วันอาทิตย์ที่ 2 พฤศจิกายน พ.ศ. 2551

No19:Chủ nghĩa quốc gia - Chủ nghĩa cộng sản

1. Ý nghĩa khác biệt trong chủ nghĩa quốc gia

Khi Đệ Nhị Thế chiên chấm dứt, thì chủ nghĩa quốc gia bị xét lại tại Đức Quốc. Ngay đến thời điểm hôm nay, năm 2008, người Đức vẫn còn rất ái ngại với Chủ nghĩa quốc gia. Ngay cả việc cầm cờ Đức, và chào quốc kỳ Đức không đúng lúc, đúng thời, đúng nơi, cũng có thể bị coi là thành phẩn chủ nghĩa quốc gia cực đoan, chủ nghĩa Phát xít Hitler. Chủ nghĩa Phát Xít là Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia (Nationalsozialismus). Ai không thận trọng nêu cao chủ nghĩa Quốc gia tại đây, họ cần phải được xét lại.

Thí dụ: Nếu một nhóm thanh thiếu niên chào quốc kỳ, luôn treo cờ trước nhà, không nhằm vào dịp đấu banh quốc tế, thì dễ bị tình nghi là có chủ trương bài ngoại.

Có sự kiện mới xẩy ra trong xứ đạo chúng tôi phục vụ: Một thanh niên khoảng 22 tuổi, rất sùng đạo, siêng năng đọc kinh, xem lễ hằng ngày, và xưng tội rước lễ thường xuyên. Chỉ vì, anh ta đưa ra một vài tư tưởng yêu quê hương, phải cầu nguyện cho quê hương, thì bị ban thanh niên Quản Hạt cho rằng, anh ta thuộc khuynh hướng theo chiều hướng quốc gia qúa khích.

Chúng tôi đã tranh cãi cho anh ta, và chúng tôi đưa ra nhận xét; Anh ta hoàn toàn không có tư tưởng kỳ thị chủng tộc. Nhờ sự minh thị của chúng tôi, anh ta được phép tiếp tục sinh hoạt trong đoàn thể thanh thiếu niên trong xứ đạo.

Chúng tôi thường có dịp thăm Mỹ Quốc. Có những khu vực, người Mỹ treo cờ trước nhà, từng khu từng vùng, trông như những ngày lễ hội. Họ treo cờ suất năm tháng. Theo chúng tôi biết, chủ nghĩa quốc gia tại Mỹ, biểu dương cho Tự Do, Dân Chủ. Nhưng nếu tại Đức, người nào treo cờ trước nhà, có lẽ họ sẽ bị thiên hạ dòm ngó và chắc chắn sẽ có lời ra tiếng vào. Treo cờ Đức không vào trong những dịp lễ, có thể bị cho là thành phần Skin heat (đầu trọc).

Chủ nghĩa Quốc gia tại Đức dễ bị đồng hoá với Chủ nghĩa Phát xít, và đồng nghĩa với chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Và đồng thời đợm mầu sắc chủ nghĩa dân tộc chủ tính, có nghĩa, dân tộc thuộc giai cấp thống trị nhân loại!

Người Việt quốc gia, khi đề cao tinh thần quốc gia và dương cao ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, thì họ biểu dương cho công cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do, dân chủ nhân quyền cho con người. Chủ nghĩa người Việt quốc gia là công cuộc đấu tranh đòi hỏi nhân quyền dân chủ tự do, thiếp lập một thể chế dân chủ pháp trị đa nguyên, phi cộng sản.

Trong thời nội chiến huynh tàn (1960-1975), chủ nghĩa quốc gia là chủ thuyết chống Cộng Sản, là chủ nghĩa bảo vệ giang sơn, chủ thuyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ thuyết bảo vệ quyền lợi con người.

Tại hải ngoại, chủ thuyết quốc gia luôn tiếp tục được đề cao, đưa ra làn ranh Quốc gia Cộng sản. Chủ thuyết này kêu gọi mọi tầng lớp, trong nước cũng như hải ngoại, những người yêu chuộng Công Lý, yêu chuộng lẽ phải, yêu chuộng sự thật, yêu nhân phẩm và chuộng nhân quyền, hãy đứng lên đòi lại những quyền này đã bị Cộng Sản cướp đoạt! Và hiện nay, chủ nghĩa quốc gia Việt Nam được gọi là chủ thuyết chống cộng, với mục đích nhằm đưa lại thể Chế Chính Trị Dân Chủ Nhân Bản thật sự cho dân tộc Việt Nam, với trên dưới 85 triệu dân.

2. Ý nghĩa chủ nghĩa Cộng sản

a)- Chủ nghĩa Cộng sản là một chủ nghĩa quốc tế, đồng thuận trên chủ thuyết và đồng nhất trong thực hành. Phương tiện chủ nghĩa Cộng sản là bạo lực, với chiêu bài thế giới đại đồng, mọi người như nhau, cùng chung chăn, chung chiếu, chung gường, không có giai cấp giầu nghèo. Hình ảnh một xã hội không phân biệt giai cấp chúng ta đã chứng kiến tại Trung Cộng, Bắc hàn, Bắc Việt trước 75, khi hầu hết mọi người đều mặc y phục mầu xanh: Công nhân đi làm công sở, người dân đi cầy xuống ruộng, học sinh cắp sách đến trường, đâu đâu cũng cùng mầu cùng áo, cùng quần. Chứng tỏ một xã hội không giai cấp. (Trên lý thuyết!)

b)- Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa đại đồng: Đảng viên Cộng sản tại Đông Âu, đảng viên Cộng sản Việt Nam, đều phục quyền đảng Cộng sản quốc tế, thuộc về đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Cộng. Đảng viên Cộng sản Đông Âu thì lệ thuộc vào đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng viên Cộng Sản Việt Nam thì lệ thuộc cả hai, Liên Xô và Trung Cộng.

Khi nói đến một Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, (hiện nay là Nông Đức Mạnh), trong cấu trúc của Chủ nghĩa Cộng Sản thế giới, thì đảng Cộng sản tại Việt Nam, chỉ là một phân khu của Đảng Cộng Sản quốc tế. Vì thế, sự quyết định của đảng CSVN, chỉ là một dạm thảo. Quyết định phủ quyết còn phải được đệ trình lên đảng Cộng sản quốc tế. Cộng sản Việt nam, thì hiện nay, phải đệ trình lên đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đảng CSVN tay sai quốc tế!

Chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam là chủ nghĩa với chiêu bài giải phóng dân tộc. Nhưng sau cuộc chiến thương tàn vừa qua, toàn dân đã nhìn thấy rõ bộ mặt bán nước của chủ nghĩa Cộng sản.

c)- Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa làm tay sai cho chủ nghĩa quốc tế, và là chủ nghĩa bán nước hại dân, chủ thuyết ngoại lai.

Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam đồng nhất với mọi chủ thuyết Cộng sản trên thế giới: Một chủ thuyết chính trị độc tài chuyên chính, chủ thuyết bài thị người dân cùng chủng tộc, chủ thuyết bóc lột, chủ thuyết cướp phá, chủ thuyết bội phản. Nói chung, Chủ Thuyết Cộng Sản là một chủ thuyết phản mọi nhân vị con người, một chủ thuyết đàn áp khủng bố chính dân tộc. Chúng chỉ phục vụ cho một nhóm người ích kỷ trục lợi cá nhân. Họ sẵn sàng bán nước hại dân, để mưu cầu danh lợi. Đây là chủ thuyết cực kỳ nguy hại cho sự tồn vong của cả một dân tộc, trên mọi mặt: kinh tế, quân sự và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ai bảo vệ người dân trong tổ quốc mình, khi Công an là dụng cụ của đảng, khi chánh án là đảng viên Cộng sản, khi quan tòa thuộc nhà nước của Cộng sản, và khi nhà nước gầy dựng bởi bạo lực quốc tế Cộng sản? Ai sẽ là người bảo vệ người dân?

d)- Chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam, cũng giống mọi chủ thuyết Cộng sản trên thế giới. Chỉ lý tưởng trên lý thuyết, nhưng hoàn toàn dối trá gian xảo trong thực hành. Chủ thuyết Cộng Sản đưa ra lý thuyết đấu tranh giai cấp, chống tư bản mại sản. Nhưng khi đảng Cộng sản dành được quyền hành trong tay, thì chính chúng lại là người bảo vệ giai cấp thống trị và giai cấp cán bộ tư bản, chúng ta gọi là giai cấp tư bản đỏ. Biến quyền lực làm giầu. Hoàn toàn lương lẹo! Chủ nghĩa Cộng sản bình thường hóa giả dối! Sự bình thường hóa gian dối trở thành đạo đức chủ nghĩa này. Vì thế, không lưu manh gian dối không là Cộng sản!

e)- Chủ nghĩa Cộng sản là chủ thuyết mị dân! Nói một đàng, làm một nẻo! Chính vì hành vi gian dối này, chủ thuyết Cộng sản tạo ra sự nghi kị và bất cẩn giữa con người với con người, bất tín giữa họ hàng bạn bè với nhau, trong cùng một xã hội.

Một khi hình thức bầu cử là hình thức lừa bịp người dân, thì chính hình thức lừa bịp giả dối này tạo ra trong toàn xã hội một guồng máy gian dối, từ trên xuống dưới. Nếu trên đã gian xảo như vậy, thì dưới cũng sẽ tạo ra những trò gian lận lường gạt dân ra sao?! Chủ nghĩa Cộng sản là “thượng bất chính”, tạo ra trong xã hội hoàn cảnh “hạ tất loạn”!

Chủ nghĩa Cộng Sản được xây dựng guồng máy chính trị trong lừa dối, thì chính guồng máy này, phải đối đầu với mọi thử thách gian lận của chính những đảng viên Cộng sản, trong cùng một guồng máy lương lẹo ba xạo gây ra. Xây dựng trong gian dối thì phải sống trong gian dối! Xây dựng trong gian dối sẽ phải gặt hái trong hậu qủa gian dối!

f)- Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế, là chủ nghĩa xâm chiếm. Không ngạc nhiên, khi chính người Cộng sản ký những hiệp định Genever năm 1954, hiệp định chia đôi đất nước, và hiệp định Paris 1973, tôn trọng vùng đất khác biệt giữa quốc gia và Cộng Sản, tôn trọng làn ranh Quốc gia Cộng sản. Họ đã nuốt lời ký kết để xâm chiếm, giết hại chính đồng bào của mình, với chiêu bài giải phóng! Chúng ta còn nhớ năm 1977-78, khi Cộng sản xua quân chiếm Kam-bu-chia. Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa xâm chiếm ngoại xâm, do Cộng sản quốc tế chỉ đạo.

g)- Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa ngu dân và đói dân. Cứ nhìn qua những nước Cộng sản Đông Âu, Cu Ba, Bắc Hàn, Trung Cộng!

Không phải người Hàn quốc ngu, không phải người Đức đần độn, nhưng nếu chia dân tộc thuần chủng Đức Quốc, cùng tiếng nói mầu da, cùng phong tục tạp quán…, qua bức tường; phân chia người Hàn Quốc ra hai ranh giới, một bên theo chủ nghĩa Dân chủ tự do, bên kia Chủ nghĩa Cộng sản làm nền tảng triết lý duy nhất. Chúng ta đã nhìn ra sự khác biệt rất xa trên bình diện kinh tế, tự do và nhân phẩm con người.

Nền kinh tế phát triển khác biệt xa, khi nước Đức thống nhất năm 1990. Xe Trabi chế tạo Đông Đức phải được đưa vào viện bảo tàng, vì xe chạy qúa chậm trên xa-lộ sẽ cản trở lưu thông. Chủ nghĩa Cộng sản độc quyền chính trị, đồng thời cũng độc quyền ngôn luận báo chí truyền thanh truyền hình. Bất cứ cái gì, dù nói bóng bảy, nói dài đến đâu, mà độc quyền, thì bao giờ cũng sẽ dẫn đến tình trạng truyên truyền độc ngộ một chiều. Đó là chính sách ngu dân của chủ nghĩa Cộng sản, khi tìm mọi cách xuyên tạc, cắt xén, đàn áp và bắt bớ mọi tiếng nói trung thực, tiếng nói của lẽ phải của sự thật, tiếng nói của Công bằng Bác ái.

Ai bảo vệ cho Công lý và sự thật? Ai sẽ là nhân chứng cho sự thật? Không nhẽ VẸM bênh vực đấu tranh cho Công lý và sự thật? Nghịch lý, nghịch nhĩ!

Cũng chính vì mất đi tiếng nói này, mọi người dân trong nước bị chủ nghĩa Cộng Sản đầu độc, suy luận một chiều và đưa ra tính suy luận tương đối! (Nước ta nghèo, nhưng nước Mỹ cũng có người nghèo. Nước ta có tham nhũng hối lộ, nước Đức, nước Pháp… cũng có tham nhũng hối lộ. Lý luận theo chủ thuyết tương đối!)

h)- Chủ nghĩa Cộng sản ngu dân hóa trong mục đích dễ cai trị dân. Thà dân ngu, hơn để đảng mất quyền! Thà dân đói, hơn đề đảng nghèo! Thà dân mất hết quyền, hơn để đảng mất lợi! Đó là những chiêu thức, những chương trình cai trị dài hạn, do Chủ thuyết Cộng Sản chủ trương đưa ra.

