วันพุธที่ 3 ธันวาคม พ.ศ. 2551

No145: Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh

Hàng năm cứ đến giữa tháng 8 nhà cầm quyền trong nước lại rầm rộ tổ chức kỷ niệm “Cách Mạng Tháng 8” để đề cao công đức của “Bác và Đảng” đối với đất nước. Nhân dịp này chúng tôi xin giới thiệu với độc giả một chương sách của Minh Võ về mặt trận Việt Minh từng đóng vai chính trong cái gọi là cuộc cách mạng tháng 8 nói trên.

Trước hết, cần minh xác về khái niệm mặt trận. Thông thường 2 chữ này có nghĩa tiền tuyến, nơi đang xảy ra giao tranh bằng quân sự. Đó là nghĩa đen. Nhưng mặt trận cũng có nghĩa bóng, chẳng hạn khi nói mặt trận văn hóa, mặt trận ngoại giao... Ngoài ra, mặt trận còn có thể là một tổ chức đấu tranh tập hợp nhiều đoàn thể đảng phái nhằm tranh thủ một mục tiêu chính trị nào đó, không nhất thiết bằng võ lực.

Đó là những khái niệm thông thường, trước khi có cuộc chiến ý thức hệ do chủ trương đấu tranh giai cấp mang tính toàn cầu, toàn diện. Từ khi có cuộc chiến này với thuộc tính “toàn cầu, toàn diện”, mặt trận chỉ có một nghĩa - nghĩa đen.

Mặt trận ở đây chính là tiền tuyến, tại đó người cộng sản dùng những võ khí tinh thần hơn là vật chất. Trong chiến tranh toàn diện, mọi thứ đều có thể là võ khí thì mọi nơi đều có thể là tiền tuyến hay mặt trận.

Theo chiến lược sách lược liên minh Lênin, đặc biệt sách lược “mặt trận thống nhất” được Stalin áp dụng tại Trung Quốc giữa thập niên 20, mặt trận còn là một hình thức sách lược đấu tranh. Nó thay đổi tùy nơi, tùy lúc, tùy theo cao trào hay thoái trào cách mạng, (chữ của Stalin).

Trong trường hợp này, nó như chiếc áo mà đảng cộng sản chọn mặc cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Cũng theo sách lược liên minh Lênin, mặt trận còn mang ý nghĩa của bộ mặt ngoài che giấu thực chất phía trong. Mặt trận luôn được điều khiển bởi đảng cộng sản nằm làm nòng cốt ở bên trong nên cũng có thể bảo là một thứ mặt nạ của đảng cộng sản. Những tính chất này đều được thể hiện với Mặt trận Việt Minh.

Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 và cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1955 đánh dấu hai thời điểm quan trọng trong quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh thì Mặt Trận Việt Minh và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là những tổ chức gắn liền với sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhất là Mặt Trận Việt Minh do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 19 tháng 5 mà sau này ông nói là ngày sinh của ông.
Có thể coi hai tổ chức này như hai con thuyền đã giúp Hồ Chí Minh vượt qua sóng gió. Và, cũng như mọi con thuyền, cả hai tổ chức đều mang chung số phận bị dẹp bỏ sau khi đi tới bến bờ mong muốn để chỉ còn được sống lại vào những lúc cần xác định lý tưởng của Hồ Chí Minh.

Với rất nhiều người, Mặt Trận Việt Minh cũng như Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là những lực lượng quy tụ các phần tử yêu nước hình thành do yêu cầu giành độc lập hoặc chống ngoại xâm. Hồ Chí Minh là người sáng lập và trực tiếp lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh, là người hỗ trợ tích cực cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.

Cả hai tổ chức đều nhờ Hồ Chí Minh để thâu đoạt thắng lợi, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đối với đất nước. Lý tưởng mà Hồ Chí Minh theo đuổi đã được kể là dựa trên nền tảng hình thành từ tính chất đáp ứng nguyện vọng dân tộc chính đáng của hai tổ chức trên.

Tương đồng và dị biệt giữa thực tế với nhận định được nêu trên ra sao?
Theo tài liệu của Cộng Sản Việt Nam, Mặt Trận Việt Minh ra đời tại hang Pac Bó tỉnh Cao Bằng ngày 19-5-1941 theo sáng kiến của Hồ Chí Minh trong một phiên họp được gọi là Hội Nghị kỳ 8 Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hồ Chí Minh chủ tọa Hội Nghị với tư cách đại diện Đệ Tam Quốc Tế. Số người có mặt gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và một đại biểu Bắc Kỳ, một đại biểu Trung Kỳ. (1) “Hội nghị khẳng định: Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc...Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp — Nhật..… nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãn kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

Theo sáng kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, hội nghị đã quyết định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị...” (2)

Việt Nam những sự kiện lịch sử 1919-1945 ghi lại chi tiết hơn: “Phân tích tình hình thế giới, nghị quyết của Hội Nghị nhận định: Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.. Hội Nghị tán thành nghị quyết của hai hội nghị Trung Ương trước đó về việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược nhằm nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, ngày 19-5-1941, Hội Nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất Phản Đế Đông Dương và đặt ra nhiệm vụ giúp đỡ các dân tộc Lào và Campuchia thành lập mặt trận của mình. Các tổ chức của Việt Minh sẽ là các Hội Cứu Quốc. Hội Nghị quyết định tiếp tục chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tranh thủ mở rộng mặt trận dân tộc” (3)

Những dòng ghi vắn gọn trên cho thấy rõ Mặt Trận Việt Minh không hề theo đuổi mục tiêu đấu tranh cho nguyện vọng dân tộc.

Sự ra đời của tổ chức chỉ nhắm khai thác tâm lý quần chúng để gây dựng lực lượng và củng cố vị thế của Đảng Cộng Sản tùy theo từng giai đoạn.
Những ngày trước đó, Đảng Cộng Sản nấp dưới chiêu bài Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất Phản Đế Đông Dương thành lập tháng 11-1939, vì không thể công khai đấu tranh sau biến cố Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Trước nữa, Đảng Cộng Sản đã lập Mặt Trận Phản Đế vào tháng 11-1930 và Mặt Trận Dân Chủ vào năm 1936.
Hình thức mặt trận nẩy sinh từ quan điểm chiến lược sách lược Lênin nhắm tập họp, liên minh với các lực lượng, kể cả thành phần thù địch nhưng cần khai thác trong thời gian trước mắt hay một thời khoảng nào đó. Vì thế, mặc dù coi mọi giai cấp đều là kẻ thù của giai cấp Vô Sản, Mặt Trận Việt Minh vẫn chuyển hướng chỉ đạo để hô hào liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị và nêu chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tranh thủ mở rộng mặt trận dân tộc.

Chuyển hướng và tạm gác chắc chắn chỉ là những việc mang tính giai đoạn chứ không phải hướng nhắm thực sự cuối cùng. Cho nên, Douglas Pike đã hết lời ca ngợi Hồ Chí Minh: “Thiên tài số một của Hồ là tổ chức.... Hầu hết những thắng lợi chính trị của Hồ trong thời kỳ tiền Việt Minh là kết quả của tài tổ chức: tạo dựng, sử dụng và đưa ra ánh sáng một cách thuận lợi một chuỗi những tổ chức mặt trận thống nhất, cái sau bao giờ cũng cao hơn cái trước, mỗi cái đều tăng cường quyền lực của đảng, mở rộng thêm sự ủng hộ của cơ sở quần chúng và loại trừ đối lập (rivals). Kỹ thuật (loại trừ) này gồm có việc bao lấy tổ chức đối lập đưa nó vào trong một cộng đồng xã hội rộng lớn hơn như một phương cách làm lu mờ căn cước riêng của nó và như một màn mở đầu để chặt mất đầu, không còn lãnh tụ nên phải tan rã...” (4)

Không chỉ trong thời kỳ tiền Việt Minh mà các thời kỳ sau cũng mang cùng tính chất. Thực tế xã hội Việt Nam giai đoạn này cho thấy Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể thành công nếu cứ tiếp tục hô hào đấu tranh giai cấp và cải cách ruộng đất như những năm 1929-1930. Chính sách thực dân và thái độ tàn nhẫn của người Pháp đối với dân chúng đã tạo sự căm phẫn ngay nơi nhiều người Pháp. Andrée Viollis đã ghi lại không biết bao nhiêu cảnh sống uất nghẹn của người dân Việt Nam:
“Từ khi tôi đến Huế, vào mỗi sáng tôi thường bị đánh thức bởi giọng khàn gắt của những người còn say rượu, mắng bồi bếp “Đồ súc vật, mày có đến không?... Phải mất bao nhiêu thời giờ mới gọi được mày?Đến mau... sà-lù...Đôi khi tôi nghe thấy tiếng ghế đổ loảng xoảng, tiếng giầy dép quăng ném loạn xạ....

Một bà Pháp, đốc học trường Nữ ở Huế lái xe hơi, đụng té hai người nhà quê gánh rau vào thành phố. Họ bị thương nhẹ. Bà nọ đang tính bồi thường thì một viên chức nổi giận vì đám nhà quê dám hỗn xược đòi tiền một bà đầm. Y vừa đánh hai người kia vừa la lối: “Nếu tao mang súng theo thì tao giết tụi bay rồi. Cút đi! Đừng vác mặt đến đây nữa, nếu không sẽ biết tay tao”. Hai người đàn bà tội nghiệp mất cả gánh rau, mặt đầy máu, lấm lét bỏ trốn mà vẫn mừng đã thoát nạn”. (5)

Cảnh ngoài đường phố đó không đáng gì so với cảnh một nhà giam năm 1929-30 mà Andrée Viollis chứng kiến: “Tôi nhận ra hai hàng tù nhân, chân bị cùm, ngồi hay nằm sát chặt lấy nhau. Mỗi căn có 200 người. Tất cả đều nhìn chúng tôi bằng con mắt tuyệt vọng và sốt nóng vừa dơ bàn tay ra van nài... Mặt của họ nám đen, khô đét, má hóp, môi chảy ra nứt nẻ, cánh tay thì đầy mụn nhọt và vết thương. Hầu hết đều ghẻ hoặc bị chấy rận dày vò... Cả ngày người ta chỉ tháo cùm cho họ hai lần, mỗi lần mười phút để lo việc cần. Họ chỉ có quyền rửa mặt mỗi tuần một lần... Họ tiều tụy đến nỗi nhiều người không chống lại nổi bệnh kiết lị mà hầu hết đều bị. Mỗi sáng, người ta đến lấy những xác chết đem đi. Trung bình có hai hoặc ba người chết mỗi ngày trong một căn.” (6)

Andrée Viollis ghi lại một sự việc xảy ra tại nhà tù ngày 29-5-1931: “Hai tên Lê Dương Van Bargen và Layon lấy cưa xén tóc một phạm nhân để giỡn. Nghịch chán, Van Bargen rút súng lục bắn vào đùi phạm nhân rồi hất vào phòng giam. Một lúc sau, Van Bargen lại chĩa súng bắn xối xả vào các phạm nhân. Tất cả đều bị thương. Chúng chất các phạm nhân bị thương lên xe đưa đến một nơi vắng vẻ dùng súng lục bắn chết từng người, quăng xác vào bụi. Ra tòa, Van Bargen khai là chỉ bắt chước cấp trên thường chém đầu phạm nhân để giỡn chơi. Tên quan ba Doucin khai do nhà giam chật hẹp, số phạm nhân lại quá nhiều nên phải giết bớt đi”. (7)

Đó là cách đối phó với các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng trước và sau thời gian xẩy ra cuộc khởi nghĩa Yên Báy.
Những tên cai tù giết người được tòa tuyên bố trắng án trong khi một số tù nhân bị tử hình. Một chứng nhân người Pháp khác là Louis Roubaud (8) đã ghi lại phản ứng của nhiều người tù trước tòa.

Trong phiên xử ngày 26-5-1930 tại Phú Thọ, Nguyễn Văn Toại không chờ Tòa lên tiếng đã nói: “Tôi nhận hết!” Tòa hỏi: “Anh có phải đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng không?” Toại đáp: “Tôi chỉ là một người Việt Nam. Tôi thương xót đồng bào tôi bị cực khổ nên tôi tham gia tấn công đồn binh Pháp”.

Nguyễn Văn Toại mới 33 tuổi và là một trong 5 người bị chém đầu tại Phú Thọ ngày 22-11-1930.
Cùng trong phiên xử đó, một người khác dõng dạc nói trước Tòa: “Tôi không có chân trong hội kín hội hở nào hết. Tôi là người Việt Nam, tôi có bổn phận phải đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước tôi để khôi phục nền độc lập cho tổ quốc”.

Ngày 23-6-1931, trước khi bị đưa ra hành quyết tại Hỏa Lò, Lê Hữu Cảnh đã tươi cười nói với linh mục Dromet: “Chết vì tổ quốc, lên Thiên Đường nhanh lắm”.
Nhượng Tống ghi lại hình ảnh cuối cùng của Lê Hữu Cảnh: “Người ta trông thấy anh hớn hở khi hô xong câu “Việt Nam vạn tuế!” rồi đâm đầu vào máy chém” (9)

Cuộc sống tủi nhục đọa đày dưới ách thống trị tàn khốc đã khiến toàn cõi Việt Nam là một lò lửa hận thù ngùn ngụt đối với thực dân Pháp đúng như L. Bonnafont đã viết trong Trente ans de Tonkin: “Hòn Gay không đem lại gì cho chúng ta, ngoại trừ mối căm thù của hàng ngàn cu-li” (10).
Nguyện vọng giành độc lập cho tổ quốc là nguyện vọng chung của hết thẩy mọi người vì đó là lối thoát duy nhất cho cảnh sống đói rét dưới roi vọt. Đó cũng là lý do khiến Đảng Cộng Sản thấy cần vận dụng chiêu bài giải phóng dân tộc và tạm thời che kín chủ trương đấu tranh giai cấp.

Ngay Đào Duy Anh khi mới tham gia đấu tranh trong đảng Tân Việt cũng phát biểu: “Không thể căn cứ vào một giai cấp nào để lấy đảng viên được, tầng lớp thợ thuyền còn quá ít ỏi và chưa có đường lối rõ rệt, trong khi tầng lớp nông dân cũng chưa thuần nhất và ít giác ngộ về đường lối” (11)

Trên thực tế từ ngày 18-11-1930 Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương đã gửi chỉ thị tới các cấp ủy Đảng “khẳng định lại đường lối chiến lược và sách lược của Đảng trình bày trong Luận Cương, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của công tác xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất mà trong giai đoạn lịch sử này việc tổ chức Hội Phản Đế Đồng Minh là chủ trương đúng đắn và cấp thiết”. (12)

Như thế, 11 năm trước khi Mặt Trận Việt Minh ra đời, công tác xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất đã được minh thị là một công tác mang tầm chiến lược và sách lược của Đệ Tam Quốc Tế tức không phải sáng kiến của một cá nhân nào, kể cả Hồ Chí Minh.

Năm 1930, theo thẩm định tình hình, Đảng cần chiêu bài Phản Đế nên Mặt Trận Phản Đế Đồng Minh xuất hiện.
6 năm sau, sự thắng thế của Mặt Trận Bình Dân trên chính trường Pháp khiến chiêu bài Dân Chủ thích hợp hơn nên Phản Đế Đồng Minh được thay thế bằng Mặt Trận Dân Chủ. Rồi tình hình lại xoay chuyển khiến xuất hiện Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc Phản Đế Đông Dương ngày 18-11-1939.
Sau đó, chiêu bài Phản Đế tỏ ra không cuốn hút bằng chiêu bài Độc Lập nên Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh ra đời.

Ưu điểm của sách lược vận dụng mặt trận không chỉ là tính hấp dẫn của những chiêu bài đối với quần chúng mà nằm ngay trong thái độ khác biệt về ý thức giữa những người đấu tranh không cộng sản và thuộc hàng ngũ cộng sản.
Người Cộng Sản được rèn giũa, nhắc nhở thường xuyên về bạn và thù, không lúc nào quên vấn đề chủ yếu trong liên minh là phải nắm vững thế chỉ đạo bằng mọi giá, kể cả vu cáo triệt hạ, ám toán tiêu diệt những kẻ gây trở ngại.

Trong khi đó, người không cộng sản bước vào mọi cuộc liên minh với sự tin cậy thiện chí hợp tác của bất kỳ ai, sẵn sàng chấp nhận bất kỳ vai trò nào miễn là có người cùng chia xẻ nhiệm vụ đấu tranh.

Cho nên, người Cộng Sản gần như không gặp khó khăn trong sự thực hiện các mưu đồ mà Douglas Pike đã mô tả là bao lấy tổ chức đối lập đưa vào một cộng đồng rộng lớn hơn làm lu mờ căn cước riêng của nó và chặt mất đầu, không còn lãnh tụ nên phải tan rã...

