối hợp thực hiện chắc chắn khiến rất nhiều thế hệ, tầng lớp người Việt Nam quan tâm.
Đương nhiên, bởi nó diễn ra trong thời điểm mà các sự kiện đe dọa đến an ninh biển và hải đảo của tổ quốc liên tục xảy đến với tần suất ngày càng lớn và ngày càng trắng trợn đối với ngư dân miền Trung, những người đứng đầu ngọn sóng!
Buổi tọa đàm này diễn ra chỉ sau vụ Tam Tòa mấy ngày, ( vụ Tam Tòa xảy ra ngày 20/7, tọa đàm về Biển Đông diễn ra ngày 24/7). Tự nhiên lại có sự liên tưởng hai sự kiện với nhau, (từ đây sẽ gọi vụ Tam Tòa là “sự kiện thứ nhất”, buổi tọa đàm là “sự kiện thứ hai”), chắc bởi lẽ cả hai sự kiện cùng gợi cho người ta nhiều nỗi niềm day dứt, ám ảnh và hoài nghi giống nhau về một thể chế xã hội?
Sự kiện thứ nhất thực ra hoàn toàn không đáng xảy ra, nó chỉ là sự chưa đồng thuận về một vấn đề giữa người dân và chính quyền địa phương mà nếu những người của chính quyền có một cái đầu bình thường thì đã có nhiều cách giải quyết khác hơn là dẫn đến đổ máu, nồi da xáo thịt, xung đột lương giáo… bởi chính sự kích động mù quáng của chính quyền như vậy! Nhưng nó đã xảy ra, chỉ vì một ý thức hệ mù quáng và ngu xuẩn là kích động hằn thù tôn giáo, lấy bạo lực làm phương thế giải quyết mọi vấn đề.
Sự kiện thứ hai, thật may mắn vì nó cũng được diễn ra trót lọt trong sự hồi hộp, nín thở , lo lắng của Ban tổ chức (sợ bị dẹp bất kỳ lúc nào)! Trong khi đó, chính sự kiện này lại rất cần đến mọi tầng lớp nhân dân kể cả “quần chúng nhân dân bức xúc” có mặt, hiện diện để bày tỏ thái độ của cá nhân, cộng đồng và dân tộc về chủ quyền Quốc gia.
Cũng rất mới đây thôi, giữa đường phố Thủ đô Hà Nội, hai kẻ ngoại bang Madein China trong một cơn khát máu đã cầm chân, giộng đầu một người Việt Nam đến chết !
Bức xúc chứ, tại sao không? Nhưng còn phải đợi cho phép mới được thể hiện ! Yêu nước còn chưa được phép kia mà?
Tổ quốc là gì nếu không là một nắm đất biên cương, một cành san hô nơi trùng dương sóng vỗ, là đồng bào mình đang đối mặt với hiểm nguy nơi đầu sóng ngọn gió?
Không thể tin được người Việt Nam ngày nay đã trở nên tàn bạo với chính đồng bào mình mà lại hèn hạ khiếp nhược với kẻ thù như vậy?
Từ bao giờ người Việt đã tôn thờ chủ nghĩa vật chất để đến độ “một trăm nghìn đồng” có thể sai khiến được lương tâm, chôn vùi nhân cách, chà đạp đạo lý… nhưng lại dửng dưng trước thế hệ tương lai, thờ ơ với vận nước, sợ hãi trước bóng ma cường quyền bạo ngược?
Tại sao chính quyền không phải là phương tiện để xóa bỏ kỳ thị tôn giáo nếu thực sự có cái gọi là “kỳ thị tôn giáo”, mà lại chính là thủ phạm xúi giục, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xúc xiểm, biến người dân thành công cụ cho mục đích xấu xa và phục vụ cho quan thầy của nó?
Tại sao chính quyền và các cơ quan chức năng “của dân, do dân, vì dân” không lên tiếng bảo vệ mấy thanh niên ở buổi tọa đàm khi các em bị kẻ phản động bắt cởi “chiếc áo yêu nước” (có in hình Tổ quốc với hai quần đảo Hoàng- Trường Sa) thì mới cho vào hội trường dự buổi tọa đàm? Tại sao kẻ phản động đó không bị vạch mặt chỉ tên? Hay hắn đã được bảo kê bởi chính một thế lực phản động lớn hơn? (Đã có ý kiến cần kết tội phản quốc đối với kẻ đã ra lệnh tịch thu 3 “chiếc áo yêu nước” này).