Nói chung, Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa không tưởng trên lý thuyết. Nhưng đồng thời, nó lại là chủ thuyết làm băng hoại mọi tầng lớp xã hội. Từ cái không tưởng trong lý thuyết, nó phải gian dối và gian manh lường gạt trong mọi lãnh vực. Để chủ nghĩa tồn tại, chúng phải dùng bạo lực và khủng bố và đồng thời phải để cho dân ngu, dân đói, dân nghèo, dân lầm than, mới cai trị được!

3. Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt: Nói ngay, nói thẳng và nói thật!

a)- Chúng ta xấu hổ là người Việt Nam, vì chưng dân tộc Việt Nam chúng ta đang bị một nhóm tập đoàn CS Mafia cai trị, với mọi hình thức chiêu bài mà chủ thuyết này có và đang áp dụng trên quê hương thân yêu Việt Nam. (Chúng tôi đã dẫn chứng ở trên!)

Là người Việt, chúng ta xấu hổ, vì dân tộc chúng ta đang bị nghèo đói hóa, gian dối hóa, đồi trụy hóa và vô đạo đức hoá, do Cộng sản gây ra. Xã Hội Việt Nam đang trên đường xuống dốc như xe không phanh, trong mọi lãnh vực: tôn giáo, văn hóa xã hội, giáo dục, kinh tế y khoa…

Đối với chúng tôi: Khi người dân oan, giáo oan, và tu sĩ oan gióng lên tiếng nói của sự thật, bênh vực cho sự thật, làm chứng cho sự thật là họ đang yêu chuộng chủ nghĩa quốc gia thật sự.

b)- Là người Việt Nam chúng ta xấu hổ, khi thấy bạo quyền ra tay đàn áp đồng bào vô tội, lập ra những toà án rừng rú, những kiểu toà án nhân dân phiên chợ, quán Càffê, nhằm xử án những chiến sĩ Dân chủ Hoà Bình anh dũng. Xấu hổ nhìn thấy người Cộng sản Việt Gian đang bóp nghẹt những tiếng nói của lương tâm, tiếng nói trung thực của lẻ phải, của sự thật, của sự công bằng.

Là người Việt Nam, chúng ta xấu hổ khi kinh tế đang rơi vào ngõ cụt, người dân đói kém cùng khổ. Xấu hổ, vì bạo quyền Cộng sản vẫn còn tuyên truyền biện hộ cho những hành vi điên rồ và những hành động lưu manh côn đồ cướp phá của chúng. Xấu hổ cho dân tộc đang đau thương quằn quại dưới sự cai trị độc tài gian manh của chế độ vô thần ngoại lai Hán Ngụy.

Là người Việt chúng ta xấu hổ, vì chính những cán bộ, và con em cán bộ Cộng sản đã và đang chuyển tiền ra hải ngoại, rửa tiền ăn cướp và rửa tiền tham những hối lộ. Chính họ sẽ là những kẻ chạy trốn khỏi Việt Nam, khi dân tộc Việt nam chúng ta thật sự có dân chủ tự do thật sự.

Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã nói ngay, nói thẳng, nói thật, nói vào mặt những kẻ gian manh rằng, chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa hại dân, hại nước. Chúng tôi xấu hổ thế đấy, còn các anh hãnh diện với những mưu mô qủy quyệt, đưa cả dân tộc suy tồn và diệt vong ư?!

Cái dũng của kẽ sĩ là nói ngay, nói thẳng, nói thật! Nói có “mất lòng” người nghe, nhưng chắc chắn sẽ “dã tật”! Nói cho họ nghe, nói cho họ hiểu, nói cho họ biết, nói cho họ suy nghĩ đâu là sự thật! Chưa nghe, chưa hiểu, chưa biết, thì nói nữa, nói dai nói dài nói mãi, nói lên tiếng nói của sự thật, tiếng nói của lương tâm! Sự thật là gì, lương tâm là gì!? Nói để người Cộng Sản không còn trốn lé được sự thật! Người CS sợ sự thật không?!

Xấu hổ qúa đi chứ, tại sao không?

4. Chủ Thuyết tự hào dân tộc, thay lời kết

a) Chủ nghĩa Quốc gia và chủ nghĩa Cộng sản

Chủ nghĩa Quốc gia (Nationalismus) khác với chủ nghĩa quốc gia xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialismus) của người Cộng Sản. Khi người quốc gia nói yêu nước, là họ nói đến sự yêu chuộng Tự do Dân chủ Nhân quyền thật sự. Khi họ yêu nước là họ muốn thật sự đem sự bình an, công bằng, ấm no hạnh phúc, thịnh vượng cho người dân, cho đồng bào.

Nhưng khi người Cộng sản nói yêu nước, là họ xuyên tạc, đồng hoá với tất cả những gì của chủ thuyết đó đưa lại: bạo lực, độc tài, tham nhũng, giả dối, lưu manh côn đồ, cướp phá, bán nước dâng biển cho ngoại bang. Vì người Cộng sản bắt toàn dân tộc yêu nước là phải yêu xã hội chủ nghĩa. Đó là chủ thuyết Quốc Gia Xã Hội Chủ Nghĩa (Nationalsozialismus) người Cộng Sản!

b)- Người Cộng Sản tự hào? Họ tự hào về cái gì?

Khi nói đến yêu nước, theo Chủ Nghĩa Quốc Gia hiện nay tại Việt Nam, là chúng ta nói đến yêu Chủ nghĩa xã hội. Họ yêu nước, đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa Cộng sản, yêu tất cả mọi tệ nạn gian manh bất nhân hung bạo chủ thuyết đưa ra. Vì thế, khi người Cộng sản đòi tự hào dân tộc, là họ đồng hóa toàn dân tộc trong gọng kìm kẹp độc tài độc đoán, độc tôn và độc ngôn của họ.

Là người Việt Nam, chúng ta hãnh diện yêu chủ nghĩa Cộng sản??? Thế Cộng Sản yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào quê hương?!! Hmmm!

Người Việt Cộng, Việt Gian Cộng Sản, những kẻ đánh đổi lương tâm làm tay sai cho Cộng sản quốc tế, hãnh diện, khi đất nước nghèo đói lâm nguy, họ vẫn vững tâm, vì tiền bạc đã nằm trong những Ngân Hàng Quốc Tế, họ đã mua nhà mua đất tại hải ngoại.

Người Cộng sản hãnh diện, họ sẽ là những người trốn khỏi đất nước, khi đất nước thật sự có tự do dân chủ. Sống chết mặc bay! Rồi đây, toàn thể dân tộc hãy làm chứng!!

Cộng sản hãnh diện là người Việt. Nhưng họ chuyển tiền hối lộ tham nhũng ra hải ngoại. Họ hãnh diện là nguời Việt, vì họ có đủ chiêu thức, có đủ thủ chiêu bần cùng hóa giòng giống dân Lạc Hồng hùng dũng anh kiệt.

c)- Người quốc gia xấu hổ. Họ xấu hổ về cái gì?

Hằng triêu đồng bào chúng ta trên toàn thế giới mang quốc tịch bản xứ, nơi họ cư trú. Họ tiếp nhận quốc tịch mới, nhưng họ không từ bỏ tinh thần quốc gia chống cộng, hầu mong đem lại bình an, tự do bình an ấm no hạnh phúc cho 85 triệu dân đồng bào thân yêu trong nước. Họ nhập quốc tịch sở tại, vì họ xấu hổ, không phải bị đồng hóa với chủ nghĩa Cộng sản. Họ xấu hổ phải đồng nhất với bản chất người Cộng sản. Họ nhập tịch mới để phản đối không chịu để người Cộng sản “cai trị” họ tại hải ngoại.

Họ đấu tranh chống cộng, để cầu mong đem lại ấm no thịnh vượng cho toàn dân. Nhưng đối với bản thân thì họ không cần, vì cuộc sống đầy đủ của họ tại hải ngoại. Họ đấu tranh cho ai?

Họ mang quốc tịch mới, nhưng không phản bội đồng bào trong nước. Còn những kẻ mạo danh yêu nước, lại chính là những kẻ ám hại đồng bào, bán đất bán biển cho ngoại xâm! Đó là hình thức “kiểu yêu nước thương nòi” của người Cộng Sản! Hậu qủa của chủ thuyết Cộng sản!

Người quốc gia chân chính mang quốc tịch Mỹ, Đức, Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Đa-mach, Na-uy, Canađa, Úc… nhưng họ đấu tranh đòi hỏi Công Lý và Hòa bình cho đồng bào trong nước. Họ đòi lẽ phải sự thật, đòi dân chủ nhân quyền cho toàn dân tộc Việt Nam.

Còn những người Cộng sản gian manh xảo trá hại dân hại nước, bán đất bán dân, họ hãnh diện những thành tích bất nhân của mình. Họ hãnh diện vì đang xỏ mũi được 85 triệu người dân. Họ hãnh diện vì đang lường gạt được người dân. Họ hãnh diện vì đang gian manh xảo trá cướp nhà cướp dất người dân, cướp của giáo hội. Họ hãnh diện vì cướp đất phá nhà phá cửa. Họ hãnh diện vì đang cho người dân ăn “cây leo” (leo cây).

Người tị nạn cộng sản xấu hổ mình là người Việt, nhưng họ vẫn cong lưng đi cầy tám tiếng mỗi ngày, nhịn ăn nhịn uống để giúp đồng bào anh em họ hàng trong nước. Họ xấu hổ là người Việt, nhưng họ cứu trợ đồng bào trong những lúc lụt lội đói kém, trong những cảnh màn trời chiếu đất, do chủ nghĩa Cộng sản bất nhân gây ra.

Người tị nạn cộng sản xấu hổ là người Việt, nên họ phải can đảm đứng lên, ăn cơm nhà vác ngà voi, hủy hỏ chế độ hút máu người dân của Chủ Nghĩa Cộng Sản! Họ phải đòi công lý, đòi tự do, đòi nhân phẩm nhân quyền đã và đang bị mất, bị tuớc đoạt vì chế độ vô nhân Cộng Sản. Đó là quyền CON NGƯỜI, chứ không phải quyền nhà nước CHO mà phải XIN!

Người yêu chuộng tự do, tôn trọng nhân phẩm con người xấu hổ là người Việt Nam, vì vậy, họ đang dấn thân chống lại chế độ lưu manh gian ác Cộng Sản.

Nhân dân, và toàn thể đồng bào trong nước, cũng như hải ngoại xấu hổ là người Việt, vì họ đang đau khổ phải nhìn cảnh tượng chế độ gian tà Cộng sản thống trị trên đất nước thân yêu Việt Nam.

Toàn dân tộc Việt Nam chỉ mới thật sự hãnh diện là người Việt, khi họ xua đuổi được chế độ hung thần Cộng sản biến khỏi trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Toàn thể nhân dân thật sự hãnh diện là người Việt, khi đồng bào được sống trong một thể chế nhân bản biết tôn trọng nhân phẩm nhân quyền và tự do của con người và của người dân.

Rồi đây, toàn dân tộc sẽ hãnh diện, khi thấy chủ nghĩa Cộng sản khuất bóng trên quê hương thân yêu Việt Nam của chúng ta. Sẽ là một đại hồng phúc cho dân tộc Việt Nam!

Cầu chúc toàn thể dân tộc Việt Nam mong chóng đạt được nguyện vọng giờ phút linh thiêng của lịch sử: Lịch sử Việt Nam thoát được ách Cộng sản gian manh độc tài vô thần!

วันเสาร์ที่ 1 พฤศจิกายน พ.ศ. 2551

No18:Thái Hà và Tòa Khâm Sứ: Lật qua một trang sử mới


Thái Hà và Tòa Khâm Sứ: Lật qua một trang sử mới

Sự kiện Tòa Giám mục Hà Nội và giáo xứ Thái Hà đòi lại hai mảnh đất đã được các tay tư bản đỏ phân lô để bán, lấy tiền bỏ túi có thể coi là tạm lắng xuống. Nay mặc dù giáo xứ Thái Hà và Tòa Giám mục Hà Nội đã mất hai mảnh đất ấy, nhưng cuộc tranh đấu này có công ngăn chặn được một vụ tham nhũng lớn, lột mặt nạ của một chính quyền khéo che đậy và giúp cho nhiều người dân bước ra khỏi màn đêm của sự sợ hãi trước bạo quyền của chế độ cộng sản.

Sau những gì xẩy ra, những người theo dõi biến cố này đã thấy được bộ mặt thật của chính quyền, đồng thời thấy được sự lúng túng của tập thể chính quyền Hà Nội, tưởng rằng mạnh mẽ lắm, nhưng qua cách hành xử của họ cho thấy chính quyền ấy quá bạc nhược đến nỗi đã phải sử dụng đến những trò chơi bẩn thỉu nhất để đối phó với một tập thể chẳng có súng ống, cảnh sát, quân đội và chó nghiệp vụ.

Thật vậy, công lý và sự thật sẽ không bao giờ hiện hữu trên quê hương Việt Nam nếu chúng ta – những người Việt Nam yêu chuộng tự do, hòa bình và sự thật – dừng lại ở đây. Cũng vậy, nếu sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm Sứ dừng lại ở đây, thì tôi nghĩ đó là một sự thất bại hoàn toàn của Giáo hội Công giáo vì cuộc tranh đấu vừa qua chỉ là một cuộc đòi lại quyền lợi riêng của Giáo hội Công giáo mà thôi.