Với những người sôi sục nhiệt tâm chống thực dân để giành độc lập nhưng chưa từng tham gia tổ chức đấu tranh nào, mức thuận lợi càng lớn hơn cho Cộng Sản, nhất là sự hoàn toàn mờ mịt về chủ thuyết Cộng Sản.

Cho tới thập niên 1970, đại đa số dân chúng Việt Nam vẫn nghĩ về Cộng Sản như một tập thể chủ trương bạo động để bênh vực người nghèo khó, chống lại cường quyền áp chế và những kẻ giàu sang độc ác.

Khi đã vượt qua tâm trạng e dè với phương pháp bạo động, không mấy ai còn băn khoăn tìm hiểu tổ chức mình sẽ tham gia là Cộng Sản hay không Cộng Sản. Ngay trong giới trí thức, thậm chí giữa những người đang hoạt động đảng phái, vẫn có luận điệu “Danh xưng tổ chức là gì không quan trọng, chỉ cần chung sức đánh Tây thôi. Cộng Sản hay không cộng sản cũng là người Việt Nam đang sống trong nô lệ và mong mỏi độc lập như mình.”

Ý kiến về đảng phái của nhà cách mạng lão thành Huỳnh Thúc Kháng được Võ Nguyên Giáp ghi lại chính là bằng chứng cụ thể cho cách suy nghĩ về quốc gia và cộng sản đương thời: “Tới Hà Nội gặp chúng tôi, cụ Huỳnh tỏ ý lo lắng về cái mà cụ gọi là tình hình “đảng tranh” hiện thời. Theo ý cụ thì Việt Minh, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh đều tranh đấu cho dân, các vị lãnh đạo đều là những người yêu nước đã bôn ba hải ngoại, giờ phải đặt quyền lợi quốc gia lên trên, phải đoàn kết lại, không nên xung đột vì chuyện đảng phái”. (13)

Hơn nữa, người trong nước đã có thói quen trông chờ sự tiếp sức từ bên ngoài kể từ khi phong trào Đông Du được Phan Bội Châu phát động. Tin tức đấu tranh từ Trung Hoa, Thái Lan luôn là nguồn hứng khởi và đề tài bàn thảo.

Sau Cách Mạng Tân Hợi 1911 Trung Hoa, chính Phan Bội Châu đã ngả theo xu hướng canh tân, chủ trương dân chủ hóa, hô hào làm cách mạng xã hội để hình thành tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội. Lớp trí thức trẻ trong nước cũng choáng ngợp trước nhiều nguồn ánh sáng tư tưởng Tây Phương và Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học đã tiếp nối Phan Bội Châu không ngừng hô hào làm cách mạng xã hội. Điểm quan trọng là không có sự phân biệt rạch ròi về cách mạng xã hội theo tinh thần Tam Dân Chủ Nghĩa của Cách Mạng Tân Hợi Trung Hoa mà Phan Bội Châu đề xướng với cách mạng xã hội theo tinh thần giai cấp đấu tranh của Đệ Tam Quốc Tế.
Toàn bộ khung cảnh thực tế đấu tranh chính trị tại Việt Nam giữa người cộng sản với người không cộng sản là một thiểu số kín đáo kiên trì theo đuổi mưu đồ thâu tóm trọn quyền lực và một tập thể ngay tình, chân thực luôn sẵn sàng chấp nhận bất kỳ ai tuyên bố đòi đập lập đều là bạn.
Kết quả, sách lược dân tộc thống nhất đã làm tan rã các tổ chức không cộng sản, thu hút thêm người về cho đảng Cộng Sản.

Trên thực tế, qua các cửa ngõ không cộng sản như Tâm Tâm Xã, Phục Việt, Tân Việt, Tổng Hội Sinh Viên... những người trẻ như Vương Thúc Oánh, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Đào Duy Anh... đã bị cuốn hút để trở thành đảng viên nòng cốt của Cộng Sản. Sau một quá trình huấn luyện, nhất là sau khi được chọn lọc gửi đi thụ huấn tại Mạc Tư Khoa, những người trên đều thay đổi ý niệm về đường hướng đấu tranh.

Lúc này, họ đã thuộc về một lực lượng mới với một sứ mạng mới là giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới. Cuộc chiến mà họ bước vào do lòng yêu nước thúc đẩy chỉ còn là một bộ phận nhỏ trong cuộc chiến mà họ vừa giác ngộ. Họ ý thức rõ rệt điều đó và còn được chỉ dẫn kỹ lưỡng để khai thác những cuộc chiến cục bộ như thế nào để hoàn thành sứ mạng mới mà họ đã chọn lựa.

Những người không cộng sản chỉ nhìn thấy Mặt Trận là một hình thức kết hợp mọi người tạo thành lực lượng đấu tranh đánh đuổi kẻ thù thực dân Pháp giành lại nền độc lập dân tộc và những người cùng tham gia Mặt Trận đều là đồng chí.

Khi bước vào Mặt Trận, những phần tử hoặc tổ chức không cộng sản đều tự đồng hóa với Mặt Trận theo tinh thần hòa nhập để chung lo công việc. Mọi nhiệm vụ do Mặt Trận đề ra là nhiệm vụ của mình và mục tiêu Mặt Trận nhắm tới là mục tiêu phụng sự của mình.

Nhưng người Cộng Sản đã được chỉ thị rõ ràng để không quên rằng họ chỉ tạm thời gác lại chủ trương giai cấp đấu tranh và Mặt Trận là một vỏ bọc cần thiết trong giai đoạn. Họ là người thuộc về Đảng, tức cái nhân của Mặt Trận. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là phát triển và củng cố cái nhân chứ không xả thân cho mục tiêu của cái vỏ.

Chính vì thế, họ phải nắm quyền chủ động trong Mặt Trận để giữ vững các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và củng cố Đảng. Mặt Trận chỉ là vỏ bọc nên cũng như chiếc áo. Mỗi trường hợp, mỗi hoàn cảnh cần có những chiếc áo khác nhau nên nắm vững quyền chủ động có nghĩa là tránh bị lệ thuộc chiếc áo để luôn luôn ứng phó kịp thời với mọi tình huống hầu bảo vệ hữu hiệu cho cái nhân.

Cộng Sản không đồng hóa với Mặt Trận mà vận dụng Mặt Trận như một công cụ phục vụ cho mục đích của mình. Tương quan giữa Đảng Cộng Sản với Mặt Trận là tương quan giữa người chỉ huy với kẻ thừa hành.
Thêm nữa, Mặt Trận không đơn thuần là một danh xưng hay một hình thức tổ chức mà chính là một trận tuyến.

Đối với Cộng Sản, những người cùng tham gia Mặt Trận chưa hề là đồng chí mà còn có thể là kẻ thù. Cộng Sản mời gọi những người này tham dự liên minh để lợi dụng, chinh phục hoặc giăng bẫy thanh toán. Liên minh trong quan điểm chiến lược sách lược Cộng Sản là một cuộc chiến dưới hình thức sống chung hòa bình trong lúc kẻ thù bị ru ngủ bởi hình thức đó.

Đấu tranh giai cấp là cuộc chiến liên tục và trường kỳ dưới mọi hình thức để giành mục tiêu thiết lập nền chuyên chính vô sản trên toàn thế giới nên không thể ngưng diễn tiến một ngày một giờ nào và ở bất kỳ nơi đâu. Mặt Trận là trận tuyến trên đó cuộc chiến liên tục diễn ra với những kẻ thù tuy đang là đồng minh nhưng không theo cộng sản.

Ý nghĩa chứa đựng trong danh từ Mặt Trận đối với Cộng Sản là ý nghĩa này chứ không phải ý nghĩa theo cách hiểu của người không cộng sản vẫn được trưng dẫn để thuyết phục các đối tượng quần chúng.

Hơn 40 năm trước đây, trong cuốn Sách Lược Xâm Lăng của Cộng Sản, chúng tôi đã có dịp phân tích 4 loại sách lược thường được Cộng Sản dùng để thôn tính các nước là mặt trận, liên hiệp, trung lập, hòa bình.
Hòa bình là một vũ khí, một chiến lược, một mặt trận đánh vào đối phương, để chia rẽ, phân hóa, làm cho đối phương mất hết ý chí chiến đấu, trong khi Cộng Sản tiếp tục tấn công.

Tác động của các phong trào phản chiến tại miền Nam Việt Nam và tại Mỹ trước đây là minh chứng cụ thể về sự vận dụng vũ khí hòa bình.
Tưởng cũng nên nhắc lại, ngay trong lúc nêu chủ trương sống chung hòa bình, lãnh tụ Liên Xô Nikita Khrutshchev vẫn tuyên bố “muốn sống đến ngày được thấy ngọn cờ đỏ bay phất phới khắp năm châu”.

Cũng chính Khrutshchev đã ra lệnh đàn áp phong trào đấu tranh tách khỏi vòng kiềm chế Liên Xô của nhân dân Ba Lan (vụ Poznan) và nhân dân Hung Gia Lợi (vụ Budapest). Lãnh tụ Cộng Sản Trung Cộng Chu Ân Lai nêu năm nguyên tắc sống chung hòa bình tại hội nghị Bangdoon 1955 không ngoài mục đích ru ngủ và bó tay các quốc gia Ai Cập, Nam Dương, Ấn Độ ... đồng thời phân hóa đối thủ, giảm thiểu lực lượng chống Cộng trên thế giới trong khi phe Cộng Sản không lơi tay súng.

Liên hiệp là mượn danh nghĩa sống chung để xâm nhập, lũng đoạn, xuyên tạc, ám toán nhắm đánh phá, tiêu diệt người bất đồng chính kiến.
Các đoàn thể từng tham gia chính phủ liên hiệp Việt Minh trong năm 1946 sẽ không bao giờ quên nổi bài học đắng cay, thấm thía về liên hiệp. Hồ Chí Minh nhân danh “đoàn kết” lập chính phủ liên hiệp để triệt tiêu lý do chống đối của các phe đối lập đồng thời trình diễn bộ mặt “hòa hợp dân tộc” trước các cường quốc Tây Phương. Nhưng cùng lúc đó, các đoàn thể chấp nhận liên hiệp với Cộng Sản Việt Nam đã lập tức trở thành những miếng mồi ngon vì lâm cảnh ngộ ngồi chung với bầy sói.

Trung lập là cô lập đối phương. Bài học về hiệp ước Genève 1962 trung lập hóa Ai Lao là bài học tiêu biểu về trung lập. Ai Lao trung lập có nghĩa là Ai Lao bị cô lập, và miền Nam Việt Nam bị cô lập theo. Bởi, các nước không được quyền giúp phe quốc gia Ai Lao trong khi Cộng Sản Việt Nam không ngừng hỗ trợ cộng sản Ai Lao tấn công phe quốc gia.

Cộng Sản còn dùng Ai Lao làm bàn đạp xâm nhập đánh phá miền Nam Việt Nam. Đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua lãnh thổ Ai Lao “trung lập” trở thành con đường bất khả xâm phạm của Cộng Sản. Các nước ký kết bắt buộc phải tôn trọng chữ ký của mình trong khi Cộng Sản coi mọi phương tiện đều tốt. Nói dối, vi phạm hiệp ước... là điều cần làm vì lợi ích của đấu tranh giai cấp — cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Mặt trận nhằm tập họp vào hàng ngũ do Cộng Sản lãnh đạo những thành phần yêu nước đang đấu tranh giành độc lập dân tộc để lợi dụng, khai thác cho mục tiêu tận diệt mọi giai cấp chống lại giai cấp vô sản mà đảng Cộng Sản tự ban cho mình vai trò đại diện với tư cách đội tiền phong.

Với quan niệm chiến tranh thường trực trong giai cấp đấu tranh và chiến lược toàn cầu của Cộng Sản nhắm đánh đổ tư bản, mặt trận dù xưng danh là Độc Lập Đồng Minh cũng không bao giờ thực sự đấu tranh vì độc lập dân tộc mà chỉ là sách lược giai đoạn vận dụng chiêu bài độc lập dân tộc để giành quyền chuyên chính vô sản.

Danh nghĩa mặt trận sẽ giúp Cộng Sản thu hút đông đảo quần chúng vào vòng chi phối đồng thời có thể buộc hết thẩy khép mình dưới kỷ luật sắt như binh sĩ trong một trại quân.

Ý đồ vận dụng Mặt Trận Việt Minh để tập họp mọi thành phần quần chúng, biến thành lực lượng đấu tranh lâu dài cho mục tiêu chuyên chính vô sản còn biểu hiện qua các nghị quyết và chỉ thị đưa ra trong Hội Nghị kỳ 8 Trung Ương Đảng. Các chỉ thị này đã nêu rõ nhiệm vụ của Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc là tổ chức và phụ trách Đội Thiếu Niên Tiền Phong và Hội Nhi Đồng Cứu Vong để tập họp thế hệ nhỏ vào mục đích dự bị cho cuộc đấu tranh. Chỉ thị này còn được biến thành một điều khoản trong điều lệ của Hội Nhi Đồng Cứu Vong (14).

Tóm lại, nhìn từ khía cạnh chiến lược sách lược Lênin và qua các Nghị Quyết của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù Mặt Trận Việt Minh quy tụ rộng rãi các thành phần dân chúng và có mặt nhiều phần tử yêu nước vẫn không thể xác định là một lực lượng đấu tranh yêu nước hình thành do yêu cầu giành độc lập của dân tộc Việt Nam.

Do ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, Douglas Pike coi sách lược mặt trận dân tộc là biểu hiện một thiên tài về tổ chức đấu tranh. Chỉ giới hạn trong phạm vi hành động thì lời khen của Douglas có thể có cơ sở, ngoài ra, sẽ là một lời ca tụng mù quáng.

Vì sách lược này không phải phát kiến của Hồ Chí Minh mà được đề ra bởi Lênin. Hồ Chí Minh chỉ là người thi hành chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế và tính chất này đã là nền tảng để Duncanson đánh giá “phong trào cộng sản ở Việt Nam khác với các phong trào chính trị về một phương diện quan trọng: nó là một phong trào khuynh đảo phát động từ bên ngoài do chính phủ Liên Xô dùng làm khí cụ quấy phá Pháp.”

Do đó, Duncanson cho rằng đảng Cộng Sản Đông Dương không bao giờ là một lực lượng đấu tranh yêu nước mà trái lại, còn gần như một lực lượng chống-lại-những-người-yêu-nước-chống-thực-dân - almost anti-anti-colonial.

Mặt Trận Việt Minh do Đảng Cộng Sản Đông Dương thành lập và nắm quyền chỉ đạo nên kết luận của Duncanson cũng là lời bác bỏ sự xác định lý tưởng dân tộc của Hồ Chí Minh dựa trên chủ trương được quảng bá của Mặt Trận này.

Đặt vấn đề vào thực tế, chỉ có thể coi Mặt Trận Việt Minh là phát kiến của Hồ Chí Minh trong giới hạn ý đồ vận dụng danh xưng Việt Minh.

Vì từ 1935, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội với tên gọi tắt Việt Minh đã được Hồ Học Lãm thành lập tại Nam Kinh. Trong hồi ký Giọt Nước Trong Biển Cả, Hoàng Văn Hoan ghi rõ nhiều chi tiết về tổ chức này của những người quốc gia yêu nước tại Hoa Nam.

Theo Hoàng Văn Hoan, chính Hồ Chí Minh cùng nhiều đồng chí trong số có Hoàng Văn Hoan đã tham gia Việt Minh để hoạt động. Hoàng Văn Hoan viết: “Vấn đề đầu tiên là vấn đề lấy danh nghĩa gì để hoạt động? Bác chủ trương lấy danh nghĩa Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, và mời ông Hồ Học Lãm đứng ra chủ trì để chúng ta dựa vào đó mà hoạt động. Chủ trương đó phát xuất từ chỗ Việt Minh là một tổ chức mà trước kia đã cùng với ông Hồ Học Lãm lập ra và đăng ký ở Nam Kinh; xuất phát từ chỗ ông Hồ Học Lãm không phải là Cộng Sản mà lại thực lòng ủng hộ chúng ta...” (15)

Trong Danh nhân Hồ Chí Minh (16), Trần Đình Huỳnh cũng cho biết từ tháng 9-1940, Hồ Chí Minh bắt liên lạc với Hồ Học Lãm và được Hồ Học Lãm cho biết thời cơ về nước đã tới. Vì thế, ngày 6-1-1941, Hồ Chí Minh mới cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp là những người có mặt trong Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội chuẩn bị về nước bằng việc tổ chức tại làng Nậm Quang thuộc Quảng Tây, Trung Quốc, một khóa huấn luyện chính trị cho 43 cán bộ, dẫn giải về việc thành lập mặt trận dân tộc rộng rãi ở trong nước.