Từ bao giờ người ta đã quen với trò đánh lận con đen, với thủ đoạn đánh tráo khái niệm? Những giáo dân hiền lành cầu nguyện, thực hành nghi thức tôn giáo của mình trong không gian chủ quyền của mình thì bị vu khống là “gây rối trật tự công cộng”.
Những kẻ giả danh thường dân, tấn công các cơ sở tôn giáo với đầy đủ vũ khí, công cụ chuyên dùng (vụ Thái Hà, tòa Khâm sứ của người Công giáo, tu viện Bát Nhã của Phật giáo…và bây giờ là nhà thờ Tam Tòa) thì được gọi là “quần chúng bức xúc tự phát”.
Những người yêu nước biểu tình ôn hòa vì Hoàng Sa, Trường Sa thì bị bắt, bị xua đuổi và bị “cấm tụ tập đông người” (bloger Điếu Cày, đạo diễn Song Chi, cùng rất nhiều thanh niên và sinh viên …).
Những hạt giống đã và đang hé mở một tiền đồ tươi sáng cho dân tộc, lẽ ra phải được tạo một môi trường thuận lợi giúp nhân rộng niềm hy vọng này thì lại bị dập vùi không thương tiếc (Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn…, Luật sư Lê Trần Luật , Lê Công Định và bây giờ là Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung…).
Những ngư dân miền Trung lam lũ bị hải tặc tấn công, sát hại, tống tiền… thì chính quyền lớn nhỏ không dám có một động thái khả dĩ xứng đáng để có thể bảo vệ dân mình?
“Quần chúng bức xúc tự phát” có thể xông vào đánh đập, cướp phá những biểu tượng thiêng liêng của người anh em mình nhưng lại không có một mảy may rung động trước mối nguy mất nước, mất dân tộc!
Chiến sĩ Biên phòng ở đâu? Hải quân nhân dân ở đâu mà từ hồi nào tới giờ không thấy lên tiếng, không thấy thực thi nhiệm vụ của mình? Hàng năm trong các dịp lễ kỷ niệm gì gì đó luôn thấy đưa tin phong cho đơn vị này đơn vị kia danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, phong hàm thăng cấp cho nhân vật này nhân vật khác. Với các anh, Tổ quốc và Dân tộc có phải là lý tưởng không, hay các anh đã bị khủng bố, mua chuộc, áp đặt cho một lý tưởng xa lạ và ảo tưởng nào đó? Nguyễn Tiến Trung, người trí thức yêu nước dù rất trẻ đã sớm nhận ra sự “lập lờ đánh lận con đen” này và anh không bị mắc lừa!
Chắc chắn, mỗi một người lính các anh đều thuộc một bài hát có lời rất hay “…Đoàn Vệ quốc chúng ta từ nhân dân mà ra, được dân mến được dân tin muôn phần…”, nay không biết các anh có đủ tự tin để hát tự đáy lòng mình lời ca ấy?
Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra trong lòng đất nước hôm nay phải gọi là gì nếu không phải là phản ý thức khiến dẫn đến phản động?
Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra trong lòng đất nước hôm nay là hệ quả của một thứ thuyết giáo man rợ, sắt máu, bạo quyền được nhập khẩu bởi một thời mông muội, mù quáng … Những hiện tượng ấy cũng đem đến một dự cảm là sự giãy chết của một thể chế lạc loài giữa thời đại văn minh rực rỡ của loài người!
Đã quá lâu rồi, người Việt Nam phải sống lắt lay trong bầu khí dối trá, bị bạo quyền bịt miệng và sai khiến.
Một bài văn của một học sinh lớp 8 dễ dàng bị điểm dưới trung bình mặc dù đó là một bài viết rất hay, đầy cảm xúc về tình bạn giữa em và chú mèo, chỉ bởi vì nó đã viết không đúng ý người ta (đáp án). Bảo làm sao khái niệm về những vấn đề “nhạy cảm” đã xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng khiến người ta nực cười về sự lố bịch của nó.