Chính vì vậy, qua sự kiện này Giáo hội Công giáo đã có được một cơ hội thử sức đức tin trước một chính quyền độc tài, lì lợm, ngang nhiên chà đạp công lý để bảo vệ cho quyền lợi của những kẻ tham nhũng, những tay đục khoét để vơ vét và chia chác tài nguyên quốc gia.

Nếu Giáo hội Công giáo dừng lại đây, thì sẽ có nhiều người nghĩ rằng Giáo hội chỉ thực sự vào cuộc, tức là tranh đấu cho công lý và sự thật, khi quyền lợi của Giáo hội bị mất hoặc bị chiếm đoạt. Đó là điều mà tôi nghĩ các vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo – tức là các vị giám mục nên sáng suốt và tỉnh thức, để đưa ra lập trường, giáo huấn và những đường hướng mục vụ, và trên hết, lập trường, giáo huấn và những đường hướng mục vụ đó phải thông qua những hành động, việc làm cụ thể, chứ không thể dừng lại ở phương diện lý thuyết được công bố bằng những bức thư gọi là Thư Chung sau những cuộc họp dài ngày, điều đã diễn ra trong nhiều năm với quá nhiều thư chung chung.

Thật vậy, Chúa Giê-su thiết lập Giáo hội của Ngài trên trần thế không phải chỉ mưu cầu hạnh phúc cho riêng một mình Giáo hội của Ngài, mà thông qua Giáo hội, nhân loại được kín múc từ đó một kho tàng chân lý để xây dựng hòa bình, đảm bảo tự do, thực thi công lý và tôn trọng sự thật.

Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho sự thật, Chúa Giê-su đã phải đối diện với hàng loạt sự chống đối, sự cô đơn, sự phản bội của môn đệ… và cuối cùng là bị treo trên thập giá và trải qua một cái chết hết sức nhục nhã, không khác gì một tên tội phạm. Điều Chúa Giê-su đã làm là để minh chứng cho sự thật và chân lý đó được rao giảng cho đến ngày hôm nay, thông qua Giáo hội của Ngài.

Ngài đã tuyên bố là Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hy sinh mạng sống của mình để cứu chuộc nhân loại. Tấm gương của Chúa Giê-su đòi buộc những người tin theo Ngài, đặc biệt là những người được giao phó trách nhiệm chăn dắt đàn chiên, tức là các giám mục và linh mục, phải triệt để sống và làm chứng cho sự thật đó, và trong những trường hợp cần thiết còn phải hy sinh cả mạng sống để bảo đức tin và các giá trị Tin Mừng, giống như Chúa Giê-su đã làm, đã chiến thắng và hôm nay, Giáo hội Công giáo Việt Nam lại đang tiếp tục đi theo con đường và tiếng gọi của Vị Sáng Lập.

Trở lại với những vấn nạn của đất nước hiện nay, chắc chắn rằng có rất nhiều người dân nói chung và người Công giáo Việt Nam nói riêng đang đặt rất nhiều kỳ vọng vào Giáo hội Công giáo, bởi đây là một tập thể có tổ chức và có một hệ thống giáo lý chặt chẽ, có thể xem như đủ sức để chống lại sự bất công, gian dối, độc tài toàn trị của chính quyền… đang ngự trị trong hầu hết mọi lãnh vực của đời sống xã hội.

Trong số những vấn nạn đó, những điều hoàn toàn đi ngược lại với những giá trị của Tin Mừng đòi buộc người Kitô hữu không thể làm ngơ hoặc im hơi lặng tiếng trước những vấn đề như phá thai, gian dối, tham nhũng, sa sút đạo đức, ô nhiễm môi trường, thể chế chính trị phi nhân, độc tài dẫn đến chia chác tài nguyên quốc gia trong giới tư bản đỏ để rồi đẩy hàng loạt người dân vào cảnh lầm than cơ cực.

Sở dĩ đặt ra trách nhiệm và bổn phận đối với Giáo hội Công giáo, thông qua các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân, là bởi vì Giáo hội sở hữu trong tay mình kho tàng chân lý của Chúa Giê-su, và nếu chúng ta không triệt để sống và bênh vực cho công lý và bảo vệ quyền lợi cho những người thấp cổ bé miệng, người bị áp bức, người bị gạt ra bên lề… thì không khác gì là chúng ta đang đi ngược với căn tính Kitô giáo của mình.

Qua những dòng trên đây, với tư cách là một người yêu chuộng tự do và hằng khát khao cho nước nhà sớm có được một nền CÔNG LÝ và DÂN CHỦ đích thực, tôi xin mạn phép có một số lời CẦU XIN sau đây:

1. Hãy cùng nhau hậu thuẫn mạnh mẽ cho Đức tổng giám mục Ngô Quang Kiệt và Dòng Chúa Cứu Thế

Để thổi bùng ngọn lửa Thái Hà và Tòa Khâm Sứ không phải dễ dàng, bởi vì chính quyền cộng sản có vô số mưu kế và tai mắt ở khắp mọi nơi. Sự bùng phát ngọn lửa tranh đấu cho công lý và hòa bình, thông qua việc đòi lại hai mảnh đất này, có thể là nằm ngoài dự đoán của nhiều người, kể cả phía nhà nước vốn luôn cảnh giác. Do đó nếu ngọn lửa này bị dập tắt hay do nản chỉ của con người mà nó tự tắt đi thì rất uổng công. Do đó, bằng mọi cách đừng để nó bị tắt đi.

Muốn cho ngọn lửa đó khỏi tắt thì mọi người Công giáo trên toàn quốc và những người thiện chí hãy hậu thuẫn mạnh mẽ cho Đức cha Kiệt, tập thể Dòng Chúa Cứu Thế, đặc biệt sự hậu thuẫn đó đến từ các giám mục, linh mục, các tu sĩ nam nữ, các Hội Dòng.

Mặt khác, phải rất lâu sau biến cố 1975 chúng ta mới có các vị Giám mục can đảm gióng lên tiếng nói chống bắt công và nhập cuộc, và có một tập thể tu sĩ có sự đồng thuận mạnh mẽ và rất dứt khoát trong đường hướng tranh đấu cho công lý và hòa bình của dân tộc.

2. Xây dựng một mặt trận truyền thông

Sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm Sứ nếu diễn ra cách đây 10 năm thì có lẽ sẽ bị dập tắt một cách thê thảm. Nhưng vấn đề này đã khác và những kết quả gặt hái được là nhờ tin tức truyền đi rất nhanh chóng và được người dân mau mắn đón nhận. Do đó, tất cả những ai có khả năng viết lách, nắm bắt tình hình, biết được tin tức xin hãy tung lên mạng internet để mọi người cùng tìm hiểu. Mỗi người dân ý thức trách nhiệm có thể trở thành một phóng viên.

Trong một buổi gặp mặt mà tôi có tham dự, các cha Dòng Chúa Cứu Thế cũng đã thừa nhận là nếu tin tức không được phổ biến nhanh chóng thì chắc có lẽ giáo dân Thái Hà còn bị hành hung giã man hơn nữa, chứ không phải chỉ có xịt hơi cay, đánh đập, sai côn đồ đến đòi giết chết Đức Tổng Kiệt, cha Vũ Khởi Phụng…

Do đó xin mọi người hãy luôn luôn ý thức rằng trong cuộc tranh đấu đòi công lý và cỗ võ hòa bình, mặt trận truyền thông chính xác, nhanh chóng là vô cùng quan trọng, không thể thiếu, nếu thiếu mặt trận này cuộc tranh đấu sẽ thất bại thê thảm.

3. Xin các Hội Dòng hãy nhập cuộc

Nếu anh em Dòng Chúa Cứu thế và Đức Tổng Kiệt chỉ đơn thuần đi đòi lại hai mảnh đất để xây nhà hay phục vụ cho mục đích riêng thì không có lý do gì để các Hội Dòng nhập cuộc. Nhưng xin hãy nhìn rộng ra rằng đây là cuộc tranh đấu cho công lý và hòa bình của đất nước, và cũng chính là của Giáo hội nữa.

4. Xin Hội Đồng Giám mục Việt Nam hãy phát động cuộc thắp nến cầu nguyện cho công lý và hòa bình được hiển trị trên quê hương đất nước

Lời cầu xin này không chỉ là ước vọng sâu xa của người viết, mà đó là sự kỳ vọng lớn lao của hơn 6 triệu giáo dân và của toàn thể nhân dân, đặc biệt là những ai yêu chuộng tự do, nhân quyền và dân chủ.

Đây là điều hết sức chính đáng, và Hội đồng Giám mục nên làm. Vì tại Việt Nam, nhà cầm quyền đã bắt bỏ tù những người yêu nước, ra sức tranh đấu cho nền dân chủ nước nhà.

Đây không chỉ một đòi hỏi nơi Hội đồng Giám mục, mà đây cũng là trách nhiệm và bổn phận của các vị bởi vì các giám mục là cha là mẹ, thay mặt dân Chúa, công bố các giáo huấn và đường hướng mục vụ cho cộng đồng dân Chúa. Hơn bao giờ hết, đây là trách nhiệm và bổn phận của các vị Chủ Chăn, những đấng kế vị các tông đồ.

5. Cảnh giác và can đảm khước từ ân huệ xin cho của chính quyền

Đối thoại thẳng thắn để đạt được sự công bằng và công lý hay nhượng bộ để có được những ích lợi trước mắt là hai chuyện khác nhau. Cách đối thoại chân thực, thẳng thắn, không nhượng bộ trước bạo quyền đã được Đức tổng giám mục Ngô Quan Kiệt thể hiện hết sức dứt khoán bằng một lập trường kiên quyết, rõ ràng tại cuộc gặp với UBND tp Hà Nội:

Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: ủy ban nhân dân TP đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo Hội Công Giáo trong những năm qua nhất là dịp lễ Noel… chúng ta phải công nhận là trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho: tức là cái này là ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo cái điều đó cho người dân chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải cái ân huệ “xin cho”.

Tôi nghĩ phát biểu của Đức cha Kiệt chắc chắn là được Thánh Linh soi sáng, bởi vì lâu lắm rồi, chúng ta mới được thưởng thức một sự minh định vững chắc của một vị giám mục rằng Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải cái ân huệ “xin cho”.

Tôi nghĩ rằng đây chính là lời cảnh tỉnh cho giới Công giáo, bởi vì trong thực tế có nhiều trường hợp, nhiều sự việc chúng ta mang ơn nhà nước cho nên chúng ta cảm thấy khó khăn, không dám chống lại sự bất công, gian dối… Trong khi đó lại là quyền chính đáng của mình mà mình không biết đàng đòi, nên chấp nhận ngửa tay xin, và khi được ban cho thì mang ơn.

Đây là âm mưu hiểm độc, nếu không tỉnh thức thì nhà nước sẽ dùng tiền, cơ chế xin cho để bịt miệng các vị lãnh đạo Giáo hội và do đó nhiều vị buộc phải im hơi lặng tiếng trước những bất công, nạn phá thai, trước sự bạo ngược của chính quyền, không ngừng ra sức cai trị dân chúng bằng những chính sách sai lầm, ngu dốt, mị dân, lừa dối…

Mong thay, đất nước sớm có được công lý và dân chủ thực sự.

No17: Miền Bắc sau 1954 (I)

Nguyễn Văn Lục

Trần Dần năm 28 tuổi (1926-1997)
Nguồn ảnh: TL gia đình
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ


(Trích bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần sáng tác năm 1955, đăng trong Giai Phẩm Mùa Xuân 1956)

Bài thơ của Trần Dần là hình ảnh tóm gọn đầy đủ về Hà Nội sau 1954. Không ai có thể nói hơn được Trần Dần qua bốn câu thơ đó. Nhưng cũng vì bốn câu thơ này đã làm ông lao đao suốt cả đời. Kể từ đó, không ai viết về Hà Nội như thế được nữa. Đó là Hà Nội thật. Hà Nội đổi chủ. Hà Nội sau 1954.

Phải đợi đến Nguyễn Ngọc Lan, sau 1975, ra thăm miền Bắc về viết bài: Hà Nội tôi thế đấy trên tờ Đứng Dậy. Thế đấy là thế nào? Là nghèo nàn, đói rách, tả tơi? Nguyễn Ngọc Lan không nói, để tự người đọc hiểu thế nào thì hiểu. Nhưng Hà Nội hiểu Nguyễn Ngọc Lan xỏ xiên. Không lâu sau 1975 thì đến lượt Nguyễn Ngọc Lan lại bị thất sủng. Viết bài này, tôi nhớ đến hai người ấy.

Bốn giờ sáng ngày 9 tháng 10 năm 1954. Ngày đáng ghi nhớ. Ngày mà còn nhiều cán bộ nhớ lại là trên đường về Hà Nội: “Tôi nhớ chuyến xe hôm ấy về Hà Nội, hành khách đua nhau hát suốt dọc đường.” (Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, trang 37)

Những ngày đầu phấn khởi

Nhà thơ Trần Dần hơn ai hết đã ghi lại trong nhật ký những ngày đầu tiếp thu Hà Nội với niềm tự hào và tin tưởng. Trần Dần, Ghi 1954-1955 như sau.