Tháng 2-1941, Hồ Chí Minh về Pac Bó thuộc tỉnh Cao Bằng và công việc đầu tiên là giao cho Vũ Anh, Hoàng Văn Thụ tiến hành tổ chức thí điểm Mặt Trận Việt Minh tại Cao Bằng.

Như vậy tới tháng 2-1941, trên danh nghĩa, Hồ Chí Minh vẫn thuộc tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Hồ Học Lãm với tên gọi tắt là Việt Minh.

Ngày 19-5-1941, Hồ Chí Minh chỉ có phát kiến tách khỏi tổ chức trên bằng cách thay chữ Hội bằng 2 chữ Mặt Trận và vẫn giữ cái tên tắt Việt Minh quen thuộc trong hoạt động.

Lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh để không còn chịu sự chi phối của Hồ Học Lãm, dù chỉ là sự chi phối không đáng kể về ý kiến do cung cách hoạt động lỏng lẻo sẵn có của tổ chức này. Tuy thế, vẫn giữ tên Việt Minh để tiếp tục khai thác mọi thành quả mà tổ chức này dành được từ trước, nhất là để vận động các thế lực quốc tế như Quốc Dân Đảng Trung Hoa và các quốc gia Đồng Minh kháng Nhật do mối tương quan mà Hồ Học Lãm đã có.

Với tên Việt Minh, đảng Cộng Sản đã có chiếc áo quốc gia yêu nước từng được quần chúng và ngay cả các giới chức Trung Hoa biết tới từ năm 1935.
Ưu điểm này không những giúp Cộng Sản dễ dàng lôi cuốn nhiều phần tử nhiệt huyết trong nước chẳng hạn như lớp trí thức trẻ Dương Đức Hiền, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm... mà còn thuyết phục cả tư lệnh Đệ Tứ Chiến Khu Trung Hoa Dân Quốc là Trương Phát Khuê cùng các sĩ quan Mỹ hoạt động tại Hoa Nam.

Tưởng Vĩnh Kính trong Hồ Chí Minh tại Trung Quốc đã viết: “...Tại sao ông Hồ và trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam muốn lợi dụng lá cờ Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (chỉ bỏ chữ “hội” mà thôi) ? Cách thức đó chính là lặp lại một cách khéo léo điều mà người Cộng Sản gọi là “chiếm lĩnh cơ quan, làm phe tả của họ” . Ý đồ của họ, xét ra không ngoài việc lợi dụng danh nghĩa Độc Lập Đồng Minh Hội... nhằm chiêu dụ tổ chức quần chúng của hội này... Căn cứ vào các tư liệu tại Quảng Tây thời đó, “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh được thành lập tháng 7 năm 1935, là sự hợp thành của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Độc Lập Đảng, Tân Việt Đảng... Các tổ chức quần chúng của nó cũng được ông Hồ đổi thành các hội “Cứu Quốc”... Ý đồ lớn nhất của ông Hồ khi lợi dụng cơ cấu Việt Minh là che giấu cái bộ mặt cộng sản, lợi dụng tình thế cùng tâm lý quần chúng Việt Nam, ngụy trang bằng chủ nghĩa dân tộc, nhằm phát triển thực lực của bản thân.”

Chủ ý lợi dụng danh nghĩa Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội không còn là nghi vấn vì chính Hoàng Văn Hoan đã ghi rõ.

Nhưng trong thời điểm 1940-1945, Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng riêng danh nghĩa Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Cũng theo Hoàng Văn Hoan, vào năm 1943, khi có cơ hội gặp gỡ và nhận đứng ra tổ chức mạng lưới tình báo tại Việt Nam cho Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh đã yêu cầu Trương Phát Khuê can thiệp với Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần để “có một ủy nhiệm thư của Trung Ương Việt Cách phái Hồ chủ tịch về nước công tác”. Trương Phát Khuê chấp thuận nên Hồ Chí Minh đã “đến Côn Minh với danh nghĩa là ủy viên Trung ương của hội Việt Cách, có trách nhiệm xem xét tình hình phân hội Việt Cách ở Vân Nam....” (17)

Theo sử gia Trần Trọng Kim trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi, khoảng 1942, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã ra lệnh giải tán Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Hồ Học Lãm vì thấy trong đó có nhiều người hành động theo chủ nghĩa Cộng Sản. Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc lúc đó cũng muốn người Việt Nam lưu vong họp thành một lực lượng duy nhất.

Ngày 1-10-1942 tại Liễu Châu, Hoàng Lương vốn thuộc lực lượng võ trang Phục Quốc Quân của Trần Trung Lập triệu tập một hội nghị thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Cách bao gồm các tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội vừa có lệnh giải tán, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội cùng một số người không đảng phái. Hội nghị lập ra một Ủy Ban Trừ Bị gồm Nguyễn Hải Thần, Hoàng Lương, Hồ Học Lãm, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trương Bội Công, Trương Trung Phụng, Trần Báo.

Ủy Ban Trừ Bị Việt Cách đã đề nghị Trương Phát Khuê trả tự do cho Hồ Chí Minh bị bắt ngày 29-2-1942, khi từ Pac Bó trở qua Quảng Tây. Hồ Chí Minh được trả tự do ngày 13-9-1943 tại Liễu Châu, tuyên thệ hết lòng trung thành với Việt Cách đồng thời trở thành một nhân viên tình báo của tướng Trương Phát Khuê.

Lúc này Ủy Ban Trừ Bị Việt Cách đã đổi thành Ủy Ban Chấp Hành với thành phần chính thức gồm Trương Bội Công, Trần Đình Xuyên, Nguyễn Hải Thần thuộc chủ tọa đoàn và các ủy viên Vũ Hồng Khanh, Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng, Nông Kính Du và Trần Báo.

Vì Hoàng Lương có chuyện bất đồng với các giới chức Trung Hoa nên bị bắt đưa về Trùng Khánh và Trương Phát Khuê đề nghị Việt Cách nhận thêm Hồ Chí Minh vào nhóm ủy viên. Suốt thời gian hoạt động tại Hoa Nam sau đó, Hồ Chí Minh luôn nhận là đại biểu của Việt Minh tức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội trong tổ chức Việt Cách.

Trần Trọng Kim viết: “Khoảng tháng 9-1944, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội dời về Quảng Tây và cho Hồ Chí Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó Hội cho Hồ Chí Minh cùng 22 đảng viên phần nhiều là người trong đảng Phục Quốc về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên Đỗ Thị Lạc là người về sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Người ta nói khi về đến địa hạt Bắc Giang, có ba đảng viên trong 22 người ấy bị giết vì không chịu theo cộng sản”. (18.)
Cho tới tháng 6-1945, Hồ Chí Minh vừa nhân danh Việt Minh, Việt Cách vừa sử dụng giấy tờ chứng nhận của tướng Trương Phát Khuê trong mọi hoạt động để tuyên truyền lôi cuốn những phần tử còn e dè với Cộng Sản và bắt liên lạc với các toán hoạt động đặc biệt của Mỹ tại Hoa Nam.

Nhưng Hồ Chí Minh không đem lại thành quả tốt đẹp nào cho các tổ chức kia cũng như cho tướng Trương Phát Khuê trong khi Mặt Trận Việt Minh tiếp tục phát triển theo hướng gia tăng uy thế của Cộng Sản Việt Nam.
Những lời nói của Hồ Chí Minh trong thời gian này với người ngoài và với đồng chí phản ảnh rất cụ thể nhận định của Tưởng Vĩnh Kính về hướng nhắm chủ yếu của Hồ Chí Minh — Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề “bản thân Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không...”

Suốt thời gian này với người ngoài, Hồ Chí Minh luôn che giấu nguồn gốc Cộng Sản, trong khi với nội bộ, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải củng cố và phát triển đảng.

Trong một đoạn nhật ký ghi lại những câu chuyện với Hồ Chí Minh vào khoảng tháng 2-1945, Charles Fenn, trung úy OSS Mỹ ghi: “Tôi đã nghe phong phanh người này là Cộng Sản và tôi hỏi về điều đó. Hồ nói rằng người Pháp gọi tất cả những người Việt Nam mong muốn độc lập đều là Cộng Sản... Giọng nói của ông rõ ràng, dứt khoát, gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ”.

Ngày 17-7-1945, Hồ Chí Minh nói với Thomas, thiếu tá Mỹ chỉ huy toán Deer vừa nhảy dù xuống Tân Trào: Mặt Trận Việt Minh là tập hợp các đảng phái chính trị được tổ chức với mục đích duy nhất là đấu tranh cho tự do và độc lập”.

Với người như Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh không thể chối quanh nhưng cũng có cách nói: “Tôi là một người Cộng Sản, nhưng điều tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do cho nước Việt Nam. Tôi có một lời bảo đảm đặc biệt với ông rằng chủ nghĩa Cộng Sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”.

Trương Phát Khuê nghe Hồ Chí Minh nói những lời này ngày 9-8-1944 và đã thâu nhận Hồ Chí Minh làm một nhân viên tình báo.

Trong thời gian đó, tháng 12-1944, khi gặp Võ Nguyên Giáp để quyết định thành lập đơn vị vũ trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã thêm hai chữ “tuyên truyền” vào tên đơn vị này và dặn Võ Nguyên Giáp: “Nhớ bí mật: Ta ở Đông, địch tưởng ta ở Tây”. Lời dặn này không chỉ nhắm về mưu lược quân sự, bởi dưới quyền Võ Nguyên Giáp lúc đó chỉ là một trung đội nhỏ nhoi. Võ Nguyên Giáp từng biết rõ Hồ Chí Minh chỉ có 3 ngày vui lớn. “Đó là ngày Bác tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khi đọc Luận Cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đó là ngày thành lập Đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 mà Bác là một thành viên. Và ngày lịch sử mồng 3 tháng Hai năm 1930, ngày thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương”. (19)

Cho nên nghe lời dặn của Hồ Chí Minh, nhất là khi Hồ Chí Minh thêm hai chữ “tuyên truyền” vào tên gọi của đội vũ trang đầu tiên, Võ Nguyên Giáp đã nhớ ngay tới con đường phải đi và công việc phải làm của mình.
Đó là công việc kín đáo tuyên truyền cho con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn. “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, giả thật khó phân, Bác đã nhanh chóng nhìn thấy ánh sáng của chân lý. Bác đã đến với chủ nghĩa Lênin. Bác đã thấy học thuyết Lênin chính là mặt trời đưa lại nguồn tươi vui. Bác đã thấy ngọn cờ Lênin là tượng trưng cho lòng tin và đuốc sáng của hy vọng”. (20)

Tháng 7-1945, Hồ Chí Minh lại nhắc Võ Nguyên Giáp: “Lúc nào cũng phải chú ý xây dựng chi bộ, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và các phần tử trung kiên”.

Võ Nguyên Giáp ghi lại không khí sôi sục nhiệt tình hưởng ứng của dân chúng đối với mọi lời hô hào đấu tranh yêu nước. “Phong trào tìm kiếm, chế tạo, mua sắm vũ khí rất sôi nổi. Những lò rèn ở nông thôn trở thành nơi sản xuất giáo mác, mã tấu cho các đội tự vệ, dân quân. Các em nhỏ đua nhau đi lượm nhặt sắt thép vụn. Người lớn đem tới góp những đồ dùng hàng ngày trong nhà như mâm thau, nồi đồng... cả những đồ thờ cúng như lư hương, đỉnh đồng để đúc thành vũ khí... Với thanh mã tấu, ngọn giáo dài trong tay, tinh thần khí phách thượng võ của dân tộc đã trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong anh tự vệ đứng bên trống canh tại trạm gác đầu làng. Các tổ chức tự vệ, du kích phát triển rất nhanh... Hầu hết các thôn xã, đường phố, nhà máy đều có lực lượng tự vệ”. (21)

Năng lực và nhiệt tình đó không hề được vận dụng vào mục tiêu phụng sự dân tộc mà được tính toán để trở thành công cụ riêng của Đảng Cộng Sản Đông Dương.

Võ Nguyên Giáp cho biết: “Lực lượng tư vệ được sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng... nhưng hoàn toàn tự cấp và tự túc về sinh hoạt và trang bị, vũ khí... Đó là một công cụ chuyên chính đắc lực của chính quyền cách mạng để bảo vệ các cơ quan Đảng, Nhà Nước, Mặt Trận... giữ gìn trật tự, trị an, trấn áp bọn phản động... Đi đôi với công tác bảo vệ chính quyền cách mạng, trấn áp bọn phản động, các chiến sĩ tự vệ chiến đấu còn làm công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Mặt Trận, Nhà Nước...”


Khi các lực lượng tự vệ được biến thành Vệ Quốc Đoàn, “tất cả các đơn vị Vệ Quốc Đoàn đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua tổ chức của Đảng trong quân đội, thông qua các chi bộ và những cán bộ là đảng viên giữ những vai trò quan trọng”. (22)

Nhiệm vụ quan trọng của các lực lượng vũ trang đầu tiên hình thành do mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng chiêu bài giành độc lập đã được Võ Nguyên Giáp nêu rõ là trấn áp phản động tức là trấn áp những người yêu nước không chấp nhận Cộng Sản đang nấp dưới danh nghĩa Việt Minh.

Rõ ràng hơn là lời xác nhận của Hồ Chí Minh trong báo cáo chính trị trước Đại Hội Đảng về thành tích của Mặt Trận Việt Minh: “Từ năm 1941,... một số có tinh thần dân tộc đã tham gia những hoạt động tiến bộ của các tổ chức như Tổng Hội Sinh Viên, Hướng Đạo, Phong Trào Truyền Bá Quốc Ngữ hoặc các nhóm tiến bộ tập hợp quanh một số tờ báo tiến bộ như Tri Tân, Thanh Nghị, Thanh Niên... tổ chức một số hình thức sinh hoạt tập thể để qua đó giác ngộ lòng yêu nước... Tuy nhiên, những nhóm này vẫn chưa hình thành tổ chức và chưa tìm thấy hướng đi chính trị của mình. Thực hiện chủ trương mở rộng khối đoàn kết dân tộc của mình, Đảng Cộng Sản Đông Dương đã giúp những anh em trí thức tiến bộ thành lập Đảng Dân Chủ Việt Nam làm mau tan rã hàng ngũ bọn Đại Việt ...” (23)

Mấy tiếng “bọn Đại Việt” trong bản báo cáo của Hồ Chí Minh ám chỉ các đảng Đại Việt Duy Dân, Đại Việt Dân Chính, Đại Việt Quốc Xã, Đại Việt Quốc Dân Đảng... trong tổ chức Đại Việt Quốc Gia Liên Minh phản ảnh rõ thái độ thù địch đối với những người khác chính kiến và Mặt Trận Việt Minh luôn chú trọng đánh phá các tổ chức quốc gia để phát triển Đảng Cộng Sản hơn là chung sức xây dựng một lực lượng dân tộc.

Với Mặt Trận Việt Minh, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đã cướp được chính quyền vào tháng 8-1945 và động viên toàn dân hưởng ứng cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ sau đó. Những thành quả này được nhiều người coi như thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập.

Trên thực tế, nền độc lập Việt Nam vẫn tiếp tục là chiếc bánh vẽ do tính chất lệ thuộc của Đảng Cộng Sản Đông Dương đối với Đệ Tam Quốc Tế. Thành công lớn nhất mà Mặt Trận Việt Minh mang lại chỉ là sự phát triển và củng cố quyền lực của Đảng Cộng Sản bằng cái giá mà dân tộc phải trả là xương máu của hàng triệu con dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sự tan rã của nhiều hội đoàn yêu nước do bị vu cáo, trấn áp, ám toán với kết quả hàng trăm ngàn chiến sĩ quốc gia bị sát hại man rợ đồng thời dân tộc bị phân rẽ thành những tập đoàn thù địch đẩy lui đất nước vào tình trạng thoái hóa, nghèo đói...

Bernard Fall so sánh việc Hồ Chí Minh nhân danh Mặt Trận Việt Minh lập ra Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng để cướp chính quyền tại Việt Nam với việc Ủy Ban Quốc Gia Ba Lan do Mạc Tư Khoa điều khiển để cướp chính quyền tại Ba Lan năm 1944 và nhận định là có sự trùng hợp kỳ lạ tới mức gần như giống nhau về mọi chi tiết. (24)

Thực ra, sự trùng hợp này hoàn toàn không kỳ lạ vì cả Ba Lan lẫn Việt Nam đều chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế và tình hình diễn tiến ở hai quốc gia lúc đó không hề khác biệt nếu được đặt vào bối cảnh chung của cuộc chiến ý thức hệ.