Có một thời, nhà thơ Sóng Hồng và cũng là lãnh tụ cộng sản (Trường Chinh) từng mơ có thể “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ , lấy ý thơ bom đạn phá cường quyền” (đúng khí phách cộng sản), nhưng nay các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam chỉ cần phản ánh những thực trạng xã hội, bày tỏ niềm tri ân các liệt sĩ trong ngày lịch sử giữ nước cũng đã là động chạm đến “vấn đề nhạy cảm” rồi, cẩn thận sẽ bị treo bút cũng có nghĩa là bắt đầu một sự đối đầu bất đắc dĩ. Vậy nên các nhà báo chọn cách khôn ngoan hơn cả là đã tự kiểm duyệt mình, không chỉ trong một vài bài báo mà cả ý thức hệ để luôn đi đúng lề phải cho an toàn.
Buổi tọa đàm về Biển Đông diễn ra một cách âm thầm, dù đã được chính quyền cho phép, tại một địa điểm tôn giáo: Trung tâm Phaolô Nguyễn Văn Bình (số 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM), nhưng theo Bauxit Việt Nam kiểm chứng chỉ thấy duy nhất một tờ Bình Dương (cơ quan ngôn luận của ĐCS Việt Nam tỉnh Bình Dương) đưa tin, dù sao cũng có một kẻ dám cả gan đặt một chân sang lề trái.
Trong khi đó, báo chí truyền thông các loại đã không tiếc lời vu khống giáo dân, tu sĩ Công giáo trong vụ Tam Tòa như đã từng làm với Thái Hà, Tòa Khâm sứ…
Trong một xã hội bình thường thì không bao giờ lại có những chuyện bất bình thường như thế được, nó chỉ có thể tồn tại trong một thể chế xã hội man rợ , bất chấp luật pháp hay không thèm đếm xỉa đến luật pháp mà thôi!
Người Việt Nam từng tự hào có nền văn hiến ngàn năm, có lịch sử giữ nước bốn ngàn năm nay không lẽ chấp nhận, cam chịu một thể chế xã hội man rợ lạc loài như thế ?
Xã hội đã không bình thường, nhu cầu thay đổi là tất yếu. Cần lắm những trai tim và khối óc biết nghĩ đến non sông đất nước.
Hà Nội, ngày 01/08/2009
Đương nhiên, bởi nó diễn ra trong thời điểm mà các sự kiện đe dọa đến an ninh biển và hải đảo của tổ quốc liên tục xảy đến với tần suất ngày càng lớn và ngày càng trắng trợn đối với ngư dân miền Trung, những người đứng đầu ngọn sóng!
Buổi tọa đàm này diễn ra chỉ sau vụ Tam Tòa mấy ngày, ( vụ Tam Tòa xảy ra ngày 20/7, tọa đàm về Biển Đông diễn ra ngày 24/7). Tự nhiên lại có sự liên tưởng hai sự kiện với nhau, (từ đây sẽ gọi vụ Tam Tòa là “sự kiện thứ nhất”, buổi tọa đàm là “sự kiện thứ hai”), chắc bởi lẽ cả hai sự kiện cùng gợi cho người ta nhiều nỗi niềm day dứt, ám ảnh và hoài nghi giống nhau về một thể chế xã hội?
Sự kiện thứ nhất thực ra hoàn toàn không đáng xảy ra, nó chỉ là sự chưa đồng thuận về một vấn đề giữa người dân và chính quyền địa phương mà nếu những người của chính quyền có một cái đầu bình thường thì đã có nhiều cách giải quyết khác hơn là dẫn đến đổ máu, nồi da xáo thịt, xung đột lương giáo… bởi chính sự kích động mù quáng của chính quyền như vậy! Nhưng nó đã xảy ra, chỉ vì một ý thức hệ mù quáng và ngu xuẩn là kích động hằn thù tôn giáo, lấy bạo lực làm phương thế giải quyết mọi vấn đề.