“Từ ngày hôm qua sang ngày hôm nay là chuyển hẳn từ hai chữ Chiến Tranh sang hai chữ Hoà Bình. Những tiếng đồng hồ này có một giá trị đặc biệt. Dần dần, người ta mới thấy giá trị của những tiếng đồng hồ đó. Số mệnh, nhiệm vụ của hằng triệu con người thay đổi hẳn… Nhưng (…) sự thay đổi nó dần dà, góp gió, góp gió mãi, tôi đợi một cơn Bão chưa lên.

Hôm nọ có bà bảo tháng 10 thì vui thế. Ngày 10 tháng 10 là ngày tiếp quản Hà Nội. Một phút mà cách nhau hai chế độ mấy trăm năm”.

Đó là cảm nhận kỳ diệu của thời gian của một kiếp người. Một phút trước là nô lệ, một phút sau là con người của tự do.

Ngày ấy người ta say mê, đầy tương lai trong người. Có cán bộ hay nhắc lại những ngày đó. Cho là dân chóng quên. Không thấy hạnh phúc của mình. Hoài Thanh diễn thuyết ở đảng xã hội cũng nói vậy. Chúng ta chóng quên. Quên mất hạnh phúc lớn của mình. Tôi cũng đồng ý là nên nói như vây.Với điều kiện là phải nghĩ rằng: chúng ta không thể ăn được bằng dư vị bữa tiệc tháng 10 ấy.

Hà Nội với rừng cờ, biển người

Trong một bài viết trước đây của tôi, tôi cũng chia xẻ tâm tình của người Hà Nội những ngày tháng 10, 1954 như sau:

“Rừng cờ, rừng người, một rừng cánh tay giơ lên. Thật khó diễn tả cho hết những gì người ta nhìn thấy. Trong rừng người tiến vào thành phố, thật khó để biết ai là sĩ quan chỉ huy. Chẳng ai có thể nhận ra những đồng chí như Bùi Quang Tạo, Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái, Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm. Người ta nhốn nhác tìm bóng dáng ông Giáp hay ông Hồ nhưng không thấy. Vài ngày sau, qua báo chí, người dân Hà Nội được biết các ông ấy đã về tới Hà Nội, nhưng ở đâu thì không ai hay.”


Quân Việt Minh qua phố Hàng Đào Hà Nội (1954) - Hà Nội chuyển mình
Nguồn: Image by © Bettmann/CORBIS
Hà Nội đã thay đổi diện mạo. Với rừng cờ đỏ. Ở đâu ra mà sẵn vậy?

Đâu đây, người ta thấy một tấm biểu ngữ lớn với hàng chữ thô kệch văn chương lắm:

Cùng nhau múa hát mấy bài
Khải hoàn ngợi khúc xây đài vinh quang


Người ta nhận thức ngay được phải ứng xử thế nào trong hoàn cảnh mới. Có một chút nhạy bén và sức lan truyền đến lạ lùng trong đám thị dân năm thành phần được cách mạng công nhận là thợ thuyền, nông dân, binh sĩ, tiểu tư sản và tiểu tư sản yêu nước. Các cô gái con nhà, yểu điệu thục nữ, mượt mà, quần lụa trắng, áo dài mà mỗi bước đi cố gắng vắt xéo đôi chân từ bên này qua bên kia nay áo cánh nâu, quần đen, tay cầm lá cờ đỏ.

Đôi guốc son thời con gái nay đổi ra đôi dép cao su, hiệu con hổ mầu trắng. Những cô gái áo dài quần lụa trắng vắng bóng dần. Thay vào đó là những áo cánh nâu chật chội với những thân hình con gái vạm vỡ, lực lưỡng như những lực điền, đi đứng huỳnh huỵch. Những ông công chức với thói quen complet, cravatte, giầy da, mũ phớt lọt thỏm trong đám đông người với những mũ tai bèo.

Nó báo hiệu một thời đã hết. Bời vì lúc ấy nghèo là một chứng chỉ tốt, giầu chỉ thêm mối lo. Vì thế, cũng không thiếu người đã “giả nghèo” chẳng khác gì “giả câm, giả điếc”, “giả ngu ngơ”.
Hoàn cảnh lúc bấy giờ, nó có sự ngược chiều vô lý. Người Hà Nội “giả đi xuống”, che dấu đủ thứ. Người mới tới lại thích phô ra. Họ săm săm đi tìm những phế thải lỗi thời còn để lại. Một anh cán bộ vẫn mũ tai bèo, nhưng gắn thêm đôi kính râm vào mặt, chiếc bút máy parker gài trên túi. Chiếc đồng hồ đeo tay phô ra. Trông anh lố bịch thêm. Nhiều anh không ngại ra tiệm trồng răng gắn thêm hai chiếc răng vàng để cười cho sang. Ở nhà thì ráng mua cho bằng được cái màn tuyn nằm cho thoáng, bõ những ngày muỗi cắn, đi ra đi vào súng sính trong bộ pyjama. Hứng quá, thoải mái quá. Mặc luôn bộ đồ ngủ đi ra ngoài đường cho tiện.

Các nữ cán bộ thì một chút thoang thoảng môi son, chút má hồng. Đủ để cho người ta biết người mình thơm tho. Nhưng lộ liễu quá thì chưa tiện. Và tại sao chối từ một chút nước hoa thay cho mùi ngai ngái của mồ hôi, mùi tóc muối lâu ngày.

Cứ như thế mà cuộc đấu tranh ai thắng ai trong mỗi con người cứ lớn dần lên. Người ta cảnh cáo cẩn thận hiện tượng mất bản chất. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể cho tôi nghe, về Hà Nội là rủ nhau đi mấy quán ăn ngon cho đỡ thèm. Cũng bị bá cáo và cảnh cáo.

Cảnh cáo cho có lệ. Nhưng chắc chẳng ai thèm nghe.

Phải chăng đó là những sự thay đổi tận gốc rễ của người Hà Nội và cả của người mới tới?

Các bà mệnh phụ trước đây cứ một bước lại ngồi xe tay nay lạch bà lạch bạch ráng theo đoàn người đi tới. Mọi người hình như bằng mọi cách khuôn ép, tự sắp xếp mình vào năm thành phần trên. Đường phố vốn nhỏ hẹp nay chật cứng người như nêm cối. Như tự phát, từng đám người như thế lũ lượt như những đám rước trên đường phố hết đám này đến đám khác. Trong đám đông ai đó hô Hồ chủ tịch muôn năm! thế là cả cái cỗ xe người đồng lượt vung cánh tay hô theo. Họ ùn ùn kéo đến Nhà Hát Lớn, đi qua rạp chiếu bóng Eden, nhà in Viễn Đông, còn được gọi là nhà in Ideo, hướng về phía vườn hoa Con Cóc rồi Bắc Bộ phủ. Nổi bật là những đám thanh thiếu niên, không biết bằng cách nào và từ bao giờ, ăn mặc như hướng đạo mà mỗi em đều quàng một chiếc khăn quàng đỏ.

Hình như cả thành phố chỉ có dân chúng chứ chưa có bóng dáng người lãnh đạo.

Vậy mà cái guồng máy đó chạy đều, nhịp nhàng hăm mươi bốn trên hai mươi bốn. Thành phố như vô chủ, chỉ có đám đông, chỉ có người gặp người, người nhìn người, đi ngược, đi xuôi. Gặp nhau có lối chào mới: giơ nắm tay đồng loạt hô to. Muôn năm, muôn năm!!
Chẳng có gì có thể tả hết được cái ngày như thế, cái khung cảnh như thế, cái vận hành, cái chuyển đổi, lột xác như thế.

Những đoàn người cuồn cuộn như dòng nước lớn không dứt, hết đám này đến đám khác cho mãi đến nửa khuya và bắt đầu lại vào sáng sớm ngày mai. Chính quyền mới trong một tích tắc đồng hồ đã biến đổi đám người trước đây có thể là tiểu thương, viên chức của Pháp, nếu không nói là theo Tây, Việt gian của Tây trở thành một đám quần chúng hăng say mà không mất một ngày tập huấn.

Trong số ấy, có nhiều nhà tư sản kinh doanh hăng say nay muốn hiến hết cho chính quyền tài sản, cơ nghiệp. Họ phải tự giác, tự làm đơn chờ đợi xem có được chính quyền chấp nhận hay không, chấp nhận thành kẻ hợp doanh với nhà nước. Đó là một vinh dự cho họ được cải tạo từ chủ nhân nay trở thành người lao động. Sau khi được chấp nhận rồi, họ cất được cái mũ “phớt” tư sản để đội cái mũ” tai bèo”, để hội nhập xã hội mới với những tước danh mới như công thương gia yêu nước, kỹ nghệ gia tiên tiến hay cao hơn nữa được gia nhập Mặt Trận Tổ Quốc và may mắn hơn, xúc động đến oà nước mắt nếu được “xuống” làm phó giám đốc xí nghiệp.
Nhưng thay đổi một cái mũ có đủ để thay đổi được cả một cuộc đời không?

Sau đó thì họ trắng tay, nhưng ngược lại họ trở thành nhân vật được mọi người kính nể. Họ là những người yêu nước tiêu biểu như các ông Ngô Tử Hạ, ông Nguyễn Sơn Hà, ông Bùi Hưng Gia, ông bà Trịnh Văn Bô. (Xem Mặt Thật, Thành Tín, trang 84)

Ở miền Nam sau này cũng như thế, nhưng ở mức quy mô và lớn gấp 10 lần. Họ tất cả đều hoan hỉ hiến cho chính quyền mới. Các vua kẽm gai, vua sắt, vua máy cầy, vua hãng dệt nay xuống thành thứ dân vô sản. Ôi, hạnh phúc biết bao, vì đã được đổi đời?

Trong số những nhân vật uy tín này, người viết có vinh dự được nghe danh ông Ngô Tử Hạ, người đã có công với cách mạng ngay từ những ngày đầu kháng chiến bằng cách in ấn các truyền đơn cho cách mạng và bây giờ hiến toàn bộ cơ sở nhà in, ấn loát cho chính quyền mới.
Nhưng giả dụ, ông Ngô Tử Hạ đã không hiến trước thì liệu ông có giữ được sản nghiệp không và liệu người ta có để yên cho ông làm ăn hay không? Nhưng không ai dám nêu câu hỏi vớ vẩn đó ra nên cũng không bao giờ có câu trả lời.

Tuy vậy, những ngày tháng ấy kéo dài chẳng được bao lâu, vì người ta phải đương đầu với thực tế trước mặt. Người ta dần dần thất vọng. Trong đó có Trần Dần. Và ông đã viết như sau:

“Tháng 10 là bữa tiệc lớn cho nhân dân thủ đô. Nhưng bây giờ là tháng 3.1955. Người ta phải ăn bằng những bữa cơm hằng ngày”…

Không thể ăn bằng ký ức một bữa tiệc từ năm ngoái

Câu hỏi được đặt ra saụ 5 tháng sống dưới chế độ mới. Người ta được gì?

Nỗi mừng, niềm vui qua mau và bây giờ là cuộc sống cơm áo với trăm điều phải lo.
Nay thì lo là chính, lo lấn át tất cả. Mừng là phụ.

Nỗi mừng nay biến thành nỗi lo và cả miền Bắc đều lo như vậy.

Bức màn tre phủ xuống trên toàn miền Bắc

Một bức “màn tre” đã phủ xuống trên toàn miền Bắc. Chữ bức “màn tre” lần đầu tiên được người ta dùng để thay thế cho chữ bức “màn sắt” quen thuộc để chỉ các nước cộng sản như Liên Xô hoặc Đông Âu.

Ngữ nghĩa chữ bức màn tre là chỉ thị một chế độ độc tài, khép kín, bưng bít che đậy không để lọt ra thế giới bên ngoài những gì đang xảy ra bên trong đó.

Trong vòng 20 năm, bức màn tre ở miền Bắc đã xảy ra 3 điều cực kỳ quan trọng là: Một là về chính trị, họ tiến hành chiến tranh nhằm xâm chiếm miền Nam. Hai là, về xã hội, khi cuộc di cư vừa chấm dứt thì vào khoảng tháng 5/1955, chính quyền miền Bắc quay trở lại chính sách Cải cách ruộng đất đã thực hiện từ 1953, sau đó tiến hành Hợp tác hóa nông nghiệp. Ba là, về văn hóa, trấn áp giới văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân Văn giai phẩm.

Cả ba vụ việc đó đều dùng Bạo Lực “cách mạng” để đạt được mục đích bằng sự hy sinh xương máu của người dân theo đúng tinh thần của Các Mác: Bạo lực là bà đỡ của Cách Mạng.
Sau này liên lạc giữa hai miền Nam Bắc ngăn cách bởi bức màn tre này thành hai thế giới và sự liên lạc giữa hai miền giới hạn vào những tấm thư bưu phiếu. Nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi mất hẳn. Số phận những người chọn ở lại hay bất đắc dĩ phải ở lại sau bức màn tre đó ra sao? Không còn ai biết được nữa.

Bài viết sau đây dành chọn để ghi lại hoàn cảnh miền Bắc sau 1954 với tất cả những trớ trêu lịch sử oan khiên và những hệ lụy từ chế độ đó mà ra.

Xin ghi tiếp phần nhật ký 1954 của Trần Dần để thấy được những thực trạng Hà Nội sau 1954 và những đổi thay, chuyển biến tâm trạng của nhà thơ Trần Dần.