Sứ mạng lịch sử của Mặt Trận Việt Minh là đưa Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản tới vị thế nắm độc quyền lãnh đạo tại Việt Nam và tạo được một lực lượng trấn áp để thiết lập chế độ cai trị theo đúng kiểu mẫu Liên Xô, bất chấp nguyện vọng của mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam.

Nhìn chung, từ nguyên tắc chiến lược Cộng Sản tới hành động thực tiễn của Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam, Mặt Trận Việt Minh không tượng trưng cho một ý nghĩa nào khác tính chất công cụ của Đệ Tam Quốc Tế trong việc mở rộng ảnh hưởng tại Đông Dương. Qua Mặt Trận Việt Minh, Hồ Chí Minh là một cán bộ Cộng Sản xuất sắc nhưng không bao giờ có thể biến hình thành một người yêu nước.

Mặt Trận Việt Minh chính là cái bẫy khổng lồ tinh xảo do Cộng Sản dựng lên để qua đó cả dân tộc rơi vào vòng chi phối khai thác của Cộng Sản cho mục tiêu tranh thủ quyền chuyên chính vô sản. Đây cũng là trường hợp ra đời sau này của nhiều mặt trận khác trong số có Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.
Minh Võ


CHÚ THÍCH
(01) Theo Jean Lacouture thì nó ra đời trong một túp lều lá, với một cái bàn duy nhất. Hiện diện chỉ có mấy người thân tín của ông Hồ từ khi còn ở Hoa Nam như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh và Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh.
(02) Danh nhân Hồ Chí Minh - Trần Đình Huỳnh, Nxb Văn Học, Hà Nội 2001, tr. 68-69
(03) Việt Nam những sự kiện lịch sử - Dương Trung Quốc, Nxb Giáo Dục, Hà Nội 2001, tr. 330
(04) Douglas Pike - Xin xem chương 22
(05)-(06)-(07) Indochine S.O.S - Andrée Viollis, Gallimard, Paris 1955, tr.112 ... 148
(08.) Vietnam, la tragédie Indochinoise - Louis Roubaud, Paris 1931, tr. 126
(09) Hoa cành Nam - Nhượng Tống, Khai Trí, Sài Gòn 1973, tr.180
(10) Trente ans de Tonkin - L. Bonnafant, Paris 1924, tr. 214
(11) Lịch trình diễn tiến phong trào quốc gia Việt Nam - Nghiêm Xuân Hồng, Ngày Về, Cali.1973 tr.43-44
(12)-(14) Việt Nam những sự kiện lịch sử, tr.196 ... 330-331. Hội Nhi Đồng Cứu Vong được đổi thành Hội Nhi Đồng Cứu Quốc vào tháng 8-1945, Hội Thiếu Nhi Tháng Tám vào tháng 3-1951, Đội Thiếu Niên Tiền Phong vào tháng 1-1956, phát triển thêm Đội Nhi Đồng Tháng Tám vào tháng 3-1960 và từ 1970 tới nay biến thành Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh và Đội Nhi Đồng Hồ Chí Minh.
(13)-(19)-(20)-(21)-(22) Những năm tháng không thể nào quên - Võ Nguyên Giáp, Nxb QĐND, Hà Nội 2001, tr. 137, 9, 13, 77-78 ... 80.
(15)-(17) Giọt nước trong biển cả - Hoàng Văn Hoan. Xin xem chương 35.
(16) Danh nhân Hồ Chí Minh - Trần Đình Huỳnh, Nxb Văn Học, Hà Nội 2001, tr. 65-67
(18.) Theo Trần Đình Huỳnh trong Danh Nhân Hồ Chí Minh thì ngày 9-8-1944, Hồ Chí Minh được tướng Trương Phát Khuê trả tự do và cho phép về nước cùng với 18 thanh niên do Hồ Chí Minh chọn lựa. Đối chiếu con số này với con số do Trần Trọng Kim ghi thì có thể các tài liệu của Đảng đã cố tình bỏ quên Đỗ Thị Lạc và 3 người bị giết.
(23) Việt nam những sự kiện lịch sử - Dương Trung Quốc, tr.377
(24) Theo Bernard Fall, trong số 14 ủy viên của mặt trận, 11 người đã là đảng viên ĐDCSĐ.

No144: Từ khủng hoảng Thái Lan, nghĩ về dân chủ

Những bất ổn tại Thái Lan hiện nay lại khiến lập luận tuyên truyền “đa nguyên đa đảng làm chi để loạn lạc” được xướng lên.

Bài viết này nhằm mục đích phản biện lại ý kiến đó.

Nếu có thống kê những xung đột xã hội ở các nước độc tài và dân chủ, chắc chắn tỷ lệ xung đột ở các nước độc đảng lớn hơn nhiều so với các nước dân chủ.

Cơ chế giải quyết mâu thuẫn

Kết quả các cuộc xung đột đó ở các nước độc tài bao giờ cũng đẫm máu. Các xung đột ở một số nước dân chủ non trẻ ở châu Phi, Nam Tư cũ hay Trung Đông phần lớn bắt nguồn từ chia rẽ tôn giáo, sắc tộc, chứ không phải vì dân chủ.

Nếu có một phần nào đó có thể quy kết dân chủ trong các xung đột ấy, thì đó là thể chế nhà nước và hệ thống bầu cử đã không được thiết kế phù hợp, góp phần hằn sâu thêm các chia rẽ sắc tộc.

Tuy nhiên, vấn đề này có thể được giải quyết nếu quá trình xây dựng nhà nước dân chủ được nghiên cứu thỏa đáng ngay từ đầu và được sự đồng thuận rộng rãi của nhân dân. Xã hội Việt Nam cũng không giống các nước đó.

Lịch sử đã chứng minh truyền thống “Tam giáo đồng nguyên”, Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo cùng tồn tại và có ảnh hưởng lớn trong xã hội. Một số mâu thuẫn liên quan đến sắc tộc hay tôn giáo không phải bắt nguồn từ sự kỳ thị lẫn nhau giữa các dân tộc hay các tôn giáo, mà chính là từ chính sách kiểm soát và phân biệt của chính quyền, khiến họ phản kháng.

Tuy vậy, dân chủ, đa nguyên, đa đảng, không phải là liều thuốc thần có thể điều trị mọi vấn nạn trong xã hội.



Chúng chỉ là điều kiện cần để một xã hội phát triển lành mạnh. Công nhận đa nguyên đã để xã hội phát triển một cách tự nhiên, những cái tốt của con người có điều kiện phát triển và phát huy.

Cần dân chủ và luật pháp công minh là để ngăn chặn những tính xấu của con người và cổ vũ sự bao dung, tinh thần tôn trọng sự khác biệt.

Điều kiện đủ chính là yếu tố con người, là tài trí, sự liêm khiết của những người lãnh đạo, là sự dấn thân của các trí thức, là ý thức về trách nhiệm với việc nước và sức nặng của lá phiếu của mỗi người dân bình thường.

Dân chủ mở ra cơ hội, còn cơ hội đó có được tận dụng một cách khôn ngoan và có trách nhiệm hay không là phụ thuộc vào chính những con người trong xã hội đó.

Dân chủ là cơ chế chính trị cho phép giải quyết các xung đột chính trị một cách hòa bình bằng đối thoại và lá phiếu.

Sự ổn định xã hội là quan trọng, nhưng quyền của người dân được lên tiếng và hành động (một cách có trách nhiệm) trước các vấn nạn như tham nhũng, lạm quyền cũng quan trọng không kém.

Bài học về nếp sinh hoạt chính trị dân chủ

Bất ổn tại Thái Lan không phải là “tại” dân chủ. Trái lại, chính nền dân chủ đang cho phép Thái Lan giải quyết xung đột một cách ít hậu quả nhất.

Đặt trường hợp Thái Lan không cho phép đa nguyên, tức là không cho phép những ý kiến trái chiều với đảng lãnh đạo, có lẽ một Thủ tướng Thaksin Sinawatra tham nhũng vẫn nắm quyền, tiếp tục vi phạm luật pháp mà tiếng nói phản đối của người dân chẳng “xi-nhê” gì cả.

Đặt trường hợp Thái Lan không có đa đảng, không có bầu cử tự do, tức là không có cạnh tranh chính trị, nếu người dân vì quá bức xúc, tức nước vỡ bờ, biểu tình ôn hòa đòi chính phủ từ chức, có lẽ chính phủ tham nhũng, lạm quyền sẽ đàn áp thẳng tay, vì họ không phải là chính phủ “do dân” nên chẳng cần “vì dân”.

Đằng này, Tòa án Tối cao Thái Lan xử thủ tướng Thaksin hai năm tù vì vi phạm luật về mâu thuẫn lợi ích.



Người ta nhận thấy một cách hành xử “khôn khéo” của cựu Thủ tướng Samak Sundaravej khi ông này thiết lập mối quan hệ với các quân đội, tỏ ra lắng nghe Quốc Vương Bhumibol Adulyadej, và đẩy nhanh phiên tòa xử ông Thaksin.

Chính phủ đương nhiệm cũng phải thận trọng hơn trong cách xử lý mâu thuẫn.

Tướng Anupong Paochinda, về phần ông, kêu gọi chính phủ giải tán Quốc hội và tổ chức bầu cử để nhân dân bày tỏ ý kiến. Việc người chỉ huy quân đội kêu gọi bầu cử thể hiện sự tôn trọng của ông ta với phương cách giải quyết mâu thuẫn ôn hòa và dân chủ này.

Đồng thời, những bất ổn chính trị này là phép thử cho nền dân chủ non trẻ của Thái Lan.

Liệu các phương cách dân chủ có hiệu quả hay lại cần sự can thiệp của quân đội để giải quyết khủng hoảng chính trị? Có hai giá trị và lợi ích cần phải được dung hòa: sự ổn định chính trị và quyền phản đối chính phủ của nhân dân. Giải đáp cho bài toán này phụ thuộc cả vào giới lãnh đạo và phe đối lập.

Chính phe đối lập cũng phải tôn trọng các giá trị dân chủ. Chính họ cũng cần nhìn nhận lại mình, biết giới hạn của vị trí của mình trong chính trường, trong lòng dân, và thực thi tinh thần dân chủ.

Liên minh Nhân dân vì Dân Chủ đã đi quá giới hạn khi phản đối kết quả bầu cử tháng 12 năm ngoái theo đó Đảng sức mạnh Nhân dân thắng cử, mặc dù Ủy ban bầu cử độc lập đã xác minh rằng không có chuyện mua bán phiếu.

Trong cuộc biểu tình tháng 11 vừa rồi, họ cũng từ chối mọi đối thoại và có những động thái gây ảnh hưởng đến nền kinh tế như phong tỏa sân bay, thậm chí tuyên bố “quyết tử”.

Phe đối lập, nếu hành xử một cách dân chủ cần tỏ ra có trách nhiệm, lấy quyền lợi đất nước và nguyện vọng của đa số người dân làm hàng đầu, và biết dừng lại đúng lúc.

Hãy đưa ra ý kiến xây dựng tích cực

Nhìn vào những gì xảy ra trong khu vực hay thế giới để phản đối dân chủ ở Việt Nam là điều không cần thiết.

Không cần thiết bởi vì hai chữ “dân chủ” hiện nay đã có sự đồng thuận của xã hội. Đọc báo chí trong nước, hai chữ dân chủ xuất hiện thường xuyên.

Điều đáng thảo luận là phải bắt đầu xây dựng một thể chế dân chủ cho phù hợp với lịch sử, đặc thù chính trị, xã hội, văn hoá và nhu cầu của Việt Nam hiện nay; và cùng nhau thực thi dân chủ chứ không phải chỉ hô hào khẩu hiệu.

Nhìn vào kinh nghiệm, đôi khi đau thương, của các nền dân chủ non trẻ đi trước, là để rút ra kinh nghiệm để không đi vào vết xe đổ ấy, chứ không phải để lấy đó làm cái cớ để tiếp tục duy trì các bất công và trì hoãn dân chủ.

Thay vì lo ngại đa nguyên đa đảng dẫn đến bạo loạn, điều hợp lý hơn cần làm là cùng nhau thảo luận về một mô hình đa nguyên, đa đảng phù hợp nhất cho Việt Nam, và cùng hành động để giữ cho mô hình đó đi đúng hướng.

Nói dân chủ thì dễ, hành xử một cách dân chủ mới khó. Mà nếu không bắt đầu thì đến bao giờ mới có cơ hội rèn luyện tác phong dân chủ đây?

Nguyễn Hoàng Lan hiện đang học ngành Luật tại Đại học Indianapolis, Hoa Kỳ. Cô cũng là Thành viên Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ và đảng viên Đảng Dân Chủ Việt Nam, một đảng đối lập không được nhà nước Việt Nam công nhận.

Nguồn: BBCVietnamese.com

วันอังคารที่ 2 ธันวาคม พ.ศ. 2551

No143: QUAN LIÊU, THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ ĐÃ TRỞ THÀNH VĂN HÓA XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ngày nay, không ai là không biết, khi tới cơ quan hành chánh nhà nước phải mang theo tiền. Ít thì một gói thuốc 555, có khi thì một thùng bia 333. Và lớn hơn là một phong bì tùy theo công việc phải giải quyết mà nó sẽ đựng loại tiền nào, 50000, 100000 hay 500000. Dù đi làm một giấy khai sanh hay một đơn báo tử.

Đã nhiều lần, vì công việc, tôi đã phải đến các cơ quan hành (là) chánh nhà nước để được chứng kiến các vị quan chức nhà nước phục vụ chủ nhân của mình. Tôi xin kể lại một lần trong số đó.

Tôi đến văn phòng ủy ban phường vào lúc 8h sáng một ngày đẹp trời. Nhưng chẳng có ai cả. 8g30 sáng các nô bộc của tôi mới lác đác bước vào văn phòng làm việc. Họ bắt đầu tụ tập uống trà và nói chuyện thế giới đông, tây. Khi đã khá đông đủ thì họ kéo nhau đi ăn sáng theo nhóm của mình bất chấp các ông chủ, cậu chủ đang chờ họ để giải quyết công việc. Ăn sáng trở về, họ uể oải nhìn vào từng tờ đơn, tờ trình của chủ nhân. Khi tờ đơn của tôi được chiếu cố, tôi đứng dậy và đến bàn ngồi đối diện với công nô của mình. “Đi mua cho anh gói thuốc”, tôi giật mình khi chưa kịp đặt mông xuống ghế thì nghe tiếng nói từ phí đối diện. Quái lạ, lại có cái kiểu sai dân đi mua thuốc sao? Tôi tự hỏi rồi đưa mắt nhìn người nô bộc của mình. Thôi cũng được, để công việc được mau chóng mà, tôi tự nhủ. Nhưng tiền đâu? Chẳng thấy động tĩnh nào của ngài nô bộc là muốn móc tiền ra cả. Ngược lại với suy nghĩ của tôi, ngài nô bộc nhìn tôi vênh váo như muốn nói: có muốn ký không đấy! Đâu đó quanh tôi vang lên một giọng nói nhỏ nhẹ: Đi mua cho ảnh gói thuốc rồi ảnh ký cho. Và tôi chợt hiểu, tôi đã quên mất cái thủ tục “đầu tiên” của mình khi đến cơ quan hành (là) chính nhà nước. Có thể sẽ ít gặp những chuyện như thế này ở Tp HCM bởi vì ở đó người dân đã không còn sợ những ngài nô bộ của mình như trước đây. Tuy nhiên, nếu các bạn đi đến các cơ quan hành chánh nhà nước ở các tỉnh lẻ và miền quê thì đây là chuyện thường ngày ở phố huyện.

Nếu một bạn nào đó đến cơ quan nhà nước với một tờ đơn trên tay, dù là đơn xin chứng nhận tạm trú, một đơn xin phép xây dựng, một tờ giấy xác nhận gì gì đó mà không có thủ tục đầu tiên thì y như rằng, bạn phải viết lại lá đơn đó ít nhất là 5 lần. Và nghiêm trọng hơn nữa là bạn phải chờ xác minh mà không biết thời hạn bao lâu.

Nếu bạn một lần ra làm thủ tục hải quan thì tiền bồi dưỡng là chuyện không thể thiếu nếu bạn muốn hàng của bạn được xuất kho. Có hàng vạn lý do để bạn phải kê khai lại các tờ khai. Các doanh nghiệp, các công ty đã vì tiền bãi mỗi ngày khi bị giam kho không chịu nỗi đã phải đưa ra luật bất thành văn: 1 công = 200.000 vnđ. Có khi còn cao hơn cho những người mới tham gia công việc này vì chưa quen đường đi lối về. Và khi hàng không minh bạch thì số tiền lên tới vài chục chai (xin các bạn đừng hiểu đây là vài chục chai nước suối nhé!). Đây là câu trả lời cho hàng loạt thực phẩm độc hại được nhập vào Việt nam, hàng loạt rác trên thế giới chọn Việt nam làm bãi chứa.