Sự kiện thứ hai, thật may mắn vì nó cũng được diễn ra trót lọt trong sự hồi hộp, nín thở , lo lắng của Ban tổ chức (sợ bị dẹp bất kỳ lúc nào)! Trong khi đó, chính sự kiện này lại rất cần đến mọi tầng lớp nhân dân kể cả “quần chúng nhân dân bức xúc” có mặt, hiện diện để bày tỏ thái độ của cá nhân, cộng đồng và dân tộc về chủ quyền Quốc gia.
Cũng rất mới đây thôi, giữa đường phố Thủ đô Hà Nội, hai kẻ ngoại bang Madein China trong một cơn khát máu đã cầm chân, giộng đầu một người Việt Nam đến chết !
Bức xúc chứ, tại sao không? Nhưng còn phải đợi cho phép mới được thể hiện ! Yêu nước còn chưa được phép kia mà?
Tổ quốc là gì nếu không là một nắm đất biên cương, một cành san hô nơi trùng dương sóng vỗ, là đồng bào mình đang đối mặt với hiểm nguy nơi đầu sóng ngọn gió?
Không thể tin được người Việt Nam ngày nay đã trở nên tàn bạo với chính đồng bào mình mà lại hèn hạ khiếp nhược với kẻ thù như vậy?
Từ bao giờ người Việt đã tôn thờ chủ nghĩa vật chất để đến độ “một trăm nghìn đồng” có thể sai khiến được lương tâm, chôn vùi nhân cách, chà đạp đạo lý… nhưng lại dửng dưng trước thế hệ tương lai, thờ ơ với vận nước, sợ hãi trước bóng ma cường quyền bạo ngược?
Tại sao chính quyền không phải là phương tiện để xóa bỏ kỳ thị tôn giáo nếu thực sự có cái gọi là “kỳ thị tôn giáo”, mà lại chính là thủ phạm xúi giục, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xúc xiểm, biến người dân thành công cụ cho mục đích xấu xa và phục vụ cho quan thầy của nó?
Tại sao chính quyền và các cơ quan chức năng “của dân, do dân, vì dân” không lên tiếng bảo vệ mấy thanh niên ở buổi tọa đàm khi các em bị kẻ phản động bắt cởi “chiếc áo yêu nước” (có in hình Tổ quốc với hai quần đảo Hoàng- Trường Sa) thì mới cho vào hội trường dự buổi tọa đàm? Tại sao kẻ phản động đó không bị vạch mặt chỉ tên? Hay hắn đã được bảo kê bởi chính một thế lực phản động lớn hơn? (Đã có ý kiến cần kết tội phản quốc đối với kẻ đã ra lệnh tịch thu 3 “chiếc áo yêu nước” này).
Từ bao giờ người ta đã quen với trò đánh lận con đen, với thủ đoạn đánh tráo khái niệm? Những giáo dân hiền lành cầu nguyện, thực hành nghi thức tôn giáo của mình trong không gian chủ quyền của mình thì bị vu khống là “gây rối trật tự công cộng”.
Những kẻ giả danh thường dân, tấn công các cơ sở tôn giáo với đầy đủ vũ khí, công cụ chuyên dùng (vụ Thái Hà, tòa Khâm sứ của người Công giáo, tu viện Bát Nhã của Phật giáo…và bây giờ là nhà thờ Tam Tòa) thì được gọi là “quần chúng bức xúc tự phát”.
Những người yêu nước biểu tình ôn hòa vì Hoàng Sa, Trường Sa thì bị bắt, bị xua đuổi và bị “cấm tụ tập đông người” (bloger Điếu Cày, đạo diễn Song Chi, cùng rất nhiều thanh niên và sinh viên …).
Những hạt giống đã và đang hé mở một tiền đồ tươi sáng cho dân tộc, lẽ ra phải được tạo một môi trường thuận lợi giúp nhân rộng niềm hy vọng này thì lại bị dập vùi không thương tiếc (Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn…, Luật sư Lê Trần Luật , Lê Công Định và bây giờ là Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung…).