Nhà thơ viết tiếp những suy tư của mình:

Về Hà Nội được đúng 10 ngày. Hà Nội ít thay đổi. Gặp bố. Anh Đường. Cháu Hà. Anh Lan. Gặp bạn. Trần Mai Châu. Một số người không gặp.

Nay thì những dự định khó thực hiện vì chính sách gò bó.Tôi bị bao vây. Chặt quá, ép quá… Tôi muốn gạt những núi định kiến mà ngoi lên thở.. Nhưng sao buồn thế? Khổ thế ? Nhiều lúc tôi tưởng như mất cả cuộc đời rồi. Tay buông xuôi. Chân duỗi thẳng. Tôi buồn như người đã chết.
Cái màn biểu diễn giáng xuống đầu tiên là việc đổi tiền từ tiền Đông Dương sang tiền cụ Hồ. Trong vụ đồi tiền này, người dân tự nhiên mất 2/3 tài sản của mình. Cụ thể là một bát phở trước đây giá là 3 đồng bạc Đông Dương. Mọi người đều bị móc mất số tiền ở trong túi. Nay muốn ăn một bát phở như thế, phải trả là 10 đồng, Người cộng sản quả là có tài tạo ra sự khan hiếm. Muối, đường, vải vóc tự nhiên trở thành khan hiếm. Và người ta kháo với nhau rằng, nếu cộng sản làm chủ sa mạc thì chẳng bao lâu, cát sẽ trở thành khan hiếm, phải xếp hàng mới mua được.
Cuộc sống kể từ ngày hôm nay báo hiệu những ngảy đen tối sắp tới.

20/01/1955

Những ngày cuối năm.

Tết năm nay ở Hà Nội. Ít cành đào quá. Hoa thủy tiên cũng hiếm. Hàng sách chưa thấy những bìa xanh đỏ. Phố Hàng Mã có ít hoa giấy. 10 giờ, phố xá đóng im ỉm. Vắng tanh vắng lạnh. Những dãy phố Bà Đanh này phản ảnh tình hình chính trị kinh tế bây giờ. Còn thiết quân luật. Những ngày đầu tiên của Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn. Nạn đói khu tư. Nạn di cư miền công giáo. Khu 4. Vụ Ba Làng nổi loạn. Hải Phòng phá giá đồng bạc. Các ổ Mỹ, Ngô Đình Diệm phá hoại hòa bình, kều người đi Nam. Đô la Mỹ vẫn làm người nta tốt mắt. Chính nghĩa thì nghèo.

Kinh tế ta vừa thoát khỏi nanh vuốt Mỹ Pháp, còn non yếu, như đứa bé sơ sinh đỏ hon hỏn. Cán bộ máy móc. Vụ thuế công thương gây một panique lớn. Các rạp hát ế khách. Các hiệu ăn chuyển sang phở nhiều. Giá hang đắt lên. Tiền Đông Dương ăn hơn 70 rồi. Nhiều người thất nghiệp. 6 vạn công nhân. 3 vạn cán bộ miền Nam. 30 vạn đồng bào miền Nam phải xếp việc. Trí thức không có việc. Nghệ sĩ chưa tìm được cách sống cho bằng trước. rường tư sụt đi nhiều. Báo chí bán rẻ, ế. Khả năng mua sách của Hà Nội sụt đi. Hiệu cúp tóc vắng. Cyclo bí, cơ quan cán bộ không đi. Lạp sường lồ mát phàn một đêm khéo lắm bán đưuợc cho hai người…

Đúng vây. Kẻ tà có đô la. Chính nghĩa không có tiền. Tùy từng người chọn đường.
(Trích Trần Dần, Ghi 1954-1960, Phạm Thị Hoài biên tập Văn Nghệ phát hành)

Đấy là bức tranh toàn cảnh đời sống miền Bắc sau 1954 được Trần Dần ghi lại đầy đủ và trung thực sau khi hòa bình trở lại. Bức tranh đó nhắc nhở người ta nhớ câu nói của Tacite xưa như sau:”

“Ils firent un désert et l’appelèrent Paix”. (Họ xây dựng nên một sa mạc và gọi đó là Hoà Bình).
Những suy nghĩ của Trần Dần viết ra là rất nhân bản, rất gần gũi và hơn 25 năm sau, tháng 10, 1991, một Trần Dần thứ hai xuất hiện. Sâu sắc hơn, cay đắng hơn, “tàn bạo” hơn. Đó là Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh khi ông viết về cuộc sống của ông, đúng hơn về tiểu đoàn 27 mà cho đến 75 chỉ còn sống sót 10 người trong số 500 người lúc đầu: ”Đến bây giờ, lúc này đây, bạn hãy xem thực chất quanh ta có gì khác hơn ngoài cuộc sống tầm thường và thô bạo của thời hậu chiến? Nền hoà bình này…Hừ hình như tôi thấy các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bầy ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra”.
Dưới mắt Trần Dần quả thực Hà Nội đã không còn như trước nữa.
Nạn đói đe dọa là có thực.

Nạn đói đe dọa

Khu tư đã rơi vào cảnh đói kém, mất mùa như trong phúc trính của đại sứ Ba Lan. Trong bản báo cáo tháng gửi về nước ông, ông đại sứ viết: Thị trường cần cung cấp thêm lúa gạo và các nông sản khác đang bị thiếu hụt nghiêm trọng. Cần phải ngăn ngừa nạn đói có thể xảy ra ở khu bốn là nơi hội đủ những triệu chứng như: hạn hán, ruộng đất bị bỏ hoang. Nếu Việt Nam không nhận được viện trợ to lớn về lúa gạo thì tình hình sẽ trở thành nguy ngập và cuộc bầu cử sẽ hết sức bấp bênh. Báo cáo của đại sứ Ba Lan tháng 3 như sau: “Một trong những khó khăn nhất mà các đồng chí của chúng ta gặp phải là nguy cơ xảy ra nạn đói... Hiện nay viện trợ của CHNDTQ đã tới nơi, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu. Vụ mùa tháng 5 không khả quan vì hạn hán kéo dài. May thay, nhờ có viện trợ Trung Quốc nên tháng 5, năm 1955, VNDCCH đã tránh được nạn đói”. Theo báo cáo của đại sứ Ba Lan: “Cuối tháng tư tình hình được cải thiện một chút nhờ gạo, gà và khoai lang gửi từ Trung Quốc đã sang tới nơi ”. (Báo cáo của đại sứ Pietka, Hà Nội, ngày 2/5/1955)

Không có viện trợ thực phẩm của Trung Quốc thì đói to.Tình trạng lương thực ở miền Bắc rất đáng lo ngại mà theo cách tính sơ khởi là mức tiêu thụ gạo không quá 250kg/ mỗi đầu người/ năm (1955 là 286kg/người. 1957 là 285.7kg/người).

Người Pháp cuốn gói ra đi

Nạn đói kém xảy ra phần lớn là do hậu quả sau chiến tranh và sự ra đi của người Pháp cuốn gói theo họ tất cả những gì có thể chở đi được. Người Pháp trù liệu chuyển vào Nam qua tầu chiến Mỹ toàn bộ xe cộ, xe tăng, thiết giáp, súng ống, đạn dược. Trong đó 200.000 tấn đã được dự liệu đưa vào miền Nam. Thêm vào đó là máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liêu (raw materials) kho hàng, tất cả đã được chở vào miền Nam. Tính ước lượng trị giá bằng tiền vào khoảng 2000 triệu francs…Cũng vậy, có 29 trên 30 các xưởng kỹ nghệ của Pháp được tháo gỡ, chuyển vào Nam.

Vì thế, chính quyền mới sau khi tiếp quản các cơ sở kỹ nghệ phải đương đầu với tình trạng bất khả dụng hay khiếm dụng. Chẳng hạn, nhà máy xi măng Hải Phòng, chỉ sản xuất được bằng phân nửa so với trước đây. Sau này nhà máy được xây dựng lại do sự giúp đỡ của Liên Xô từ tháng 9-11/1955 và hoạt động 24/24 với 3 tốp thợ, mỗi tốp 2000 người. Tuy nhiên, cho đến 1956, nó cũng chỉ đạt được 61% tổng sản lượng của năm 1939. Sản lượng xi măng của nhà máy Hải Phòng là 400.000 tấn/năm, trước 1954 đủ cung cấp cho nhu cầu xi măng của miền Bắc.

Nhưng tệ hại nhất vẫn là mỏ than Hòn Gai, trước đây mỏ than Hòn Gai được trang bị máy móc của Mỹ. Năng xuất dĩ nhiên là cao. Nay người Pháp đã tháo gỡ trở đi thứ gi cần phải tháo gỡ, thứ gì dùng được và ngay cả thứ gì xét ra không dùng được, nhưng nếu có thể làm trở ngại cho việc sản xuất thì cũng không từ. Đó là tình trạng Sabotage, phá hoại trước khi bỏ đi. Ấy là chúng tôi không muốn nhắc tới sự phá hoại trực tiếp (sabotage) của nhóm tình báo của đại tá Lansdale vào những ngày cuối cùng của thời hạn 300 ngày theo Hiệp định Genèva.

Vì vậy, việc sản xuất than ở Hòn Gai đã phải quay trở lại thời kỳ tiểu công nghệ lấy sức của người lao động làm chính. Sẽ bốc dỡ than bằng tay, khuân vác bằng sức người. Bao nhiêu công việc nặng nhọc trước đây do máy làm thì nay con người phải lấy sừc người ra mà làm.
Từ đào bằng máy chuyển sang đào bằng tay, sự vận dụng sức người ờ đây phải được kể là vô cùng khó khăn và vất vả cho người lao động. Và chính quyền mới đã bắt đầu làm lại như thế đấy. Nghĩ tới mà khiếp sợ. Và nên nhớ rằng: với sức người, sỏi đá cũng thành cơm.

Nhà máy sợi Nam Định cũng chỉ hoạt động bình thường sau khi Trung Cộng tặng cho 500 máy dệt tự động vào đầu năm 1957. Nhà máy bột giấy (paper mill) cũng được Trung Cộng trang bị lại máy móc và nay hoạt động lại ở Thái Nguyên.

Nhưng quan trọng nhất là nhà máy cơ khí ở Hà Nội được Liên Xô tài trợ và bắt đầu xây cất vào tháng 12/1955. (Trích Revolution, Socialism and Nationalism in Viet Nam, Volume 1, trang 262-263)

Con đường xây dựng Xã Hội chủ nghĩa từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến nay đã đi được bao nhiêu đoạn đường và còn cần thời gian là bao nhiêu năm nữa?

(Còn tiếp)

No16: Thư ngỏ gửi bác Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam.

2

Kính gửi bác Nguyễn Thị Bình,
Vừa xem xong bài phỏng vấn của bác trên BBC, cháu có vài điều tâm tình muốn gửi đến bác.
Thật sự yêu nước?
Khi chú Xuân Hồng nhắc đến hoạt động của chị Công Nhân và Hoàng Lan để đóng góp cho một đất nước tốt đẹp hơn, bác bày tỏ sự hoài nghi "họ có muốn như vậy không"? Mới đầu bác khẳng định "họ không muốn", về sau bác nói, chưa tìm hiểu rõ về hai nhân vật này lắm, nên không biết rõ họ muốn gì…

Cháu xin trả lời ngay rằng, bạn bè của cháu trong Đảng Dân Chủ Việt NamTập Hợp Thanh Niên Dân Chủ cũng như bản thân cháu luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho đất nước. Cháu tin chị Công Nhân cũng là một người yêu nước. Nếu không yêu nước thì không ai dấn thân vào con đường không bằng lặng này, trong khi họ có những lựa chọn khác tốt hơn, êm ả hơn cho cuộc đời họ.

Khi mới sang Pháp du học, cháu cũng như nhiều bạn khác mang trong mình lòng tự hào dân tộc, vì là công dân của một nước nhỏ mà đã kiên cường đánh thắng hai cường quốc. Đến bây giờ cháu vẫn tự hào, vì truyền thống văn hoá, vì lịch sử, vì cảnh đẹp và con người Việt Nam. Nhưng tự hào không có nghĩa là ru ngủ mình trong hào quang của quá khứ hoặc trong những hình ảnh tốt đẹp mà truyền thông đưa ra. Chiến tranh đã qua 33 năm rồi, chúng ta cần gây dựng thêm nhiều điều khác để làm vẻ vang cho dân tộc. Thật buồn khi mà thế giới mỗi khi nhắc tới Việt Nam họ thường nghĩ đến một đất nước gắn với chiến tranh và nghèo đói… Ngày nay kinh tế đã phát triển hơn trước rất nhiều, nhưng bao nhiêu phần trăm người dân Việt Nam được hưởng thành quả ấy? Cái giá đã và đang phải trả cho sự phát triển ấy là gì, đó là ô nhiễm môi trường, là thiên nhiên bị tàn phá, là mức lương đói khổ của công nhân, là những khoản nợ nước ngoài mà các thế hệ trẻ sẽ phải gánh chịu. Cơ chế chính trị không đuổi kịp sự phát triển kinh tế, tạo môi trường lý tưởng cho tham nhũng, tăng khoảng cách giàu nghèo. Cơ chế chính trị thất bại trong việc chiêu mộ người tài, khiến bộ máy Nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả và tạo nên cái vòng luẩn quẩn: người dân bất mãn vì tham nhũng và bộ máy ì trệ, Nhà nước cải cách nhưng bộ máy nhà nước thiếu hiệu quả hoặc thiếu quyết tâm chính trị để tiến hành cải cách đó, dẫn đến lãng phí ngân sách và tiêu cực, rồi người dân bất mãn, và Nhà nước lại hứa hẹn cải cách, và rồi lại thất bại. Vụ Vedan vừa rồi là một ví dụ tiêu biểu nhất cho sự trì trệ và vô trách nhiệm của chính quyền, mặc cho người dân lên tiếng từ cả chục năm nay. Sự việc đó là lời kêu gọi có sức nặng nhất cho sự cần thiết phải trao quyền cho các cá nhân, đoàn thể phi chính phủ để họ có vai trò hiệu quả hơn trong vai trò giám sát và hỗ trợ nhà nước xử lý tiêu cực.