Các doanh nghiệp hàng năm phải đối mặt với hành loạt các khoản (tại sao tôi gọi là các khoản mà không gọi là vấn đề?): phòng cháy chửa cháy, môi trường, an toàn lao động… Nhưng có một sự khác lạ ở Việt nam là, sự đối mặt ở đây không phải là để cải tiến hệ thống phòng cháy chửa cháy, cũng không phải là để nâng cấp hệ thống xử lý chất thải, cũng chẳng phải là đảm bảo an toàn lao động mà là số tiền phải chung chi cho các vị chức trách phụ trách các vấn đề đó. Các công ty, doanh nghiệp cho dù có cải thiện các điều kiện sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn nhà nước mà không chịu chi tiền thì bị hạch sách, quấy nhiễu. Còn ngược lại, chỉ cần chi tiền, các công ty không cần phải tốn công nhọc sức, mọi điều kiện sẽ tự nhiên phù hợp với thực tế của công ty. Công ty lớn thì chi lớn, công ty nhỏ thì chi nhỏ, đố công ty nào sót sổ. Đó cũng là câu trả lời cho sự việc hàng loạt công ty gây ô nhiễm môi trường được báo chí phanh phui, hàng loạt các vụ cháy xảy ra gần đây.

Rồi trong những năm gần đây, hàng loạt các công ty quốc doanh thua lỗ được cổ phân hóa. Mọi người hồ hỡi vì chính phủ và nhà nước đã biết thế nào là kinh doanh. Nhưng cái vui chưa trọn vẹn thì những cái lạ đời bắt đầu xảy ra. Mang tiếng là cổ phần hóa và khuyến khích người dân tham gia. Ấy vậy mà đố người dân nào mua được 1 cổ phần nào với giá ấn định ban đầu. Cái giá được bán lại từ các sếp bằng giá ấn định nhân với 3 hoặc 4 lần. Và khi lên sàn giao dịch ngay từ phiên đầu tiên đã tăng vọt lên 4, 5 lần. Ở đâu có cái sự lạ lùng thế. Những công ty đang thua lỗ hàng tỉ đồng mỗi năm sao lại được nhà đầu tư hồ hởi đến thế? Nếu ai tinh ý một chút có thể nhận ra một sự thật rất đơn giản: Họ đã định giá công ty ở một mức giá thật thấp, rồi các sếp chia nhau quyền mua cổ phần, như vậy khi lên sàn chỉ cần với giá thực thôi học cũng đã có lời gấp 10 lần rồi. Cái giá tăng gấp 5 lần cũng chỉ là ngụy trang mà thôi, có sếp mà chịu bán đâu. Bây giờ người dân mới hiểu: Cổ phần hóa là hợp thức hóa việc lấy tiền nhà nước mà thôi.

Có lần tôi đi cùng người bạn trên đường Nguyễn Văn Trỗi thì được một chú Cảnh sát giao thông hỏi thăm. Mặc dù có đầy đủ giấy tờ nhưng người bạn tôi vẫn móc tờ 50.000 kẹp theo cavet. Một cái gật đầu viên cảnh sát và chúng tôi lại lên đường. Lát sau tôi hỏi: mầy chưa thi bằng lái à? Tao có đầy đủ hết, người bạn tôi trả lời. Thế mình có phạm luật gì đâu mà mày phải nhét tiền? Bạn tôi trả lời gọn bưng: lằng nhằng với tụi nó mất thời gian, trước sau gì tụi nó cũng kiếm ra chuyện để phạt à? Tôi chỉ còn biết ngậm tăm thôi chứ nói gì nữa.

Một sự thực đáng sợ là cái sự hiển nhiên của tham nhũng, quan liêu, của hối lộ lâu ngày đã biến thành văn hóa. Người dân đã coi chuyện đút lót như một hiện tượng tất yếu của xã hội. Họ coi đó là cách khôn ngoan nhất để tránh sự phiền nhiễu của các quan chức. Rất ích (phải nói là hiếm khi) có người nhận ra đó là vi phạm pháp luật. Và càng hiếm khi có người muốn thay đổi và đấu tranh chống lại căn bịnh trầm kha này. Nó đã nghiễm nhiên biến thành một phần tất yếu của cuộc sống.

Và điều đáng ghê sợ hơn nữa là nó đã trở thành văn hóa và ý thức hệ trong tư duy của các quan chức cấp cao. Tôi còn nhớ có lần một lãnh đạo cấp cao của cục hải quan đã bào chữa cho nhân viên của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng và gọi hiện tượng này với một cái tên rất mỹ miều: “bồi dưỡng”.

Ở Nhật, một nhà thầu xây dựng đút lót cho quan chức nước ngoài là Việt nam đã bị chính phủ Nhật điều tra và khởi tố. Còn bản thân các vị quan chức Việt nam nhận hối lộ đó thì vẫn bình an vô sự. (vụ án đại lộ Đông Tây vừa qua là một điển hình).

Và, với vụ hai nhà báo Hải, Chiến gần đây, càng chứng tỏ rằng:

Quan liêu, tham nhũng và hối lộ là đặc tính tất yếu và bất khả xâm phạm của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.

Anthony Le

No142: Thư gởi đồng chí "bị lộ" Huỳnh Ngọc Sỹ

Kính thưa đồng chí “bị lộ” Huỳnh Ngọc Sỹ!

Huỳnh Ngọc Sỹ
Tôi viết lá thư này để chia sẽ với Ngài những buồn vui sau sự cố “bị lộ” cũng như tư vấn, đóng góp thêm ý kiến với Ngài về những gì sẽ xảy ra.

Ngài Sỹ Huỳnh kính mến!

Thật bất công cho Ngài khi phải chịu làm quân tốt. Thực tình mà nói thì số tiền mà Ngài thu được từ những nhà thầu nước ngoài đã đem về cho đất nước hàng triệu đôla chứ có ít ỏi gì đâu. Một mình Ngìa thôi mà kiếm được một số tiền mà doanh thu của hàng chục công ty vừa và nhỏ trong nước cộng lại cũng chưa bằng. Vậy mà xã hội lại coi là tội, thật bất công! Nhưng xét cho cùng thì số tiền đó chẳng đáng là bao so với các đồng chí “chưa bị lộ” của Ngài, Ngài nhỉ?! Nếu vậy thì Ngài là tốt cũng đúng thôi. Mà nghĩ lại tôi vẫn thấy ấm ức giùm Ngài. Số tiền ấy, sau bao nhiêu năm, tôi và mọi người đều biết rằng nó đâu chỉ thuộc về một mình Ngài. Phía sau lưng Ngài còn có cả chục, thậm chí cả trăm đồng chí mà ngài phải chung chi, biếu xén ấy chứ. Ấy vậy mà bây giờ chỉ mình Ngài hứng chịu. Có đau không chứ?! Đau ơi là đau Ngài nhỉ!

Mà thôi chuyện đã bị lộ rồi chì còn tìm cách giải quyết thôi. Tôi có vài ý kiến như thế này, nếu thành công thì Ngài nên nhận tôi làm trợ lý, có gì tôi làm tốt thay Ngài (Cái này là tôi vì đảng vì Ngài đấy, tuyệt nhiên không cần báo ân).

Trước tiên ta hãy tìm nguyên nhân sự cố, sau đó mới có biện pháp khắc phục, tránh vi phạm lần sau.

- Thứ nhất: Đó là lỗi làm phó. Ở Việt nam này có cái luật bất thành văn rồi, chắc Ngài cũng đã biết, là hễ có tội thì phó phải chịu thay cho trưởng. Xưa nay vẫn vậy. Ngài biết vậy mà vẫn chấp nhận làm phó nghĩa là Ngài cố tình chịu tội. Lỗi cố tình lại càng nặng hơn (cái này hơn mệt đây).

- Thứ hai: Lỗi này người dân ta hay gọi “ngu mà lì”. Ngu là sao? Mà lì là sao? Xin thưa với Ngài rằng: Ngu là do Ngài tưởng rằng ờ Nhật cũng giống ở ta, tham nhũng là chuyện hiễn nhiên. Mà ngu nữa là bao nhiêu công trình của các công ty Trung Quốc bạn ta Ngài không móc nối lại đi mốc nối với cái anh chàng Nhật này (cái này xin mách nhỏ với Ngài là Ngài đã vi phạm mức độ ưu tiên về ngoại giao của đảng ta rồi đấy, đảng ta đã dặn Ngài là phải ưu tiên Trung Quốc và các nước XHCN trước). Ở Nhật luật pháp nghiêm minh (ý lộn, phải nói là thực thi luật pháp nghiêm minh chứ nước ta luật cũng nghiêm lắm, cũng minh lắm). Ấy vậy mà Ngài dám nhận hối lộ từ những 2001 tới nay. Quả thật là đúng lì.

- Thứ ba: Lỗi thiếu cập nhật thông tin. Cái vụ này bên Nhật họ thông báo cho ta lâu rồi thế mà Ngài không phòng hậu sự. Hay là Ngài tưởng rằng đảng ta kêu họ dừng điều tra thì họ sẽ không dám điều tra nữa nên Ngài không cần phải lo. Hay là do Ngài có cái dù quá to? Ngài còn nhớ không? Cách đây mấy ngày báo chí đã nêu một xu hướng mới của các quan chức Trung Quốc bạn ta nhận hối lộ rồi ra nước ngoài sống. Nếu Ngài cũng làm như họ thì hay quá. Tôi đâu phải nhọc công tìm kế cùng Ngài. Bây giờ thì e trể mất rồi vì Ngài còn phải làm “tốt”, chỉ còn chờ thí nữa thôi.

- Thứ tư: Tham. Cái lỗi này thực ra không đáng bàn vì trong thời đại này có vị quan chức nào lại không tham chứ. Tôi nghĩ đảng cũng hiểu điều này mà bỏ quá cho Ngài.

Bây giờ chúng ta nhận xét tình hình (biết người biết ta trăm trận bất bại mà) để dễ bề dự liệu.

Tôi e rằng phải báo tin xấu cho Ngài thôi. Tình hình này cực kỳ nghiêm trọng bởi vì cái vụ PMU18 đã khuấy động dư luận rồi. Bây giờ mà muốn chìm xuồng cái vụ này coi bộ không yên với dân rồi. Xui cái là vụ này bể không đúng thời gì cả, ai lại nhằm cái lúc dầu xôi lữa bổng vậy mà bể, đợi thêm thời gian nữa có hay hơn không?! Mà cái anh chàng Nhật này cũng đáo để thật, ai đời hối lộ mà cũng bị truy tố (bên ta nhận hối lộ mà vẫn bình thường, thậm chí còn trả thù người phát hiện một trận ra trò). Tại sao họ người Nhật không biết xử lý nội bộ đảng nhỉ? Như vậy có phải đỡ cho mình không. Đã vậy còn đưa lên báo chí cho nó văng mãnh tùm lum. Văng tới cả nơi thiên đường xã hội chủ nghĩa này mới nghiệt chứ. Ta đang yên lành thế mà người Nhật lại xáo trộn cả lên. Bảy tám năm rồi còn gì. Cái anh chành Nhật này phải liệt vào hạng “thế lực thù địch” rồi.

Bây giờ bên Nhật người ta đã truy tố người của họ thì tất nhiên ta cũng phải thí tốt của ta thôi (cái này nguy cho Ngài đây). Như vậy mới lấy được tiền của họ nữa chứ (Nên nhớ Nhật là nước viện trợ ODA cho ta nhiều nhất đấy, làm mất lòng họ thì không xong đâu).

Từ thực tế phủ phàng trên, ta thấy chuyện Ngài phải hầu tòa là chuyện hiển nhiên. Nhưng Ngài cũng đừng vội nãn chí, tòa cũng là người của ta cả. Vấn đề là ta phải xoay tòa theo hướng nào có lợi nhất cho ta và cho đảng.

Giải quyết vấn đề mới là chuyện nên bàn.

Đối với Ngài thì tôi có ý kiến thế này: Ngài có 2 con đường và có thể chọn 1 trong 2.

- Thứ nhất: Âm thầm chịu đựng. Có nghĩa là dù Ngài có chung chi cho ai, có ai cùng tham gia với Ngài thì Ngài cũng không được khai. Như vậy thì Ngài có cái công với đảng vì đã giúp đảng trong sạch vững mạnh. Dựa vào công này ngày sẽ được giảm án (tình tiết giảm nhẹ). Vào nhà nghĩ vài năm rồi dựa vào cái dù của Ngài mà ân xá cho vài chục năm. Như vậy cũng tốt, có thời gian nghỉ ngơi để sau này đảm nhận nhiệm vụ khác cao hơn. Ngài hỏi tại sao ư? Vì chẳng sếp nào lại không ưa một người như Ngài “dám làm dám chịu”, không liên lụy tới sếp (cái này tôi cam đoan là đúng 100%, vì tôi cũng làm sếp mà).

- Thứ hai: Khai tất cả những người có liên quan, chức càng cao càng tốt. Vì như vậy đảng sẽ chùng tay (nhiều quá mà, nếu xử thì e rằng chẳng còn đảng viên nào). Đảng sẽ tìm cái tội khác cho Ngài (như là tội nhận quà biếu quá nhiều chẳng hạn, hay là tội không khai báo khi có số tiền lớn mà không biết lý do…) nhiều tội có thể thay thế tội nhận hối lộ mà khi chịu án chỉ là cảnh cáo nội bộ thôi, như vậy Ngài không cần phài lo lắng nhiều. Cái này coi hay vậy nhưng có một khuyết điểm vô cùng lớn. Đó là các sếp từ nay không dám giao việc cho Ngài nữa vì Ngài đã làm sếp bị liên lụy. Đường tiến thân sau này sẽ khó.

Lưu ý Ngài một chuyện. Nếu Ngài muốn chọn cách thứ 2 thì phải nhớ nhập tâm rằng: Khai thì phải khai với báo chí “lề trái” ấy, có như vậy mới tới tai công luận được, và như vậy mới làm áp lực với đảng và các sếp được. Nếu Ngài khai với các cơ quan điều tra và các báo bên “lề phải” thì coi như Ngài tiêu đời rồi. Ban tuyên giáo trung ương sẽ ém nhẹm mọi thông tin và ngài sẽ bị xử như nhà báo Nguyễn Việt Chiến ấy. Sẽ không có cơ hội cho Ngài thanh minh đâu Ngài hiểu chưa?

Vài lời tâm sự và chút ngu kiến giúp Ngài qua cơn hoạn nạn. Mong rằng sau cơn mưa trời lại sáng.

Chào Ngài

Nguồn: Anthony Le's Blog

วันจันทร์ที่ 1 ธันวาคม พ.ศ. 2551

No141: ĐỖ VIỆT KHOA - ANH HÙNG HAY TỘI ĐỒ


Thân tặng:

Các em Châm, Nhự, Xuân, Chiêm,Lợi,…

học sinh cũ của tôi những năm đầu 1970

ở hàng Trạm - Yên Thuỷ - Hoà Bình.(NTL)

Nguyên giáo viên trường C3- Lạc Sơn - Hoà Bình

Trong bài viết "Tiếng thở dài trên trường quay S10", tôi viết sau ngày Đỗ Việt Khoa (ĐVK) và tôi xuất hiện trong chương trình "Người đương thời" (NĐT) đầu tháng 7/2006, tôi có nhắc đến câu nói của cô giáo chủ nhiệm của ĐVK. Câu nói đó làm tôi và nhiều người rất dị ứng:

"Em làm việc đó (việc ĐVK phanh phui, gian dối ở trường thi Phú Xuyên A 2005 - 2006)làm gì. Cô sợ rằng rồi em sẽ không có chỗ đứng trong ngành giáo dục".

Tôi nghĩ, giá như cô giáo của Khoa nói: "Khoa ơi!Việc em làm là rất tốt nhưng cô sợ là em sẽ…" thì tôi phục cô giáo biết bao nhiêu, vì nếu ai cũng tránh né cái việc nói thẳng, nói thật đó, ai cũng đặt cái lợi ích cá nhân lên trên tất cả thì chắc chắn đến hôm nay chẳng một ai được chứng kiến cuộc vận động hai không trong ngành GD ĐT. Khi có cuộc vận động này, những người lạc quan nhất đã vội nghĩ từ nay GD ĐT đã tìm được nguồn sinh khí mới để đi lên và:

"Từ nay người biết yêu người

Từ nay người biết thương người".

(Văn Cao)

Chẳng lâu la gì ít ngày sau mọi người đã phải viện dẫn: "Thức lâu mới biết đêm dài" - "Đừng nghe người làm giáo dục nói! Hãy nhìn xem người làm giáo dục làm gì?". Những chân lý khách quan kể trên có thể chưa hoàn toàn chính xác với Hà Nội 1 còn với Hà Tây cũ! Dạ thưa, tôi dám chắc đó là một lời nhắc nhở rất thuyết phục. Hãy xem, tối 23/11/2008 ĐVK đã xuất hiện như thế nào trong bản tin thời sự tối của VTV1 Đài truyền hình TW.