Những ngư dân miền Trung lam lũ bị hải tặc tấn công, sát hại, tống tiền… thì chính quyền lớn nhỏ không dám có một động thái khả dĩ xứng đáng để có thể bảo vệ dân mình?
“Quần chúng bức xúc tự phát” có thể xông vào đánh đập, cướp phá những biểu tượng thiêng liêng của người anh em mình nhưng lại không có một mảy may rung động trước mối nguy mất nước, mất dân tộc!
Chiến sĩ Biên phòng ở đâu? Hải quân nhân dân ở đâu mà từ hồi nào tới giờ không thấy lên tiếng, không thấy thực thi nhiệm vụ của mình? Hàng năm trong các dịp lễ kỷ niệm gì gì đó luôn thấy đưa tin phong cho đơn vị này đơn vị kia danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, phong hàm thăng cấp cho nhân vật này nhân vật khác. Với các anh, Tổ quốc và Dân tộc có phải là lý tưởng không, hay các anh đã bị khủng bố, mua chuộc, áp đặt cho một lý tưởng xa lạ và ảo tưởng nào đó? Nguyễn Tiến Trung, người trí thức yêu nước dù rất trẻ đã sớm nhận ra sự “lập lờ đánh lận con đen” này và anh không bị mắc lừa!
Chắc chắn, mỗi một người lính các anh đều thuộc một bài hát có lời rất hay “…Đoàn Vệ quốc chúng ta từ nhân dân mà ra, được dân mến được dân tin muôn phần…”, nay không biết các anh có đủ tự tin để hát tự đáy lòng mình lời ca ấy?
Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra trong lòng đất nước hôm nay phải gọi là gì nếu không phải là phản ý thức khiến dẫn đến phản động?
Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra trong lòng đất nước hôm nay là hệ quả của một thứ thuyết giáo man rợ, sắt máu, bạo quyền được nhập khẩu bởi một thời mông muội, mù quáng … Những hiện tượng ấy cũng đem đến một dự cảm là sự giãy chết của một thể chế lạc loài giữa thời đại văn minh rực rỡ của loài người!
Đã quá lâu rồi, người Việt Nam phải sống lắt lay trong bầu khí dối trá, bị bạo quyền bịt miệng và sai khiến.
Một bài văn của một học sinh lớp 8 dễ dàng bị điểm dưới trung bình mặc dù đó là một bài viết rất hay, đầy cảm xúc về tình bạn giữa em và chú mèo, chỉ bởi vì nó đã viết không đúng ý người ta (đáp án). Bảo làm sao khái niệm về những vấn đề “nhạy cảm” đã xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng khiến người ta nực cười về sự lố bịch của nó.
Có một thời, nhà thơ Sóng Hồng và cũng là lãnh tụ cộng sản (Trường Chinh) từng mơ có thể “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ , lấy ý thơ bom đạn phá cường quyền” (đúng khí phách cộng sản), nhưng nay các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam chỉ cần phản ánh những thực trạng xã hội, bày tỏ niềm tri ân các liệt sĩ trong ngày lịch sử giữ nước cũng đã là động chạm đến “vấn đề nhạy cảm” rồi, cẩn thận sẽ bị treo bút cũng có nghĩa là bắt đầu một sự đối đầu bất đắc dĩ. Vậy nên các nhà báo chọn cách khôn ngoan hơn cả là đã tự kiểm duyệt mình, không chỉ trong một vài bài báo mà cả ý thức hệ để luôn đi đúng lề phải cho an toàn.
Buổi tọa đàm về Biển Đông diễn ra một cách âm thầm, dù đã được chính quyền cho phép, tại một địa điểm tôn giáo: Trung tâm Phaolô Nguyễn Văn Bình (số 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM), nhưng theo Bauxit Việt Nam kiểm chứng chỉ thấy duy nhất một tờ Bình Dương (cơ quan ngôn luận của ĐCS Việt Nam tỉnh Bình Dương) đưa tin, dù sao cũng có một kẻ dám cả gan đặt một chân sang lề trái.