Hoàng Lan, TT Bush với phu nhân Laura và Nguyễn Tiến Trung tại Texas tháng 8.2006

Việt Nam đã cải thiện phần nào hình ảnh của mình trên trường quốc tế, với việc hội nhập kinh tế và tham gia tích cực hơn trong các thiết chế quốc tế. Nhưng đó mới chỉ là bề nổi. Vấn đề cấp thiết hơn phải làm là phát triển nội lực, để tiếng nói của Việt Nam thực sự có sức mạnh. Mà muốn phát triển nội lực thì giáo dục và thông tin phải là hàng đầu. Bác cho rằng giáo dục Việt Nam không phá sản. Thế nhưng Bản báo cáo lựa chọn thành công của nhóm nghiên cứu thuộc đại học Harvard trình gửi Thủ tướng đầu năm 2008 lại đưa ra nhận định "Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện đang khủng hoảng". Thất bại trong giáo dục là thất bại trong tất cả. Muốn đất nước phát triển, Nhà nước phải tạo môi trường độc lập cho các trường đại học, như quyền tự trị, ngân sách độc lập. Thông tin phải được mở ra và giáo dục phải khuyến khích sự sáng tạo thay vì nhồi nhét. Cháu biết, thật dễ để phê bình, vì quản lý một đất nước không phải điều đơn giản. Nhưng cái đáng phê bình hơn là việc quay lưng lại với thiện chí của những đoàn thể, tuy không cùng quan điểm với thành phần lãnh đạo, nhưng đều muốn góp sức vào công cuộc phục hưng đất nước. Điều này cháu sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau.

Bên cạnh những băn khoăn về tình hình đất nước, cháu cũng mong muốn chia sẻ những suy nghĩ, những trải nghiệm cá nhân. Khi về Việt Nam nghỉ hè, cháu thường theo các bạn thanh niên tình nguyện đi làm một số hoạt động xã hội. Qua những chuyến đi ấy, cháu thấy những khu ổ chuột gầm cầu Long Biên hay những gia đình trôi nổi trên những chiếc thuyền con ven sông Hồng, con cái họ không có điều kiện đến trường. Nhiều cơ sở giúp đỡ người tàn tật vẫn phải tự xoay sở để giúp mình, giúp người mà không nhận được sự giúp đỡ nào từ chính quyền. Bên cạnh đó là những nỗi đau khi thấy phụ nữ Việt Nam lần lượt ra đi, làm công nhân hoặc làm dâu xứ người. Khi ở Pháp, cháu thường tự hỏi, tại sao mình được học là xã hội tư bản dã man, người bóc lột người, mà chính sách an sinh xã hội của họ lại tốt như vậy. Nhìn những chiếc xe bus hay cơ sở hạ tầng của họ được thiết kế để có thể đón tiếp những người tàn tật, cháu chạnh lòng nhớ lại hình ảnh những người tàn tật lê lết xin ăn trên đường phố thủ đô Hà Nội nhầy nhụa vì mưa phùn. Nhìn xứ người tươi đẹp, sạch sẽ, với nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, người dân xứ họ có mức sống cao hơn Việt Nam nhiều lần, họ sống mà ngẩng cao đầu, không phải lo sợ Nhà nước điều gì khi họ bày tỏ chính kiến, cháu tự hỏi, sao cùng là con người, mà người dân mình vẫn còn khổ quá? Sao sinh viên Việt Nam thường học rất giỏi, đi du học ngày càng đông, mà Việt Nam không có bước phát triển thần kỳ nào cả? Đấy là nhìn người dân châu Âu, chứ ngay cả bạn bè Á Châu như Nam Hàn, Nhật Bản, họ cũng có một mức sống cao, họ sống ngẩng cao đầu, sống ngay thẳng, họ chu du khắp nơi trên thế giới và được nể trọng. Có điều gì sai với dân tộc Việt Nam?

Trước khi tham gia việc chính trị, cháu có đóng góp trong các hoạt động xã hội. Cháu biết quỹ Bảo trợ trẻ em mà bác làm Chủ tịch đã có nhiều hoạt động tích cực. Nhưng hoạt động từ thiện xã hội chỉ như miếng băng dán lên vết thương, chứ không giải quyết tận gốc vấn đề là các bất công, tiêu cực mà hệ thống gây ra. Cháu không muốn phê phán, mà với những nhận định đó, chỉ tự hỏi mình có thể làm được gì? Tuổi trẻ phải làm gì, nếu như không phải là lên tiếng và hành động để cải thiện tình trạng đất nước, mà bắt đầu là việc cải tổ hệ thống có nhiều khiếm khuyết khiến đất nước như cái xe cọc cạch không tiến nhanh, tiến mạnh được?

Hoàng Lan phát biểu trong chương trình "Marathon Nối vòng Tay Lớn" của THTNDC 2006 tại USA

Có điều kiện du học tại Pháp, tốt nghiệp loại Khá ở Panthéon-Assas, trường đại học luật hàng đầu của nước Pháp, nói tiếng Pháp và tiếng Anh trôi chảy, cháu hoàn toàn có thể ở lại Pháp, kiếm một việc làm tốt, lương cao, và yên ổn với gia đình của mình. Cháu dấn thân vào chuyện chính trị, chấp nhận những hi sinh trong cuộc sống riêng tư, chỉ vì nặng lòng với đất nước. Cháu cũng là một trong số ít những sinh viên Luật chọn học ngành luật công, hành chính và hiến pháp. Đó là bởi vì cháu cho rằng sau khi học những cái hay, cái tốt của nước người, cháu có thể trở về giúp đất nước. Nếu học luật tư hay luật thương mại, cháu sẽ có nhiều cơ hội kiếm tiền hơn, nhưng đó sẽ chỉ là sự mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân mình mà thôi. Mặc dù sự mưu cầu hạnh phúc là chính đáng, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong Tuyên ngôn độc lập, nhưng cháu tự cảm thấy mình là một người quá may mắn trong cuộc sống, nếu không chia sẻ sự may mắn ấy hoặc tận dụng sự may mắn ấy để giúp ích cho xã hội, thì thật là ích kỷ biết nhường nào.

Cháu từng có dịp nói chuyện với một cô làm trong Bộ lao động, thương binh và xã hội. Cô than phiền rất nhiều về tình hình Việt Nam, đặc biệt tình trạng dân oan mất đất, mất nhà, tình trạng tham nhũng. Nhưng sau khi than phiền một cách hăng say, cô dừng lại, thở dài: "Nhưng mà thôi, nếu mình không nặng lòng quá với mấy chuyện đó, thì mình vẫn sống tốt được." Cháu chỉ mỉm cười mà không nói gì cả. Cháu trót nặng lòng rồi. Yêu nước đâu phải là cái tội, phải không bác?

Làm gì?

Bác Bình đã không nói cụ thể về việc "làm như thế nào", mà chỉ đưa ra nhận định rất chung chung: chúng ta cần có tổ chức, cần có Hiến pháp, pháp luật, cần có sự thảo luận để cảm thông, tìm sự đồng thuận đi tới, chứ không thể áp đặt.

Cháu xin được nói ngay là những điều bác nói trên đây là rất đúng. Đó cũng là những gì mà Đảng Dân Chủ Việt NamTập Hợp Thanh Niên Dân Chủ hướng đến.

Bác Bình có nói chúng ta cần thảo luận, để thông cảm với nhau. Không phải cháu và bạn bè không muốn, mà chính là Nhà nước, hoặc những người đại diện cho Nhà nước đang thiếu thiện chí đó thôi. Những vấn nạn của Việt Nam hiện nay như tham nhũng, giáo dục xuống cấp, tranh chấp đất đai với Trung Quốc, v.v, là những vấn đề chung của toàn dân tộc, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền và nghĩa vụ tham gia vào việc giải quyết những vấn nạn ấy. Về nguyên tắc, có lẽ không có gì mâu thuẫn. Nhưng hãy nhìn vào thực tế, vào cách hành xử của những cán bộ Nhà nước. Cháu mong muốn được tâm sự với bác về những gì cháu "mắt thấy, tai nghe" trong mùa hè vừa rồi.

Hoàng Lan trả lời phỏng vấn, trong ảnh TVP: TV Polonia

Mùa hè vừa qua, cháu có trở về Việt Nam trước khi qua Mĩ tiếp tục du học với một suất học bổng nhỏ của trường đại học Indiana. Trước là về thăm nhà, sau là muốn gặp gỡ những người bạn cùng lý tưởng lâu nay vẫn thường trao đổi thông tin, cháu cũng đã mong có cơ hội đối thoại trực tiếp với những cán bộ an ninh. Ngoài những buổi mời đi uống cà phê, nói chuyện với một số anh chị an ninh trẻ, một lần, cháu “được” Công an phường mời lên làm việc với lý do Khai báo tạm trú (tại nhà bố mẹ)… Dù biết đó chỉ là cái cớ, cháu vẫn sẵn sàng đến, mong có một cơ hội nữa để hiểu nhau hơn. Buổi "làm việc" hôm ấy, thật bất ngờ, không phải là với công an phường mà là với cán bộ Bộ công an từ Trung ương xuống, về các hoạt động chính trị của cháu. Dù không đồng tình cách làm việc thiếu minh bạch khi mời một đằng, làm một nẻo, cháu vẫn vui vẻ nói chuyện với các cô chú. Cháu đã tỏ rõ quan điểm của Đảng Dân Chủ Việt NamTập Hợp Thanh Niên Dân Chủ là mong muốn đối thoại, tìm những điểm đồng thuận để cùng nhau đi tới, trên cơ sở chung là cùng hướng đến những gì có lợi cho nhân dân, cho đất nước. Thật bất ngờ, chú cán bộ của Bộ công an nói, Đảng Dân Chủ của cô có tư cách gì mà đòi nói chuyện, ai cho phép? Rõ ràng, nếu câu nói này không thể hiện thái độ đối đầu, thiếu thiện chí mà những người lãnh đạo cấp trên truyền đạt xuống, thì nó cũng thể hiện việc hành xử ngoài thẩm quyền của nhân viên an ninh khi thi hành nhiệm vụ. Đó là chưa kể thái độ có lúc hằn học, cách đối xử với những người khác biệt quan điểm với mình như những kẻ tội phạm. Dù buồn và thất vọng với cách hành xử của những người được gọi là công an nhân dân mà lại đặt ý thức hệ và đảng phái của mình cao hơn dân tộc, cháu vẫn muốn tin rằng có những người trong số họ chỉ thi hành mệnh lệnh cấp trên vì miếng cơm manh áo. Tuy vậy, có những người bạn cùng lý tưởng nói với cháu rằng: không phải họ muốn, mà chính chính quyền đã đẩy họ vào thế đối lập. Sau lần này cháu hiểu hơn câu nói ấy.

Bác Bình nói đến chủ trương đoàn kết dân tộc, cháu rất mừng khi nghe điều ấy. Nhưng nếu nói đoàn kết dân tộc mà chỉ khăng khăng giữ quan điểm, thành kiến của mình mà không mở ra cơ hội để đối thoại, thảo luận, tìm mẫu số chung để cùng nhau đóng góp cho đất nước, thì đó chỉ là những từ vô nghĩa mà thôi. Đoàn kết phải dựa trên nguyên tắc dân chủ, tôn trọng sự khác biệt, đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích đảng phái, cá nhân. Đã nhiều năm nay điều 3 Hiến pháp Việt Nam nhắc đến chủ trương xây dựng "Xã hội Công bằng, Dân chủ, Văn minh". Tiêu chí cuả Đảng Dân Chủ Việt Nam là "Dân chủ, Đoàn kết, Phát triển." Mục tiêu không khác nhau, vậy còn chờ gì mà chưa mở ra cơ hội đối thoại, thực hiện đoàn kết dân tộc để đưa đất nước đi tới? Với tư cách là đảng lãnh đạo, nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ động mở ra tiến trình này, thì cháu tin đó sẽ là một chính sách phù hợp lòng dân, mở ra vận hội mới cho đất nước.