Đâu rồi một ĐVK hào sảng và tự tin trước mọi người!

Đâu rồi một ĐVK trong mùa thi 2005 - 2006 đã dũng cảm xông vào những góc tăm tối nhất của GD ĐT Hà Tây để tả xung hữu đột!

Đâu rồi một ĐVK hiệp sĩ dám lách mũi kiếm chống tiêu cực để tách ra cái "Khối u ung thư" trầm trọng trên cơ thể GD ĐT Hà Tây. Cái khối bùng nhùng đó được nuôi dưỡng bằng những dòng máu tím đen những dối trá, tiêu cực, vô luân và vô đạo đã thành bản chất. Khi cái bọc đó vỡ ra tán loạn là những … Kính thưa các đồng chí đã lộ và chưa lộ! Có đồng chí đã lộ nhưng nhanh mắt nhanh tay mở két thì dông ngược lên trên! Có đồng chí chậm chân lỡ bước đành chấp nhận "Hạ cánh an toàn" với khối tài sản kếch xù. Các đồng chí khác thì thay hình đổi dạng, thay phấn đổi hương để trở thành những yếu nhân của vận hội mới.

Đâu rồi một ĐVK rạng rỡ bước lên đài cao để đón nhận danh hiệu NĐT được yêu thích nhất 2006!

Đâu rồi những lời có cánh của bộ trưởng Bộ GD ĐT lần ông xuất hiện tại tư gia của ĐVK trước một rừng ống kính các nhà báo.

Những gì đã đến với con người của công chúng ĐVK! Mà hôm nay ĐVK xuất hiện trong bộ dạng của một KẺ TUẪN NẠN thê thảm đến như vậy. Một ĐVK phờ phạc, mỏi mệt vì bị đồng nghiệp ở đó tẩy chay, cô lập, bị phân biệt đối xử, thậm chí còn bị xã hội đen cho vào vòng ngắm. Nhục nhã thay cho những người trí thức phổ thông trung học, người ta đã hành xử tồi tệ với Khoa như thế mà họ vẫn cúi mặt không dám phản đối điều gì. Tệ hại thay họ cúi mặt chỉ để vừa lòng vị sứ giả của lãnh đạo Sở GD ĐT Hà Tây cử xuống thay cho cựu hiệu trưởng THPT Vân Tảo Từ Ngọc Lĩnh lâm nạn trong mùa thi 2005 - 2006.

Là người luôn xuất hiện bên cạnh ĐVK vào những thời điểm nhạy cảm nhất, nhìn cảnh ĐVK trên chiếc xe đạp cà tàng, xiêu vẹo đạp đến cổng trường lòng tôi buồn đến tê tái. Giữa lúc tôi đang trộn rộn những hoài niệm về những ngày tháng 6, tháng 7 của 2006 thì hàng loạt cú điện thoại của học sinh cũ gọi đến. Trong những cuộc điện đàm đó tôi thực sự xúc động với cuộc điện đàm của một nữ sinh hiện cũng là một cô giáo sắp nghỉ hưu ở một trường PTCS thuộc huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình gọi về. Sau những bày tỏ về những bức xúc nảy sinh khi xem bản tin truyền hình đó, cô giáo than phiền: "Thưa thầy! Chống tiêu cực, chống sai trái mà bị đối xử như thế! Em hỏi thầy còn ai dám chống tiêu cực, chống sai trái nữa?". Tôi chỉ biết động viên em: Em để ý mà xem khi kết thúc bản tin đó, người phát thanh viên nói một câu có giá trị như một tổng kết rất đắt giá về cái thời đại mà chúng ta đang sống. Người phát thanh viên nói: "Rõ ràng thực hiện nói không với tiêu cực không phải là dễ dàng và rất đáng tiếc chuyện này diễn ra không chỉ ở trong ngành giáo dục". Rất đúng, rất chính xác. Em thấy đấy mấy vụ lộn xộn gần đây, đặc biệt với vụ PMU 18 thì thật sự làm mọi người Việt Nam trong và cả ngoài nước bất ngờ. Bốn anh hùng chống tham nhũng thì nhà báo, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến báo Thanh Niên do kiên định là vô tội thì xộ khám 2 năm tù giam. Nhà báo Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ do "Thành khẩn hối hận" được tha với 2 năm án treo. Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc lĩnh án cảnh cáo nhờ những thành tích trong quá khứ. Thượng tá Đinh Văn Huynh - điều tra viên cao cấp với án 1 năm tù giam! Không dưới 7 ký giả khác bị tước thẻ hành nghề, vài ông Tổng biên tập, Phó tổng biên tập bị cách chức vì cái tội cứ hay "Xớ rớ" vào chống tham nhũng! Đặc biệt đáng buồn thay là chỉ thị gần đây của ban tuyên giáo TW: Báo chí phải đi đúng lề đường bên phải!?

Theo tôi bản chất của cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc chiến giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa điều chân thực và cái dối trá. Cuộc chiến đấu này không có đầu rơi, không có tiếng súng nhưng không vì thế mà nó không khốc liệt. Giờ đây trong cái thời tiết chính trị xã hội thế này nó còn phải tuân thủ cả những luật chơi bất thành văn và không ít chất rừng rú. Đó là luật mạnh được yếu thua. Có thể anh là chính nghĩa đấy, anh chỉ thực sự chiến thắng khi anh là kẻ mạnh. Một khi tuy anh là chính nghĩa nhưng anh cô đơn, cô độc thì dễ lắm anh sẽ bị cái phi nghĩa, cái vô luân nó nuốt chửng, nó đè bẹp, nó nhấn chìm. Quan sát hiện tượng ĐVK từ lúc bắt đầu xuất hiện đến nay ta thấy cái luật không thành văn kia hoàn toàn là chính xác. Mọi người đâu đã quên trong sự kiện Phú Xuyên A 2006 khi trong tay ĐVK là những CD ghi âm lời phát ngôn bừa bãi của những kẻ bảo kê cho gian dối thi cử, những băng hình quay tại trận ở các phòng thi đang "Họp chợ" thì Giám đốc Sở GD ĐT Hà Tây Uông Đình Hồng cùng các thuộc hạ là đám Chánh phó thanh tra sở ngày đó còn xưng xứng đe doạ Khoa: "Anh đã làm sai quy trình!". Thử hỏi một môn thi chỉ diễn ra từ 90 - 180 phút mà người phát hiện sai trái cứ phải răm rắp tuần tự báo cáo từ quan cấp tổ, cấp trường, cấp phòng, cấp huyện, cấp sở, cấp tỉnh rồi mới được tới cấp TW thì "Trộm" đã nhảy qua mấy lần hàng rào rồi còn đâu mà xét xử. Rất may cho Khoa, có lẽ cũng là nhờ vận nước, nhờ báo chí ngày đó chưa có lệnh cấm phải đi đúng lề bên phải, nhờ trong đời vẫn còn có những Lục Vân Tiên mà ĐVK bình an vô sự để được vinh danh là anh hùng chống tiêu cực của GD ĐT Hà Tây là NĐT được cả nước tôn vinh. Giờ đây các yếu tố THIÊN - ĐỊA - NHÂN không còn thuận với Khoa và những ai muốn đi vào con đường của Khoa nữa. Tuy vậy, em có biết không duy nhất báo Tiền Phong ngay từ 17/11/2008 tức là 3 ngày sau ngày ĐVK bị khủng bố thô bạo đã chạy một tít gây bàng hoàng giáo giới và những ai quan tâm đến GD ĐT: "Thầy giáo chống tiêu cực ĐVK bị đe doạ hành hung tại nhà" và "Khoảng 21h30' ngày 14/11/2008, một số đối tượng đã đến nhà thầy ĐVK ở xã Vân Tảo - huyện Thường Tín - Hà Nội đe doạ hành hung rồi cướp đi của thầy chiếc máy ảnh Nikon D70S. Một bảo vệ nhà trường đã bị bắt giữ". Em hãy tìm đọc bài báo đó đi, em sẽ hiểu vì sao mà gương mặt ĐVK lại bơ phờ mỏi mệt và những lời anh ta giãi bày với mọi người lại nhuốm màu u ám và thất vọng đến như vậy. Qua bài viết này em sẽ thấy bi kịch ĐVK đã được báo trước ngay sau ngày anh ấy nhận danh hiệu là NĐT được nhiều người ưa thích nhất 2006.

***

21h30' tối ngày 14/11/2008 Khoa lâm nạn thì sáng 17 các trang mạng tràn ngập tin tức về việc Khoa bị khủng bố và lần này tôi xuất hiện tại nhà Khoa với một tư cách khác. Lần trước tôi đến thăm Khoa với tư cách là một đồng nghiệp với một đồng nghiệp đang bị đe doạ bởi cái kết luận vẩn vơ: "Anh đã làm sai quy trình!" của ông Giám đốc Uông Đình Hồng và Chánh thanh tra sở GD ĐT Hà Tây Lê Thiết Hùng. Lần này tôi đến với Khoa tôi đã là một ông giáo già về hưu, đã "Rửa tay cất phấn", đã bước ra khỏi con đò GD ĐT Hà Tây rách nát với những dấu vết vá víu tạm bợ của ba đời Giám đốc để chí thú cho những ngày tháng mùa đông cuộc đời với những suy tư mỗi khi ngoái nhìn lại những năm tháng đã qua. Em có biết không! Hôm đó Khoa kể với tôi rằng:

"Sáng 19/10/2008 trường THPT Vân Tảo tổ chức Đại hội công nhân viên chức. Lịch làm việc là 8 giờ khai mạc. 8 giờ kém 15 em đã có mặt ở phòng Đại hội rồi. Hai nữ giáo viên nhờ em về nhà lấy một vài tài liệu. 8 giờ 2 phút em đã lại đứng ở cổng trường. Cổng trưởng đóng im ỉm, khoá chặt. Em yêu cầu bảo vệ mở cửa cho vào dự họp, bảo vệ nói:"Thừa lệnh của lãnh đạo là nội bất xuất ngoại bất nhập". Quá lo sợ sẽ bị người ta ghi là tự do bỏ họp, em tìm đoạn tường thấp và trèo vào. Ngồi chưa ấm chỗ thì hai bảo vệ mặt mày bặm trợn, hầm hầm xông vào Đại hội nói: "Thừa lệnh của lãnh đạo họ có nhiệm vụ phải áp tải em ra khỏi cổng trường". Thế là trước mắt toàn thể hội đồng giáo viên, công nhân viên, trước cả các đại diện hội phụ huynh cùng với các quan khách được mời, hai bảo vệ kè hai bên gần như xốc nách em lôi tuột ra khỏi phòng họp và cũng lôi tuột ra khỏi cổng trường".

Em nghĩ gì về lối hành xử này!

Em cũng là một bà giáo sắp về hưu rồi, em nghĩ gì về nhân cách của cái con người đã ban ra cái lệnh quái gở đó!

Em nghĩ gì về bản lĩnh và nhân cách của Hội đồng giáo viên trường này khi họ buộc phải tỏ ra vô cảm để làm vừa lòng kẻ ra lệnh!

Em nghĩ gì về những người nông dân làm thuê kiếm sống trong đội bảo vệ của nhà trường này!

Em nghĩ gì về những khẩu hiệu người ta sơn kẻ, quét trên tường: "Tiên học lễ - Hậu học văn", là "…tình thương và trách nhiệm!"...

Tôi thực sự bàng hoàng về những gì mà Khoa đã vắn tắt giãi bày với tôi. Tôi chưa kịp an ủi, động viên gì Khoa thì Khoa vội vơ cặp dắt xe ra đường nói vội với tôi: "Thầy thông cảm sắp vào giờ rồi. Có nhiều buổi người ta chỉ xếp cho em 1 tiết, có 2 tiết thì tiết 1 rồi lại đến tiết 5 thế là mất toi đi cả một buổi. Thầy cứ ở đây dạy xong em sẽ về kể chuyện tiếp". Nhìn bóng Khoa khuất dần trên con đường bụi bặm, sau cơn lụt lội kinh hoàng vừa rồi, tôi sực nhớ tới cái đêm mùa đông lạnh giá đầu 2007, dịp đó Khoa mới nhận danh hiệu NĐT được nhiều người ưa thích nhất 2006. Đêm hôm đó lúc tôi sắp tắt đèn đi ngủ thì vợ Khoa gọi điện đến hốt hoảng như dựng đứng tôi dậy: "Thầy Long ơi! Nhà em hôm nay không biết ở trường người ta chuốc anh ấy uống rượu thế nào mà suốt buổi tối đến giờ anh ấy mê sảng, nôn mửa em sợ quá". Tôi vội nói với vợ tôi: Tôi phải đến với Khoa ngay bây giờ, tôi sốt ruột lắm. Vợ tôi gàn lại: Thôi để sáng hãy đi, ông có tuổi rồi, đêm hôm lạnh lẽo thế này đi xa nguy hiểm lắm. Tôi gạt đi: Tôi linh cảm thấy có điều gì đó rất bất ổn. Dắt xe ra đường, đường phố Hà Đông giờ này đã thưa vắng người qua lại. Những ý mã, những hoài niệm, những vọng niệm, những tạp niệm lộn xộn từ trong quá vãng xa mờ cứ trỗi dậy theo nhịp bánh xe lăn. Không phải ai cũng may mắn thoát hiểm, thoát khỏi những tà tâm, những ác đức của những người đồng nghiệp của chính mình, sống bên cạnh mình như những gì mà tôi đã phải trải qua ở trường THPT Trần Hưng Đạo - thành phố Hà Đông nhiều năm đã qua đâu. Con đường tới nhà Khoa đêm nay sao mà dài thế. Bỏ lại sau lưng những quầng ánh sáng vàng vọt của thị xã Hà Đông (Ngày đó Hà Đông chưa được gọi là thành phố), tôi băng qua đoạn đường dài xuyên qua nghĩa trang Văn Điển để ra đường số 1, rẽ phải một mình đi mải miết trong đêm đầu năm về phía ga Thường Tín. Đến nhà Khoa giữa lúc người khách cuối cùng bước ra khỏi quán Internet. Dựng xe xong tôi chạy bổ vào phòng Khoa thì thật sững sờ trước cảnh Khoa đang vật vã trong vòng tay người vợ trẻ, bên cạnh giường là chiếc chậu nhôm để sẵn. Vợ Khoa nước mắt lưng tròng nói: Em khổ quá thầy Long ạ. Không hiểu sao mà anh ấy lại ra nông nỗi này. Tôi chưa kịp hỏi han gì thì thấy Khoa co giật liên hồi rồi với lấy chiếc chậu nhôm dưới chân giường và thốc tháo trút ra những gì mà người ta vì "Yêu quý" Khoa quá họ tẩm bổ cho Khoa cả một buổi chiều. Vợ Khoa chua chát chép miệng: Thầy Long ơi! rõ khổ cho anh ấy toàn là tàn tích của cam, của ổi xanh thôi thầy ạ. Tôi bảo: Ói ra được như thế mới nhanh tỉnh em ạ. Em pha cho cậu ấy cốc nước chanh đi. Vợ Khoa chưa kịp đứng lên thì lại phải ôm chặt lấy chồng đang vừa giãy dụa, vừa kêu khóc trong trạng thái vô thức: "Anh Trung ơi! Anh hiểu sai về em rồi!", "Em không phải là con người như thế!". Có lúc Khoa lại nói sảng về một chủ đề rất lạ, lúc đó tôi không hiểu là chủ đề gì. Khoa ú ớ: "Đừng thu tiền như thế nữa! Không thể…không được thu tiền như thế, nh…ân…d…ân khổ…lắm….!" Tiếng Khoa như nức nở chìm lẫn trong những tiếng nấc, những tiếng oẹ khan. Tôi thật sự lúng túng, tôi không phải là dân nhậu, càng không phải là đệ tử của lưu linh nên chẳng biết cấp cứu cho người xỉn rượu là phải làm gì. Tôi lặng lẽ bỏ ra ngoài bấm máy. Lần thứ nhất tôi bấm máy cho Giám đốc sở GD ĐT Hà Tây Uông Đình Hồng, tôi thông báo cho ông ta tình hình rất xấu đang xảy ra với ĐVK. Thực ra với người khác tôi không làm phiền ông ta làm gì lúc đêm hôm. Đây là ĐVK, nhân vật chống tiêu cực cả nước biết tiếng, "Vua chúa" biết tên! Nói dại chẳng may Khoa làm sao GD ĐT Hà Tây biết nói gì với nhân dân cả nước? Ông Hồng trả lời tôi: Anh theo dõi tình hình của Khoa nhé và nhớ giữ liên lạc với tôi. Tôi cảm thấy ông ta có những lo lắng nhất định về việc này. Một lúc sau, có lẽ ông Uông khi đã nối máy được với lãnh đạo trường Vân Tảo, ông gọi tôi bằng một giọng lạnh lùng pha những bực dọc: "Chuyện uống rượu là bình thường, có ai bắt cậu ấy uống đâu. Say rồi sẽ lại tỉnh, tỉnh rồi có lúc lại say có gì mà ông Long phải quá lo lắng như thế?!" Rồi ông cúp máy tức thì. Tôi rùng mình thật không còn gì để mà nói nữa thưa ngài Giám đốc Sở GD ĐT Hà Tây, cựu hiệu trưởng trường Đảng Hà Tây. Thôi thì nhân vô thập toàn, tôi quay sang bấm máy cho Phó Giám đốc Sở GD ĐT. Tôi vắn tắt mô tả những gì đang diễn ra trước mắt tôi lúc đó. Thú thực tôi rất sợ ĐVK rơi vào hôn mê sâu, phải đi cấp cứu trong đêm thì rất nguy. Đáp lại lời thông báo của tôi, bà phó Giám đốc xinh đẹp và dịu dàng như một Ma Sơ nghiêm nghị nói với tôi bằng một chất giọng lạnh lùng còn lạnh hơn cả cú điện thứ hai của Giám đốc Uông gọi tôi. Người đẹp chắc lúc đó đang ngon giấc nồng nàn bị tôi phá quấy nên sẵng giọng: "Việc tổ chức ăn nhậu bê tha đến say xỉn như thế này, anh hãy báo cho Công an xã Vân Tảo thì hợp lý hơn, anh gọi cho em làm gì". Nói đoạn người đẹp dịu dàng tắt máy. Em đã tàn nhẫn bỏ rơi ba chúng tôi đang bấn loạn trong cảnh ngộ này. Với tôi, đêm hôm đó "Thiên thần" đã về trời rồi! Thế gian này ô trọc lắm hay sao hỡi Ma Sơ!