Trong khi đó, báo chí truyền thông các loại đã không tiếc lời vu khống giáo dân, tu sĩ Công giáo trong vụ Tam Tòa như đã từng làm với Thái Hà, Tòa Khâm sứ…
Trong một xã hội bình thường thì không bao giờ lại có những chuyện bất bình thường như thế được, nó chỉ có thể tồn tại trong một thể chế xã hội man rợ , bất chấp luật pháp hay không thèm đếm xỉa đến luật pháp mà thôi!
Người Việt Nam từng tự hào có nền văn hiến ngàn năm, có lịch sử giữ nước bốn ngàn năm nay không lẽ chấp nhận, cam chịu một thể chế xã hội man rợ lạc loài như thế ?
Xã hội đã không bình thường, nhu cầu thay đổi là tất yếu. Cần lắm những trai tim và khối óc biết nghĩ đến non sông đất nước.
Hà Nội, ngày 01/08/2009
No388: Điều tôi không thể hiểu nổi?

Kami.
Tôi đã theo dõi tin tức liên quan đến cuộc hội thảo "Hội thảo về Biển Đông và Hải Đảo" đã khai mạc 24/07 tại TP Hồ Chí Minh trên mạng ngay từ những ngày đầu. Cuộc hội thảo diễn ra tuy gặp một vài sự cố nhỏ đáng tiếc xong vẫn kết thúc trọn vẹn với kết quả khả quan và được dư luận trong và ngoài nước hết sức quan tâm và đánh giá cao. Đặc biệt nhất đây chỉ là một cuộc tọa đàm khoa học do CLB trí thức Công giáo Phaolô Nguyễn Văn Bình và Nhà xuất bản Tri Thức ở Hà Nội chủ trì, chứ không phải là dưới sự bảo trợ của bất kỳ một cơ quan nào của nhà nước. Mặc dù vậy cuộc tọa đàm vẫn nhận được sự ủng hộ của một vài cơ quan nhà nước có gửi lẵng hoa đến chúc mừng.
Cuộc hội thảo đã thu hút được rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu và đông đảo tầng lớp nhân dân đặc biệt là có một số đông các bạn trẻ tham gia quan tâm tới vận mệnh của đất nước.
Cuộc hội thảo tuy đã kết thúc được nhiều ngày, xong dư âm của nó vẫn chưa hết, nó vẫn là một đề tài nóng đang được tranh luận sôi nổi trên các trang mạng, đó là xung quanh một số trở ngại không đáng có đã xảy ra trong thời gian hội thảo. Đây không chỉ là việc cuộc hội thảo bị thay đổi địa điểm sau ngày khai mạc, sự vắng mặt khó hiểu của một số học giả có tên tuổi một loạt đại biểu đột nhiên cùng “bận” đột xuất, không thể tham dự tọa đàm, hay việc “Báo chí được phép tham dự nhưng không được đưa tin”, truyền thông quốc doanh không đưa tin ngoài một mẩu tin ngắn duy nhất của báo Bình Dương (cơ quan của đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bình Dương-quê ông Nguyễn Minh Triết)(1)mà là một sự kiện nhỏ nhưng không nhỏ bên ngoài hành lang của cuộc hội thảo.
Sự kiện đó nhiều người được biết bắt đầu từ một sự việc, website Bauxite của GS Huệ Chi đăng bài về buổi tọa đàm này(2) và thực sự nóng lên khi bài viết "Ông Nguyễn Quốc Thái trả lời băn khoăn của các bạn trẻ về việc những “chiếc áo yêu nước vô tội” trong Hội thảo Biển Đông và hải đảo bị buộc phải cởi bỏ" đăng trên mạng bauxite.info(3), mà các bạn trẻ đó là ba thành viên của diễn đàn hoangsa.org theo xác nhận của họ. Ba thanh niên mặc áo mang dòng chữ “Paracels and Spratleys belong to Vietnam forever! ” bị “cơ quan chức năng” mời ra ngoài (sau đó được ở lại vì đã cởi áo?). Khi bị bắt phải cởi áo ra, những người trẻ này đã khóc?(4)
Sự kiện trên không hề gây ảnh hưởng cho cuộc hội thảo nhưng nó đã gây sự phẫn nộ, bức xúc của những người trong cuộc được chúng kiến trực tiếp và sau đó là những người được biết thông tin này trên mạng, đây không chỉ đơn giản là sự chà đạp lên quyền tự do tối thiểu của một công dân, mà cái lớn hơn hành động đó là một điều xỉ nhục với tinh thần yêu nước của người Việt nam chúng ta.