Cháu biết rằng vẫn có những nghi ngại và phân biệt người "trong nước" - "ngoài nước", “trong Đảng” - “ngoài Đảng”. Vẫn còn nghi ngại vì chưa có đối thoại. Vẫn còn phân biệt vì chưa đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết. Mọi sự đánh giá từ mỗi bên đều là chủ quan. Bác Bình đã nói đúng, không thể tự mình nghĩ ra một kiểu rồi áp đặt lên tất cả mọi người. Không một thiểu số nào được quyền áp đặt ý thức hệ hay chủ thuyết của mình lên 84 triệu dân, dù đó là chủ thuyết cộng sản hay dân chủ. Quyết định cuối cùng phải thuộc về nhân dân. Các đảng phái, đoàn thể chỉ có quyền vận động, thuyết phục nhân dân chứ không được quyền áp đặt. Thế nhưng, nếu không có báo chí độc lập, thì làm sao nắm bắt được nguyện vọng của nhân dân? Nếu không mở ra tự do ứng cử, tự do bầu cử, mà việc bầu cử vẫn do Mặt trận tổ quốc kiểm soát, thì làm sao những đại biểu quốc hội có thể đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân được đây? Chừng nào những đại biểu quốc hội hoặc hội đồng nhân dân, hoặc chủ tịch xã được dân trực tiếp bầu ra, chừng đó lá phiếu-tiếng nói của người dân mới có giá trị, những người đại biểu mới thấy mình phải gắn bó và có trách nhiệm với nhân dân, chừng đó người dân mới cảm thấy tin tưởng và tìm đến người đại biểu của mình.

Hình lưu niệm với ô. René Van Der Linden (chủ tich Council of EU) và ông Johan Weyts TNS (Bỉ) cùa Nghị viện châu Âu

Bác Bình đã trải qua một thời tuổi trẻ sôi nổi, hăng say cống hiến cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Đó là những ngày mà người dân miền Nam Việt Nam còn có quyền biểu tình, có quyền ra báo, có quyền lên tiếng công khai để phản đối chính quyền mà họ cho là độc tài, là không xứng đáng. Còn bây giờ, cháu thấy báo chí không có sự độc lập, phải chịu sự kiểm soát của đảng cầm quyền để "đi đúng lề bên phải." Sinh viên biểu tình phản đối Trung Quốc thì bị chính công an Việt Nam ngăn chặn, bắt bớ. Các đoàn thể như công nhân tập hợp nhau lại để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ thì bao giờ cũng bị gắn cái mác “bị các thế lực thù địch kích động,” như thể người dân Việt Nam, ngoài đảng Cộng sản, chỉ là những con rối. Người dân chỉ dám thì thầm với nhau về những tiêu cực và bất mãn, mà ít khi dám lên tiếng công khai. So sánh những ngày tuổi trẻ của bác, với xã hội và tình hình Việt Nam bây giờ, không biết bác cảm nhận thế nào. Còn cháu, cháu đau nỗi đau của người dân một nước nhỏ lép vế trên trường quốc tế và lép vế trước người láng giềng phương Bắc. Cháu lo cho vận mệnh của dân tộc khi cái sinh khí hào hùng trong lịch sử dường như đã trôi xa. Chừng nào vẫn còn những tiếng nói cải cách, chừng đó dân tộc vẫn còn. Chỉ sợ khi không còn ai lo lắng cho đất nước, chẳng còn ai buồn lên tiếng nữa, khi ấy Việt Nam sẽ không còn là một dân tộc nữa, mà chỉ là những cá nhân đơn lẻ sống cạnh nhau, lo vun vén cho bản thân mình, mặc cho cái xã hội này đi đến đâu cũng được. Nếu vậy thì tiếc cho bốn nghìn năm lịch sử hào hùng của dân tộc lắm, phải không bác?

Bác có nói là phải có tổ chức, phải tôn trọng Hiến pháp và Pháp luật, cháu đồng ý lắm. Nhưng trước hết chính Nhà nước hãy tôn trọng quyền tự do báo chí, quyền tự do lập hội, quyền tự do biểu tình của người dân được quy định trong Hiến pháp trước đã. Những bộ luật, nghị định mà Nhà nước thông qua phải phù hợp với Hiến pháp, chứ không thể đi ngược lại nó được.

Cháu đoán rằng khi bác nói đến Hiến pháp, có thể bác ám chỉ điều 4 Hiến pháp, vì khi cháu "làm việc" với các cô chú bên Bộ Công an, các cô chú có đưa điều khoản này ra để nói rằng việc thành lập tổ chức là vi phạm pháp luật. Trước hết, việc thành lập tổ chức hoặc bày tỏ quan điểm ôn hoà là một vấn đề chính trị, và cần phải được giải quyết bằng giải pháp chính trị, tức là bầu cử tự do, công bằng, để biết nhân dân thuận theo ai hơn. Thứ hai, pháp luật do con người làm ra, con người có thể thay đổi nó. Đến một thời điểm trong lịch sử, khi người dân không còn ưng thuận với điều khoản đó nữa, người dân giữ quyền thay đổi, thông qua trưng cầu dân ý nếu đó là Hiến pháp; hoặc thông qua Quốc hội lập nên từ bầu cử tự do, công bằng, để thay đổi luật pháp. Đó là quá trình thay đổi ôn hoà nhất, hợp lòng dân nhất. Nếu Việt Nam làm được điều này, Việt nam sẽ chứng tỏ được với bạn bè quốc tế về sự ổn định chính trị của mình, rằng những vấn đề của Việt Nam được giải quyết qua những cơ chế dân chủ nhất, đó chẳng phải là điều tốt cho sự thu hút đầu tư đến Việt Nam sao? Xã hội chỉ không ổn định khi không có những cơ chế giải quyết mâu thuẫn xã hội một cách hoà bình. Việc bắt bớ, hạn chế dân quyền, hình sự hoá các vấn đề chính trị, chỉ tăng sự mâu thuẫn trong xã hội và gây lo ngại cho bạn bè quốc tế muốn đến làm ăn ở Việt Nam mà thôi.

Hình lưu niệm với ông Johan Weyts -TNS cùa Nghị viện châu Âu và Phu nhân tại Brussels

Như bác Bình đã nói, "bước vào một giai đoạn mới, mỗi người có suy nghĩ của mình, không phải ai cũng giống ai." Không phải cứ phải vào Đảng cộng sản hay Đoàn thanh niên cộng sản thì mới là đóng góp cho đất nước qua con đường hoạt động chính trị. Chính vì thế, việc mở ra các cơ chế đối thoại cho những đoàn thể đại diện cho những luồng tư tưởng khác nhau trong xã hội là điều quan trọng hơn bao giờ hết, để tạo nền tảng cho đoàn kết dân tộc. Việc có các tổ chức chính trị khác nhau được thành lập chẳng qua cũng chỉ là hệ quả của quá trình vận động tự nhiên trong xã hội mà thôi. Khả năng có hạn của con người không thể bẻ cong bước tiến của lịch sử được. Những người lãnh đạo giỏi sẽ là những người nhìn thấy xu thế ấy mà có chính sách, hành động cho thuận thiên cơ và hợp nhân tâm. Có được những người lãnh đạo ấy là cái phúc của dân tộc vậy. Người lãnh đạo thức thời ấy sẽ là đảng Cộng sản hay một lực lượng nào khác? Điều đó phụ thuộc vào chính những người lãnh đạo bây giờ, hoặc phụ thuộc vào bước đi tất yếu của lịch sử, mà thôi.

Nếu được tóm gọn ý kiến của mình trong một câu, quan điểm của cháu cũng không khác bác Bình nhiều lắm: thảo luận, đối thoại, tìm quan điểm chung để cùng hành động. Cháu rất mong rằng, là một người phụ nữ đã đi vào lịch sử Việt Nam, bác Bình sẽ có những tiếng nói và hành động tích cực hơn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, đồng thuận. Về phần cháu, chỉ là một người con gái bình thường cố gắng dung hoà trách nhiệm với gia đình và xã hội, cháu sẽ vẫn tiếp tục lên tiếng và hành động cho những gì mình cho là đúng. Khi ấy, thật mong bác Bình, người đi trước, sẽ chỉ ra cụ thể cái chưa đúng để cháu được học hỏi thêm. Thảo luận để thông cảm là điều chúng ta chưa có, hoặc ít có cơ hội thực hiện, phải không bác?

Bloomington-Indiana, ngày 12 tháng 10 năm 2008

Cháu Hoàng Lan

______________________________________________



No15: Chống tham nhũng phải từ dân

0

Xem hình

Khi nói đến tệ nạn tham nhũng, ta thường quy tội cho những quan chức lạm quyền và quy trách nhiệm Nhà nước đã không xử lý nghiêm túc, đầy đủ việc quản lý của mình. Quy hoàn toàn trách nhiệm chữa căn bệnh tham nhũng cho Nhà nước, trông đợi kết quả nhiệm màu từ một số cá nhân lãnh đạo, hoặc từ một số chính sách chống tham nhũng của Nhà nước có phải chăng là một cách đặt vấn đề lạc hướng và xã hội sẽ tiếp tục bị thất vọng?

Tham nhũng ở nước ta có phải là tất yếu?

Tham nhũng là hệ quả tất yếu khi có ba yếu tố cùng gặp nhau: nhiều tiền, nhiều quyền và một môi trường cơ cấu xã hội còn non kém. Khi con người có nhiều quyền, kể cả quyền quản lý nhiều tiền thì cái tham sân si tăng theo tỷ lệ thuận. Tham sân si cộng với một cơ cấu kinh tế chính trị - hành chính - xã hội còn thiếu minh bạch, thiếu sự phân quyền rạch ròi, thiếu sự kiểm soát để cân bằng (check and balance) thì có cả tham nhũng là chuyện tất nhiên. Ở xả hội nào cũng vậy, chỉ khác nhau ở mức độ và điều này tùy vào yếu tố cơ cấu mà thôi.

Trong tiếng Việt có hai chữ rất súc tích, gói ghém được không biết bao nhiêu kết quả công trình nghiên cứu khoa học xã hội trên thế giới: quyền lợi và quyền hạn. Đã có quyền thì đòi hỏi phải có lợi và khi giao quyền thì phải có hạn. Nhưng khi cơ cấu yếu kém thì quyền và lợi sẽ không có "hạn" nên khó có thể kiểm soát được. Các nhà quan sát quốc tế khi nhìn tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam đều không ngạc nhiên với những vụ việc như PMU 18, họ cho rằng điều ấy không xảy ra mới là lạ. Họ chỉ hơi ngạc nhiên là ông Giám đốc PMU 18 đã bị sân si, chơi ngông đến mức để bị phát hiện. Và họ cũng không ngạc nhiên nếu Việt Nam còn cả trăm, hay cả ngàn PMU 18 nữa chưa bị phát hiện. Lý do đơn giản là Nhà nước đang quản lý một số tiền viện trợ ODA quá lớn, quyền lực thì tập trung vào một tập thề nhỏ (mà tâm lý tập thể thì thường tự hành xử, bao che vì nhau), trong khi cơ cấu xã hội chưa có đủ độ hoàn chỉnh giúp lãnh đạo quản lý Nhà nước một cách hiệu quả các hoạt động kinh tế ở tầm vi mô. Vì vậy, sau hơn 15 năm thực sự đi vào đổi mới, Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một hạ tầng cơ sở xã hội khả dĩ hợp lý đề chuẩn bị cất cánh.

Trong chính trị - xã hội học có câu: "Dân nào thì tương ứng với lãnh đạo đó". Vấn đề tham nhũng không phải chỉ vì có một số ông quan tham tiền. Cũng không phải là do tầng lớp lánh đạo cấp cao không muốn chống nạn tham nhũng vì tham nhũng là con siêu vi đang làm xói mòn trầm trọng giá rị chính thống của tập thể lãnh đạo, làm cho công việc của họ khó khăn hơn và làm cho họ tuy có quyền nhưng không có thực lực. Khi có quyền mà không có lực thì “hành" không kết quả. Con siêu vi này không thể trị được chỉ bằng những liều thuốc chính sách chổng tham nhũng mang tính hình thức này, hay hình phạt pháp luật kia, và cũng không thể chỉ trông đợi vào một cá nhân lãnh đạo anh minh nào đó. Tham nhũng tự nó là một hiện tượng của một vấn đề có tính hệ thống. Cái gốc của nó có từ văn hóa xã hôi truyền thống. Tham nhũng còn sinh tồn là nhờ phần lớn vào sự chấp nhận, đồng lõa của xã hội.

Mọi cá nhân nếu nhìn lại mình trong mọi sinh hoạt hàng ngày sẽ thấy sự đồng lóa, dễ dàng chấp nhận tham nhũng của chính bản thân, từ chuyện chấp nhận cho con đi học thêm để lấy lòng thầy, đi họp phải có phong bì dù đó là trách nhiệm công việc của mình, đến chuyện mua bằng cấp chức danh, thành tích. Tình trạng "dễ người để được dễ ta",”ai cũng vậy" đã trở thành một cái nếp nghĩ trong dân gian. Tham nhũng còn được xem như là một "phương tiện" cần thiết đề khi cần còn có ngõ…

Các nhà kinh tế, xã hội học tin rằng thuốc sát trùng hữu hiệu nhất là ánh sáng (The best disinfectant is sunlight) để nói lên giá trị của một môi trường minh bạch. Tham nhũng là những ung nhọt, những con mối mọt được sinh sôi, nay nở trong bóng tối am ướt. Ai cũng biết là nếu mở toang các cửa số cho thông thoáng, rồi có thêm vài nguyên tắc vệ sinh căn bản thì ruồi muỗi, mối mọt sẽ không còn đất sống. Nhưng việc mớ các cửa sổ không đơn giản, vì lực cản không phải nhỏ từ số người có quyền đã quen được thu vén trong bóng tối từ lâu nay. Môi trường xã hội này chỉ có ánh sáng khi nào đa số người dân bị bức xúc đến độ không chịu được nữa và ý thức được ánh sáng mặt trời là cần thiết để giải thoát họ ra khỏi chỗ u tối, bệnh hoạn. Khi đó, họ sẽ lớn tiếng đòi hỏi ánh sáng mặt trời và tự họ đi mở tung các cửa. Hai điều kiện này hiện chưa cỏ được và còn khó có trong một tương lai gần. Tham nhũng ở mức không thể chấp nhận được có thể sẽ còn là một vấn đề triền miền của xã hội vì xã hội chỉ đang kỳ vọng vào một giải pháp chinh sách đơn phương từ Nhà nước mà chưa chịu ý thức đầy đủ trách nhiệm cửa chính mình để đặt vấn đề một cách trung thực, sòng phẳng.