Rất may cho tôi và vợ Khoa, một lúc sau có lẽ nhờ tống được những "Của quý" ở trong bao tử ra, Khoa tỉnh dần. Khoa mệt mỏi đờ đẫn nhận ra tôi, Khoa bảo: Chào thầy Long! Rồi Khoa lại nhắm nghiền mắt lại và chìm vào giấc ngủ với tiếng thở đều đều, trên gương mặt Khoa như còn vương vương những nét ngượng nghịu về tình trạng của mình. Tôi liếc qua đồng hồ, lúc đó đã bước sang giờ đầu của ngày hôm sau. Tôi hỏi vợ Khoa về số giờ dạy của Khoa ngày mai, dặn vợ Khoa nếu Khoa không đi dạy được thì cô phải đến trường báo cho họ là Khoa bị ốm kẻo người ta lập biên bản là bỏ giờ. Một vài tháng sau là kỳ thi TN PTTH, kỳ thi đầu tiên sau cuộc vận động hai không và "vàng 9999" của Hà Tây, của nhiều tỉnh khác nhiều năm qua bỗng dưng lòi tói chỉ là thứ vàng "Đểu". Tháng 9/ 2007, tôi nhận sổ nghỉ hưu, chính thức "Rửa tay cất phấn". Những gì đã xảy ra ở nhà ĐVK trong cái đêm mùa đông lạnh lẽo đó, những cuộc điện đàm cũng vô cùng lạnh lẽo giữa các lãnh đạo GD ĐT Hà Tây với tôi trong đêm hôm đó mãi mãi là những kỷ niệm u buồn. Tôi nén tâm để quên đi, để đừng bao giờ phải nhắc lại câu chuyện buồn đó. Tôi không muốn gặp lại những tác giả của cuộc đối thoại đầu năm đó nữa. Câu chuyện buồn kể trên tôi chưa từng than thở cùng bất cứ ai suốt gần 2 năm qua. Giờ đây vì biến cố mới xảy ra với ĐVK, tôi buộc lòng phải làm nó sống lại.

Giờ đây Giám đốc Uông Đình Hồng cũng đã "Hạ cánh an toàn", nữ phó Giám đốc, người phụ nữ xinh đẹp đó đã về Hà Nội cùng với những tham vọng của cô ta. Cả hai con người đó chẳng ai dại gì mà nhớ lại làm gì những cú điện đàm vô tích sự cùng với tôi đêm hôm đó nữa. Tôi cũng chẳng gặp lại ĐVK một lần nào cho đến ngày tôi nhận được tin Khoa bị lâm nạn do những người đồng nghiệp ở ngôi trường chính quê hương Khoa.

Hôm nay tôi nhắc lại cái kỷ niệm buồn đó với lãnh đạo GD ĐT Hà Tây là muốn nói với mọi người, muốn nói với công luận đang nóng dần vào những ngày này rằng: Kết cục buồn của ĐVK lúc này đã được báo trước từ cái đêm mùa đông lạnh lẽo đầu 2007 rồi.

Tôi nghĩ THPT Vân Tảo là bức tranh thu nhỏ của GD ĐT Hà Tây sau nhiều chục năm phát triển một cách buông thả và bừa bãi nên nó đầy bệnh tật và GD ĐT Hà Tây cũng không phải là một biệt lệ đối với GD ĐT cả nước.

Tôi nghĩ rằng nguyên nhân để xuất hiện những suy thoái trong nền GD ĐT hôm nay vừa nằm trong những gì thuộc về nội tại của GD ĐT, vừa nằm trong điều mà người ta gọi là thứ lỗi của hệ thống chính trị. Vậy thì muốn GD ĐT tốt hơn, xứng đáng hơn trước hết mọi thành viên của nó phải thực sự xám hối, thực sự tiên trách kỷ, hậu trách nhân đã, đồng thời về phương diện vĩ mô, về phương diện hệ thống chính trị… đã đến lúc chúng ta phải dám nói thẳng với đảng cầm quyền, nói thẳng với nhà nước CHXHCNVN rằng GD ĐT Việt Nam hiện nay làm sao mà chẳng bị tật nguyền, làm sao mà chẳng có những bi kịch như những bi kịch đã đến với người anh hùng chống tiêu cực ĐVK một khi về cơ bản nền GD ĐT đó có khác gì đâu dòng sông Thị Vải! Nếu có điều khác biệt thì chỉ là dòng sông đó phải chết một cách tức tưởi vì bị tư bản Đài Loan làm cho nhiễm độc. Còn với dòng sông GD ĐT của chúng ta hiện nay, nó trở nên tật nguyền là do người làm giáo dục, người quản lý giáo dục, người lãnh đạo giáo dục nhiều chục năm trời rồi họ chưa có tâm, chưa đủ tầm để làm GD ĐT. Tư bản Đài Loan vì lợi nhuận mà giết chết dòng sông Thị Vải bằng các ống xả thải lén lút trút vào lòng sông đó những phế thải chưa qua xử lý. Xã hội Việt Nam đương đại cũng cóvô số những áp lực, những hối thúc để làm xuất hiện trong dòng sông GD ĐT những bằng giả, những học giả bằng thật, những cuộc cải tiến cải lùi vừa vô bổ vừa vô tích sự, những áp lực dạy thêm học thêm hành hạ học sinh, những quá tải của chương trình, những yếu kém của sách giáo khoa, những gian dối của thi cử, những bạo hành của thầy trò cùng với những mánh khoé để tham ô, tham nhũng một cách tinh vi… Thử hỏi dòng sông GD ĐT như thế làm sao mà nó chẳng ô nhiễm, chẳng tật nguyền.

Trong bối cảnh của xã hội như vậy, trong một nền GD ĐT như vậy cần lắm những con người như ĐVK của Hà Tây cũ, như EDU 2 Lê Đình Hoàng của GD ĐT Nghệ An, cần lắm những nhà văn nhà báo như Quý Hiên, Xuân Mai, Xuân Cường, Nguyễn Tuấn … của báo Tiền Phong, cần lắm những con người dũng cảm, trung thực và vô tư đã và đang tiếp tục tìm đến với ĐVK.

Trận chiến đấu này, phần thắng lợi chắc chắn sẽ thuộc về những con người đó. Tôi vững tin như vậy.

Thành phố Hà Đông những ngày đông lạnh giá tháng 11/2008

Nguyễn Thượng Long

Nguyên giáo viên dạy Địa lý thuộc GD ĐT Hoà Bình và Hà Tây cũ

Nguyên thanh tra giáo dục Sở GD ĐT Hà Tây

Chỗ ở: Thôn Văn La - phường Phú La - TP Hà Đông - Hà Nội

ĐTNR: 0433 521 066 - DĐ: 0953 298 198

Email: NguyenThuongLong571@gmail.com

No140: Cổ vũ cho tính độc lập,

Ngoài ngày Lễ Độc Lập (Independence Day), hầu như tôi chẳng mấy khi được nghe người Mỹ nhắc đến “độc lập” hay quảng bá cho “độc lập”.

Các em học Kindergarten (mẫu giáo) tại Mỹ, mỗi ngày chào cờ tại lớp trước giờ học, sẽ đọc thuộc lời tuyên thệ như sau:
“Tôi thề trung thành với lá cờ Hợp Chủng Quốc và nền Cộng Hòa, mà lá quốc kỳ đại diện, một quốc gia trên có Thượng Đế, bất khả phân, có tự do và công lý cho mọi người.”

(I pledge Allegiance to the flag of the United States of America and to the Republic for which it stands, one nation under God, indivisible, with liberty and justice for all.)

“Tự do” và “công lý” là hai thứ người Mỹ hướng tới. Còn “độc lập” thì sao nhỉ? Chắc là không quan trọng? Nước Mỹ là siêu cường, đương nhiên là... độc lập. Làm gì có “thằng” nào dám đụng tới?

Nhưng ở lâu tại quốc gia này, và quan sát kỹ, tôi nhận ra rằng người Mỹ tuy không to miệng vinh danh độc lập như nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, nhưng họ làm tất cả những gì có thể trong giáo dục cũng như luật pháp để nuôi dưỡng, phát triển, củng cố những cá thể độc lập trên mọi phương diện: lối suy nghĩ, sự lựa chọn, cách sống, sinh hoạt trong xã hội, ect...

Xin được bắt đầu từ sự quan sát được tại một khu nuôi trẻ tại Mỹ. Trẻ vừa vào lúc hai tuổi đã được tập cho tự ăn lấy, không bú, đút nữa. Sữa được uống bằng ly (training cup), không dùng bình, thức ăn để khay, và trẻ em tự bốc, xúc lấy. Hết giờ sẽ được dọn đi, mặc đổ tháo, hoặc không ăn hết. (Người viết từng cảm thấy phí phạm quá; nếu ép thì trẻ em sẽ ăn hết, vừa... mập mà lại không đổ phí thức ăn.) Nhưng nhà trẻ không quan tâm, thậm chí người giữ trẻ còn không được quyền đút giúp cho các em. Mục đích chính của họ là các trẻ phải được “buông” để tự ăn, không cần trợ giúp.

Khi các trẻ em vào mẫu giáo cũng vậy. Một vài tuần lễ đầu trẻ được chú ý giúp đỡ cách biết tự cột dây giầy, cởi nút quần áo, để tập khả năng làm những việc mà các bố mẹ thường làm giùm, cho lẹ, cho tiện. Sau đó mới bắt đầu vào chương trình học chính, viết tên, chữ, số, màu sắc... Cũng ngay từ mẫu giáo, chương trình học cũng biểu hiện rõ lối giáo dục khuyến khích tính độc lập và sáng tạo của các trẻ. Bài vở hàng ngày thường ra đều có ít nhất hơn một đề tài cho các em lựa chọn để làm, với mục đích tạo cơ hội cho trẻ thói quen quyết định. Những quyết định nhỏ bé này lúc nào cũng được khen ngợi. Sư phạm Mỹ tránh dùng từ “No” với các trẻ nhỏ, và những từ khuyến khích như “good idea”, “good thinker”, “that's wonderful”, ect... luôn luôn được xử dụng. Điều này giúp trẻ quen thuộc và tự tin vào khả năng tự quyết định của mình. Những ý tưởng độc đáo luôn được cổ vũ trong suốt các năm tháng tai học đường. Chẳng hạn một bức tranh đẹp, nhưng giống với hình mẫu của thầy cô hay giống đám đông sẽ không được tuyên dương bằng một bức vẽ vụng về hơn nhưng có nội dung khác biệt. Người Mỹ không tìm kiếm “followers”, du toàn hảo. Họ thưởng thức những cá thể đặc biệt, nổi trội trong đám đông.

Những đề tài viết văn trong suốt chương trình trung, tiểu cho đến đại học cũng luôn cho người viết một cái khung rất rộng cho chính kiến và nhận định cá nhân. Không có vấn đề “phải” hay “trái” trong các quan điểm cho bài văn. Cho dù đề tài là một câu nói của một danh nhân hay một lề luật của chính phủ, học sinh đều có quyền chọn quan điểm riêng, tán đồng hay bất đồng, miễn là phân tích rõ ràng, dẫn chứng và có thí dụ đầy đủ bảo vệ cho quan điểm của mình.. Điểm chấm sẽ dựa trên cách diễn giải trình bày bổ sung cho ý chính, chứ không màng là ý chính đó có tương đồng với chính kiến của người chấm hay không. Một bài văn, không cần lời chải chuốt; văn giản dị dễ hiểu với ý tưởng độc đáo sẽ được điểm cao. Người Mỹ rất ưa... “của lạ”. Trong tôn chỉ này, học sinh và sinh viên chính là đang thực tập tư tưởng, tinh thần tự do và độc lập.

Các bậc cha mẹ Mỹ cũng rất tôn trọng sự độc lập của con cái. Sau khi tốt nghiệp Trung học, công dân Mỹ được luật che chở có toàn quyền quyết định cho lối sống của mình. Thanh niên có thể chọn đi làm, học nghề, tiếp tục đại học và bố mẹ thường có ảnh hưởng rất ít. Đặc biệt trong hôn nhân, phụ huynh thường đứng ngoài sự quyết định của con mình. Một người bạn cùng sở đã tâm sự, bà không thích người bạn gái của con trai, than phiền những khuyết điểm này khác của cô gái. Nhưng khi được hỏi sao bà không bày tỏ với cậu con thì bà lắc đầu quầy quậy nói bà không muốn cậu con trách móc mình sau này về việc cưới cô gái hay không cưới cô gái. Người viết đã rất ngạc nhiên về lối suy nghĩ này. Và đó là một bà mẹ điển hình Mỹ chứ không phải trường hợp cá biệt. Ngược lại, cha mẹ Việt Nam, thường thích con lập gia đình với người đồng ngôn ngữ, chủng tộc. Qua gia đình những người bạn Mỹ quen biết, tôi thấy họ không hề có vấn đề trong việc người nhà chọn người phối ngẫu khác chủng tộc. Ngược lại, họ còn có vẻ thích thú với một cô dâu hay chú rể đến từ một văn hóa, tập quán khác.

Khi về già, người Mỹ cũng được chính phủ Mỹ bảo vệ cho quyền độc lập, không phải lệ thuộc vào con cái. Những người khá giả, có tiền hưu bổng cao, có tiêu chuẩn riêng. Những người già nghèo sống bằng tiền trợ cấp chính phủ, còn được chính phủ thuê nhân viên chăm sóc khi yếu bệnh, không tự chăm sóc được nữa. Với luật pháp, con dù giầu có, không có nhiệm vụ phải chu cấp cho bố mẹ. Và nếu ngay cả khi con cái phải chăm sóc cho bố mẹ già yếu, chính phủ Mỹ cũng vẫn trả lương, chứ không thể tính vào “bổn phận làm con”.

Tóm lại, chỉ riêng về các tôn chỉ “độc lập” này, người viết đã cảm thấy rất ngưỡng mộ nước Mỹ. Tôi tin rằng: “Những cá thể độc lập tạo nên một quốc gia độc lập.” Những người Mỹ quả có được đào luyện để có lối suy nghĩ riêng, không nhìn quanh, ăn theo, nói leo trở thành những con người có óc phán đoán, làm những quyết định tốt nhất cho bản thân. Từ đó, theo tính số nhân, tập hợp gia đình, công ty, xã hội, sẽ là những tập hợp của những người với khả năng làm những lựa chọn tốt nhất cho tổ chức của mình.

Dân chủ là gì, nếu không là mọi người dân biết rõ họ muốn gì, thích gì, có óc phán đoán độc lập, không có thói quen phải trông chừng chung quanh hay sợ bị phê bình là ... “Người gì mà hổng giống ai!”