Hành động mặc áo của ba bạn trẻ không hề vi phạm pháp luật hay bất kỳ chuẩn mực đạo đức nào mà chỉ là một hành động thể hiện lòng yêu nước, sự khẳng định chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa được nhân dân Việt nam coi là máu thịt của tổ quốc Việt nam, là một phần lãnh thổ không thể tách rời mà cha ông ta từ ngàn xưa đã hy sinh máu xương để giành lại cho con cháu.
Thử hỏi các nhân viên của các "cơ quan chức năng" căn cứ vào điều khoản nào của luật pháp nào để buộc ba bạn trẻ phải cởi bỏ những chiếc áo trên? Chiếc áo trắng với dòng chữ “Paracels and Spratleys belong to Vietnam forever!" cùng với bản đồ tổ quốc có gì là sai?
Chắc chắn không đơn thuần phải là sự tùy tiện của một vài nhân viên của cơ quan chức năng mà là một hành động có chỉ đạo của những cá nhân lãnh đạo cấp cao hơn như thế, hay nói một cách khác phải chăng đây là một chủ trương lớn của đảng CSVN?
Tôi tin rằng các nhân viên họ đã bị buộc làm theo lệnh của cấp trên mà ở cương vị họ không được phép từ chối, nhưng thâm tâm họ không muốn làm vì họ hiểu rằng đó là một điều sỉ nhục đối với công dân Việt nam, khi làm những việc đó cho dù ở bất kỳ nơi nào, thời điểm nào nhất là ở cuộc hội thảo nhằm cung cấp một số chứng cứ lịch sử và khoa học, góp phần làm sáng tỏ chủ quyền của Việt nam về biển Đông đặc biệt là hai quần đảo HS-TS.
Là người Việt nam yêu nước chúng ta không được phép dù chỉ là trong suy nghĩ "không ủng hộ việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ đối với Biển Đông và hai quần đảo HS-TS" dẫu chỉ là suy nghĩ thôi cũng là có tội với tổ tiên, đó là hành động bán nước và phản bội tổ quốc, không thể chấp nhận được.
Vậy mà có những kẻ nhân danh lãnh đạo quốc gia dám chỉ thị cho nhân viên cấp dưới của mình bắt những bạn trẻ mặc áo có hình bản đồ tổ quốc và dòng chữ “Paracels and Spratleys belong to Vietnam forever!" phải cởi bỏ.
Tại sao? Vì đâu?
Họ đã nợ và phải có trách nhiệm trả lời với toàn thể dân tộc Việt nam câu hỏi :" Các ngài có phải người Việt nam yêu nước không?"
Xin đừng trả lời rằng thâm tâm các quý vị không muốn HS-TS thuộc chủ quyền của Việt nam để vừa lòng người đồng chí tốt, vì sự tồn vong của một nhóm người theo kiểu "thà mất nước còn hơn mất đảng".
Hơn bao giờ hết, cá nhân tôi và nhiều người khác đã và đang nghi ngờ về tư cách đạo đức của các vị lãnh đạo đất nước. Nhất là thời gian vừa qua sự phản bội của các vị đang dần lộ rõ, thể hiện qua một số hành động đàn áp những người phản đối nhà cầm quyền Trung quốc đối với chủ quyền lãnh thổ của Việt nam, đặc biệt qua sự việc lần này đã buộc chúng tôi khẳng định các ngài là những kẻ bán nước.
Các vị hãy mau sám hối đi nếu không sẽ quá muộn.
Hà nội,ngày đầu thu 02/8/2009
-------------
Chú thích:
(1)http://www.baobinhduong.org.vn/detail.aspx?Item=81281
(2)http://bauxitevietnam.info/c/4598.html
(3)http://www.bauxitevietnam.info/c/5052.html
(4)http://bauxitevietnam.info/c/4598.html
สมัครสมาชิก:
บทความ (Atom)