Cá thể có lối suy nghĩ độc lập, không bị ảnh hưởng thành kiến, khuôn mẫu.
Nguồn: lavistachurchofchrist.org
Nếu so sánh về tính độc lập của người Mỹ, văn hóa, lề lối con người Việt Nam của chúng ta cần học hỏi rất nhiều. Tôi thường tự hỏi chương trình giáo dục của Việt Nam có được cải tiến về phương hướng “độc lập” này không? Xin nhường câu trả lời cho các nhà giáo dục của Việt Nam (trong tương lai, chứ hiện tại thì không dám đặt kỳ vọng). Khi câu nói – “Ai thì có thể sai chứ bác Mao và bác Stalin thì không thể sai được.” – của một lãnh tụ nổi tiếng, mà trên lý thuyết, cả nước vẫn noi theo và học tập tư tưởng, thì có thể tưởng ra sự độc lập của nước nhà vào mức độ nào.

Tôi mong rằng thế hệ mới của Việt Nam, nền văn hóa, giáo dục mới của Việt Nam sẽ được thay đổi, đào tạo ra những cá thể có lối suy nghĩ độc lập, không bị ảnh hưởng thành kiến, khuôn mẫu. Muốn được như vậy, phải bắt đầu từ ... baby, và cần phải có chủ trương, chính sách của chính phủ trợ giúp.

Tuy cổ vũ cho tính độc lập, nhưng tôi biết có một tổ chức không thể độc lập, đứng một mình được. Đó là DCVOnline, tờ báo thân yêu của chúng ta. Nó phải “dựa” vào những đóng góp của bạn đọc về mọi mặt: tình, tiền và tư tưởng. Phải không các bạn đọc thân mến?

No139: Bạch hóa huyền thoại về đảng cộng sản VN

Từ khi thành lập, đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo ra nhiều huyền thoại về vai trò lãnh đạo của Bộ Chính Trị và khả năng của đảng viên để vận dụng sức mạnh dân tộc hầu phục vụ cho cộng sản quốc tế và duy trì độc quyền thống trị.

Đảng Cộng sản Việt Nam thường rêu rao là nơi qui tụ tinh hoa dân tộc. Nhưng, đa số đảng viên cộng sản Việt Nam xuất thân từ nông dân, người nghèo ở thành thị và cặn bã xã hội (tức vô sản lưu manh) nên mang bản chất cơ hội, theo đuôi. Năm 1931, Đệ tam Quốc tế nhận xét “thành phần xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam rất xấu nên sinh nhiều phần tử cơ hội”.

Vì thế, đảng đã chọn Đỗ Mười, xuất thân nghề hoạn lợn còn mắc bệnh thần kinh làm Tổng Bí thư và hiện nay vẫn đầy quyền uy trong vai trò cố vấn. Cố Trưởng ban tổ chức trung ương Lê Đức Thọ, hành nghề móc túi ở Hà Nội bị nhà đương cục bỏ tù, từng hét ra lửa cho tới lúc lìa trần. Cựu chủ tịch Nhà nước Lê Đức Anh, xuất thân cai phu đồn điền, từng bạo hành nhiều công nhân và có một đảng tịch mờ ám, tiếp tục tác oai tác quái ở cương vị cố vấn. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn với trình độ tiểu học, được coi như lý thuyết gia “xây dựng chế độ làm chủ tập thể”, vốn sao lục từ “tư tưởng chủ thể -juche” của Kim Nhật Thành, lãnh tụ Bắc Triều Tiên.

Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có khả năng sao chép nguyên văn một cách giáo điều, thô thiễn, cuồng tín từ các mô hình của Liên Xô hoặc Trung Quốc tùy theo Bộ Chính trị nghiêng về phía nào. Tư duy của Tập đoàn Hà Nội bị khúc xạ qua Josef Stalin và Mao Trạch Đông nên tác hại bội phần so với nguồn gốc. Suốt 40 năm, kể từ 1951, tư tưởng Mao Trạch Đông được đưa vào Cương lĩnh làm kim chỉ nam chứng tỏ đảng Cộng sản Việt Nam chưa hề làm chủ bất cứ hệ tư tưởng nào.

Hồ Chí Minh và đồ đệ đã không thấu hiểu xu thế giải thực toàn cầu đã xuất hiện trên chính trường quốc tế và được áp dụng liên tục. Năm 1919 tại diễn đàn Hội Quốc Liên, Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã đề xướng quyền Dân Tộc Tự Quyết để khuyến cáo các đế quốc Tây Phương từng bước trả lại sự tự trị và độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Năm 1935, Hoa Kỳ trao quyền tự trị cho Phi Luật Tân. Năm 1936, Pháp cho Syria và Lybia tự trị. Việc trao trả độc lập bị tạm ngưng vì trận Đệ nhị Thế chiến.

Tại Châu Á, có 14 nước nằm trong tình trạng giám hộ, bảo hộ, thuộc địa của Thực dân da trắng thì 9 quốc gia đã được độc lập từ 1 đến 4 năm sau một thời gian chuẩn bị chuyển quyền trong hòa bình như Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp đã độc lập năm 1946; Ấn Độ và Đại Hồi (bao gồm Pakistan và Bangladesh ngày nay) thuộc Anh đã độc lập năm 1947; Miến Điện, Tích Lan thuộc Anh đã độc lập năm 1948; Nam Dương thuộc Hòa Lan đã độc lập năm 1949. Việt, Miên, Lào dưới cây gậy chỉ huy của đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thoát khỏi chiến tranh vào năm 1975.

Tập đoàn cộng sản Việt Nam vẫn miệt mài chém giết dưới chiêu bài giải phóng dân tộc nên bác bỏ Hiệp định Élysée năm 1949 được Quốc trưởng Bảo Đại và Tổng thống Pháp, Vincent Auriol ký kết công nhận chủ quyền toàn vẹn và thống nhất của Quốc gia Việt Nam. Nếu biết nương theo giải pháp này, hai bên Quốc-Cộng có nhiều triển vọng thảo luận với Pháp nhằm chấm dứt chiến cuộc nhanh và ít tốn xương máu hơn. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận viện trợ của Bắc Kinh lẫn Mạc Tư Khoa và sử dụng chuyên chính vô sản để huy động dân tộc làm lá chắn phía Nam khi Mao Trạch Đông chiếm toàn bộ Hoa Lục; xua quân sang Cambodia trên đường Nam tiến của Liên Xô mà không đủ trí tuệ phán đoán hoặc cố tình giả mù hầu thi hành chiến lược bành trướng của Cộng sản Quốc tế.

Trong tác phẩm “Trung Quốc và các cuộc chiến của Việt Nam, 1950-1975”, Qiang Zhai, giáo sư lịch sử thuộc Auburn University Montgomery cho rằng sau khi làm chủ toàn bộ Hoa Lục vào năm 1949, Mao Trạch Đông tìm cách bảo vệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ba hướng: Triều Tiên, Đài Loan và Đông Dương nên thúc đẩy Việt Minh mở các chiến dịch Biên Giới và Tây Bắc để vừa đẩy Pháp khỏi địa bàn biên giới Trung-Việt, đồng thời, truy quét tàn quân của Tưởng Giới Thạch.

Theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đoàn cố vấn quân sự do Vị Quốc Thanh cầm đầu sang Việt Nam năm 1950 và đoàn cố vấn chính trị do Lã Quí Ba lãnh đạo đến Việt Nam năm 1951. Tướng Trần Canh trực tiếp chỉ huy chiến dịch Biên Giới năm 1950. Vị Quốc Thanh tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến Đông Dương I cho tới khi kết thúc trận Điện Biên Phủ. Cố vấn Trung Quốc quyết định các chiến dịch Rèn cán chỉnh quân và Cải cách ruộng đất.

Hồi ký “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của tướng Võ Nguyên Giáp chỉ mô tả vai trò thực hiện của Quân đội Nhân dân trong khi phần chỉ đạo chiến lược, chiến thuật do phía Trung Quốc quyết định.

Năm 1950, Võ Nguyên Giáp xác định điều kiện chín muồi nên mở cuộc tổng tiến công vùng đồng bằng sông Hồng với chiến thuật biển người, nhưng thảm bại tại Vĩnh Yên vào tháng 1, Mạo Khê tháng 3 và Phủ Lý tháng 5-1951.

Năm 1953, Võ Nguyên Giáp phải bỏ ý định tấn công đồng bằng sông Hồng một lần nữa để theo kế hoạch mở chiến dịch Tây Bắc của cố vấn Trung Quốc sau khi được Vi Quốc Thanh trao cho kế hoạch bình định của Henri Navarre, Tổng tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương.

Tổng Bí thư Lê Duẩn ngã hẳn về Bắc Kinh bằng cách ký Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương với Liên Xô và gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế năm 1978 để thực hiện cuộc Nam tiến của Đệ tam Quốc tế. Hà Nội xuất cảng mặt hàng “lao nô” sang Liên Xô và Đông Âu cho tới khi thành trì chủ nghĩa cộng sản bị sụp đổ.

Việt Nam đưa quân vào Cambodia nên bị Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc và Hoa Kỳ cùng các quốc gia Đông Nam Á, ASEAN yểm trợ tích cực cuộc kháng chiến của dân tộc Cao Miên gây thiệt hại nặng nề buộc Hà Nội phải rút quân sau 10 năm chiếm đóng. Chủ trương giải phóng bằng bạo lực cách mạng của đảng Cộng sản chẳng những cuốn dân tộc vào cơn lốc xung đột quốc tế thời Chiến Tranh Lạnh mà còn tạo ra cảnh nồi da nấu thịt tác hại vô lường đối với tiềm năng của Tổ Quốc.

Nơi nào Cộng sản đến, dân chúng bỏ đi ngoại trừ trường hợp thiếu điều kiện. Năm 1954, khoảng 2/20 triệu dân miền Bắc bỏ lũy tre làng, ba mươi sáu phố phường khi phân nửa nước tràn ngập màu cờ máu để xây dựng đời sống tự do tại miền Nam vĩ tuyến 17. Khi Việt Nam được “hoàn toàn giải phóng” thì gần 2/60 triệu người đánh đu với tử thần để thoát khỏi chế độ cộng sản. Làn sóng chạy trốn sự thống trị của cộng sản vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức khác nhau, kể cả bán thân cho ngoại nhân.

Đảng Cộng sản tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp để xóa bỏ chế độ người bóc lột người lại tạo ra một xã hội mà đa số bị trấn lột triệt để về tư duy, về tài sản, về tự do, về hạnh phúc. Chủ trương lấy bạo lực làm phương tiện đấu tranh duy nhất đã tạo nên môi trường hận thù tuyệt đối khiến cho mục đích công bằng, bình đẳng, hạnh phúc, văn minh trở thành những khẩu hiệu trống rỗng, khuôn sáo mà đến nay đảng Cộng sản vẫn chưa nhìn ra sự mâu thuẫn tất yếu đó.

Nhân danh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, đảng viên cộng sản thẳng tay hành hạ, giết hại nông dân, trí thức, tư sản, để đạt chỉ tiêu trong các chiến dịch xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực; nhóm trí thức thiên tả ở Huế bộc lộ tâm lý cuồng sát trong hành động trả thù điên cuồng trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Sau 30 năm hòa bình, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tài nguyên thiên nhiên tương đối dồi dào mà vẫn nằm trong danh sách các nước nghèo. Với ngần ấy thời gian, Đại Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba đã biến thành rồng, thành hổ.

Trưởng đại diện Quĩ Tiền tệ quốc tế, IMF tại Hà Nội, Il Houng Lee nhận định với báo Tuổi Trẻ 27-03-06 Việt Nam (với GDP 535 USD) có thể phải mất tới 197 năm để đuổi kịp mức của Tân Gia Ba (với GDP 24.740 USD) nếu hai nước cùng giữ mức tăng trưởng như hiện nay. Cũng thế, cần 25 năm Việt Nam mới đuổi kịp Thái Lan hiện thời. Trí tuệ của đảng Cộng sản vẫn chưa thừa nhận khả năng lãnh đạo yếu kém.

Hôm 02-04-06, Bộ Tài chính cho biết tổng số nợ nước ngoài khoảng 20 tỉ mỹ kim và trong giai đoạn 2006-10, Việt Nam phải trả nước ngoài 10-11 tỉ USD, tức là 2 tỉ mỗi năm tương đương với số viện trợ phát triển chính thức, ODA được giải ngân.

Năm 1979, Hà Nội bí mật cho Mạc Tư Khoa sử dụng hải cảng Cam Ranh không trả tiền cho tới năm 2004. Năm 2001, Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nga, Vladimir Putin thị sát Cam Ranh và thấy không cần cho nhu cầu quân sự nên hoàn trả cho Việt Nam.

Năm 1958, Cộng sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông (còn gọi là Biển Nam Hải) tạo điều kiện hợp pháp cho Trung Quốc chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số vị trí trong quần đảo Trường Sa vào năm 1988.

Năm 1999 và năm 2000, Chính quyền Hà Nội đã ký Hiệp định phân định biên giới Việt-Trung và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ một cách mờ ám có thể vì mục đích cắt đất cầu thân. Bắc Kinh có nhiều điều kiện pháp lý để hợp tác khai thác tài nguyên trên Biển Đông. Cuối năm 2005, Hà Nội bắn tiếng sẽ cho Bắc Kinh “thuê” hải cảng Cam Ranh, một lợi thế quan trọng nhất về quân sự và kinh tế trong vùng.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn lầm chủ nghĩa marx-lenin và tư tưởng mao trạch đông mà khi chủ nghĩa này bị phá sản trên bình diện toàn cầu cũng chưa nhận ra khuyết tật khiến người ta phải đặt nghi vấn về trí tuệ của Tập đoàn lãnh đạo Hà Nội.

Khiếm khuyết về tri thức, di truyền về bản chất cơ hội đã khiến cho đảng Cộng sản ngày càng bộc lộ thêm nhiều tật xấu như tàn ác, gian trá, tham lam vô độ. Bộ Đào tạo và Giáo dục khám phá 6.870 văn bằng giả trong số 1,2 triệu văn bằng bị kiểm tra vào năm 2002 đã biểu thị sự suy thoái nhân cách trong giới trí thức xã hội chủ nghĩa. Tình trạng bằng giả trong tầng lớp Tiến sĩ rất phổ biến tại Việt Nam. Báo Tiền Phong 24-08-05 viết “trong số 13.500 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học của Việt Nam chỉ có khoảng 500 người (3,7%) có sản phẩm được quốc tế ghi nhận”.

Trí tuệ trong đảng Cộng sản Việt Nam bị thui chột do sao chép cuồng tín. Sử dụng bạo lực tuyệt đối chỉ gây đổ vỡ và nuôi dưỡng hận thù. Dân Việt tự giải phóng khỏi ách cai trị thể xác của Thực dân Pháp lại bị đảng Cộng sản quàn lên chiếc vòng “nô lệ kép” cả tư tưởng lẫn thể xác. Cộng sản Việt Nam hô hào chống lại chủ nghĩa tư bản suốt hơn 40 năm lại chạy theo đuôi các chế độ tư bản tép riu. Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên xưng tinh thần yêu nước, thương dân, nhưng bán nước buôn dân một cách “vô tư”.

Công và tội của đảng Cộng sản Việt Nam đã được cựu Ủy viên trung ương Hoàng Tùng đúc kết “Công của Đảng, có chăng chỉ bằng một phần mười cái tội của Đảng mà thôi. Mà trong một phần mười cái gọi là công đó thì chủ yếu là nhờ dựa vào sức mạnh và trí tuệ của nhân dân”. Đại Dương
@Vietnamdaily


Thế này là thế nào…

Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Làm xịt lốp xe – đinh rải đầy đường xá
Giữa phố đông người rạch mặt người
Khách tàu hoả tha hồ ăn đá

Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Các cô gái ra đường mông phải độn các-tông
Sợ những mũi kim tiêm cắm phập
Kim bết si đa đâu phải vô trùng

Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Đến cục cứt cũng là cứt rởm
Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra
Người ta luyện đất sét giống cứt người ghê gớm

Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Trò giữa lớp phang Thày, con nện Cha trước bàn thờ tổ
Thịt lợn quay bôi véc ni đỏ lự
Foóc-môn ngâm xác người pha bánh phở cho ngon

Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Xương trâu bò thế xương liệt sĩ
Trâu bò lên ngôi “Tổ quốc ghi công”
Được toàn dân dâng hoa, quỳ bài bái lễ

Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Vua xuất xứ từ một anh hoạn lợn
Diễn văn eng éc tiếng lợn kêu
Đất nước tàn tạ xót xa
Triều đình cắn xé thối tha
Vua vẫy tai nhởn nhơ, hếch mũi lên hơn hớn
Thời buổi thế này là thế nào hả giời