Tham nhũng cản trở “cất cánh”

Ảnh hưởng của tham nhũng sâu rộng lắm. Ở đây ta chỉ thử làm một bài toán kinh tế tượng trưng. Từ nay đến khoảng năm 2010, tức thời điểm ta không còn được nhận ODA nữa thì tổng số viện trợ ODA đổ vào Việt Nam có lẽ vào khoảng 20 tỉ USD. Theo một báo cáo được công bố trước đây thì sổ thất thoát trực tiếp (bị ai đó bỏ túi) lên đến 15-20%, thất thoát gián tiếp (tiêu xài thiếu hiệu quả, chi phí không hợp lý) cũng khoảng tương tự. Như vậy, tổng số thất thoát lên đền 30 - 40%, bằng 6-8 tỉ USD, hay trên dưới 100 ngàn tỉ đồng! Khi nhận 1 đồng ODA mà bị thất thoát thì ta sẽ bị mất không phải 1 đồng, mà còn hơn thế nữa vì chúng ta phải trả lãi (cứ tính tạm là 5%/năm), cộng thêm tình trạng mất cơ hội sinh lãi từ kinh doanh trên 1 đồng này (tạm tính 10%/năm). Như vậy tính ra chúng ta còn mất thêm 0, 15 đồng mỗi năm nữa. Mỗi năm năm ta sẽ mất gấp đôi (2 đồng), sau 10 năm mất 4 đồng... con số 100 ngàn tỉ đồng bây giờ sẽ thành 400 rồi 800 ngàn tỉ đồng mà xã hội sẽ phải gánh chịu trong 10 năm tới.

Trong thuyết kinh tế phát triền thì quá trình phát triền của một nước cũng tương tự như một chiếc máy bay đang lăn bánh trên đường băng. Để máy bay có thề cất cánh thì cần có hai yếu tố quyết định: (1) Máy bay phải có đủ lực để có khả năng duy trì một gia tốc tối thiểu và (2) Đến một thời điểm nhất định phải có quyết định cất cánh. Nếu thiếu một trong hai điều kiện này thì máy bay sẽ đâm đầu vào cuối đường băng. Tham nhũng là một trong những yếu tố tiêu cực lớn nhất làm cho máy bay không thể cất cánh được vì không đủ lực (hạ tầng cơ sở không được đầu tư hữu hiệu và đúng mực để mau chóng đạt mức tối thiểu để hỗ trợ cho các mục tiêu phát triển khác). Cơ hội để cất cánh sẽ không có mãi (đường băng nào cũng có giới hạn). Kinh nghiệm của các nước đang phát triền là trong vòng 10 - 15 năm, nếu nạn bao cấp và tham nhũng không đưa giải quyết tích cực thì cơ hội cất cánh càng khó khăn hơn.

Xã hội Việt Nam vì hoàn cảnh lịch sử, chiến tranh, đã làm cho đa số người phải tập trung quá nhiều vào các vấn đề sinh tồn cá hân. Mà khi con người đã quá đặt nặng vào sự sinh tồn thì tính ích kỷ của mỗi cá nhân sẽ làm cho "vốn xã hội" suy đồi, lòng tin của con người với người và giữa người với hệ thống xã hội bị sứt mẻ. Sự chấp nhận của xã hội sống chung với tham nhũng như là “sống chung với lũ” sẽ làm cho người dân trong xã hội mất lòng tin vào tương lai, xuôi tay với thời cuộc, không còn khả năng chủ động được vận mệnh của mình. Đây là cái giá lớn nhất mà toàn xã hội phải trả nếu chúng ta không kịp thời chấn chỉnh. Việt Nam nay mai sẽ vào WTO. Doanh nghiệp trong nước sẽ vượt qua được những thử thách ban đầu vì thật sự chúng ta cũng chỉ mới ở giai đoạn "bán mồ hôi kiếm sống". Chúng ta có đủ sức cầan cù, nhanh nhẹn sống còn trong thời gian đầu. Nhưng thử thách khắc nghiệt nhất chính là ớ trong ta, ở nội lực. Nếu chúng ta không tự cởi trói, không gột bỏ được những.thói quen xấu, không nhanh chóng thay đổi tư duy để sống và làm việc một cách thuận lý hơn và cho mục tiêu chung của xã hội thì ta sẽ khó có cơ hội đổi đời và sẽ bị đào thải, vì môi trường hội nhập toàn cầu vẫn là một môi trường "cá lớn nuốt cá bé", ngày càng tinh vi và trực diện hơn. Chúng ta đang ở một ngã ba lịch sử. Trong thập niên tới, hoặc chúng ta sẽ đi về hướng phát triển một xã hội văn minh có văn hoá như Singapore, Malaysia hay một xã hội phần hóa, tụt hậu như Indonesia, Philippines? Điều đó phụ thuộc vào trách nhiệm và quyết định của toàn xã hội.

Phải từ dân. Đây là vần đề lớn có tính chất hệ thống và đòi hỏi phải có sự đồng tâm, quyết liệt hành động của toàn xã hội. Vấn đề tham nhũng như một cây cổ thụ đã ăn sâu mọc rễ. Sẽ không có một vị lãnh đạo cao cấp nào có đủ khả năng tự bứng gốc được gốc cây ấy. Xã hội không nên quá kỳ vọng vào lãnh đạo Nhà nước vì họ không đủ lực. Không ít nhà lãnh đạo cao cấp đã từng than phiền với hiện trạng "trên nói dưới không nghe". Toàn xã hội cần nhận ra một cách chỉnh xác cái giá phải trả cho tham nhũng và phải có thái độ dứt khoát. Xã hội Việt Nam đã có quyền thống dân chủ cao. Lãnh đạo Việt Nam về nguyên tắc là từ dân và do dân, đã chấp nhận dân là chủ. Chỉ có dân mới có khả năng tạo điều kiện cho lãnh đạo thi hành có hiệu quả các liều thuốc chống tham nhũng và đòi họ có trách nhiệm trước dân tộc. Dân tộc ta đã chứng minh được khả năng "đội đá vá trời" khi bị ép đến đường cùng. Thành công của tất cả các cuộc kháng chiến giành độc lập trong lịch sứ đất nước đều từ sự quyết tâm và hành động của toàn dân. Trong thập niên 1980, cuộc đối mặt kinh tế cũng đã từ dân. Chính sách đổi mới là một thành tích lịch sử cực kỳ khó khăn trong hoàn cảnh chính trị - xã hội thời đó, vậy mà dân vẫn làm được.

Vấn đề tham nhũng nan giải hơn là vì cái đau và cái giá phải trả của nó không cảm nhận được tức thời. Nó ngấm ngầm như một căn bệnh ung thư, chứ không như một cơn đói. Như vậy, ý thức đúng đắn về bản chất của vấn đề và sự đòi hỏi quyết liệt của xã hội phải là yếu tố tiên quyết trong việc giải quyết được căn bệnh trầm kha này.

No14:Những mối Hiểm nguy Từ một Nền báo chí Mất tự do

Bài của Phelim Kine

Ngày 31-10-2008 - Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông - Số ra tháng 10-2008

Vào ngày 14 tháng Chín, phóng viên tờ Oriental Morning Post trú tại Thượng Hải Jian Guangzhou đã đưa những chi tiết về vụ bê bối sữa bột độc hại của Tập đoàn Sanlu Group lên blog riêng của mình. Ba ngày sau, các nhân viên kiểm duyệt đã xoá đi trang mục [entry] trên blog này.

Tại sao thứ thông tin đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng mà lại bị loại bỏ, và ai có thể làm cho nó “biến mất” như vậy? Người ta quy lỗi cho Ban Thông tin của Trung Quốc, trước đây được biết đến như là Ban Tuyên truyền. Vào đầu tháng Tám năm 2008, cơ quan này đã ra lệnh cho tất cả nhà báo Trung Quốc rằng, cùng với các cuộc phản kháng đòi độc lập của người Tây Tạng và trong công chúng, “Tất cả những vấn đề thuộc về an toàn thực phẩm, ví như nước khoáng gây ung thư, đều phải bị đình chỉ và loại bỏ” trên báo chí trong nước cho tới khi thời gian diễn ra Olympic chính thức kết thúc vào ngày 17 tháng Chín.

Đối với ông Jian và các đồng nghiệp của mình, quyết định ngày 17 tháng Mười của chính phủ Trung Quốc nới lỏng lâu dài các quy định đối với hoạt động tự do báo chí cho phương tiện truyền thông nước ngoài chỉ như là một sự gợi nhớ tàn nhẫn về thứ áo như giành để trói tội phạm mà tất cả các nhà báo Trung Quốc buộc phải mang vào. Trong lúc những quy định mới đảm bảo quyền cho các nhà báo nước ngoài được nói chuyện với bất cứ người nào được cấp phép phỏng vấn mà không có sự can thiệp, thì các nhà báo Trung Quốc vẫn là con tin cho những lời sai khiến của hệ thống tuyên truyền nhà nước bất chấp Điều 35 trong Hiến pháp Trung Quốc đảm bảo một nền tự do báo chí.

Suốt trong thập kỷ vừa qua, một số nhà báo Trung Quốc đã và đang dũng cảm cố gắng dựa vào Hiến pháp để có được thứ giá trị trên bề nổi, đưa tin tức về những nơi mà họ có thể đưa được về tệ nạn tham nhũng của giới chức nhà nước, tình trạng chiếm đoạt đất đai, và khủng hoảng môi trường. Thế nhưng trên thực tế, những gì họ được phép đưa tin vẫn bị hạn chế nặng nề trong các bản fax hàng tuần của Ban Tuyên truyền liệt kê những chủ đề “cấm kỵ”. Và các nhà lãnh đạo cao nhất đã nói rõ quan điểm của nhà nước về mục tiêu thực sự của báo chí: vào tháng Một năm 2008, không ít hơn một lần, qua một bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã thúc giục các cán bộ nòng cốt hãy “làm việc hết mình cho công tác tuyên truyền đối ngoại để thể hiện hơn nữa và nên cao một hình ảnh tích cực về đất nước.”

Vướng mắc với các giới chức kiểm duyệt Trung Quốc thì không phải là chuyện đùa. Các nhà báo và biên tập viên, những người vi phạm những chỉ đạo của cơ quan tuyên truyền sẽ phải đối mặt với những biện pháp trừng phạt trong phạm vi từ phạt tiền và sa thải cho tới truy tố và chịu án tù giam lâu dài. Việc chính quyền sử dụng tới những kẻ ác ôn mặc thường phục của mình để “thi hành kỷ luật” những nhà báo trong nước đã nhanh chóng tăng thêm những mối đe doạ đối với họ. Ít nhất đã có 26 nhà báo hiện đang bị phạt tù bởi hoạt động nghề nghiệp của họ, nhiều người đang bị quy kết những tội danh mơ hồ trong đó có tội “làm lộ bí mật nhà nước” và “kích động lật đổ.” Trong số họ có nhà báo tự do Lu Gengsong, người đã bị kết án bốn năm tù giam vào tháng Hai năm 2008 với tội danh “kích động lật đổ” bởi những bài báo mà ông đã viết cho các trang Web hải ngoại về tệ nạn tham nhũng và về phiên tòa xử một nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc.

Có lẽ tệ hơn cả, là những nhà báo có tài năng nhưng vì hoảng sợ mà thành ra phải tự kiểm duyệt mình. Vào tháng Tư năm 2008, Chang Ping, một cựu biên tập viên và là người phụ trách một cột báo thường ngày cho tờ Southern Metropolis Weekly, đã viết trên blog cá nhân của mình: “Tôi thấy lo khi những người khác tán dương tôi như là một nhà báo dũng cảm, bởi vì biết trong tim mình đầy những nỗi sợ hãi. Tôi đã viết một số bài bình luận về những vấn đề hiện nay, và đã biên tập một số bài báo bóc trần sự thật … Thế nhưng, thành thực mà nói, thì đó chỉ là những trường hợp ngoại lệ … Ở những vị trí khác nhau của mình trong làng báo qua thập kỷ vừa rồi, những gì tôi đã và đang lảm hầu hết đều là tránh né các nguy cơ. Tự kiểm duyệt đã trở thành một phần của cuộc đời tôi. Nó làm cho tôi căm ghét bản thân mình,” Trong vòng vài tuần sau khi viết những dòng này, ông Chang đã bị đuổi việc.

Bất chấp những mối nguy hiểm này, nhiều nhà báo Trung Quốc đã làm việc không biết mệt mỏi chống lại những biện pháp hạn chế của hệ thống tuyên truyền để đưa tin tức về những thực tế đang thách thức đất nước Trung Quốc hiện đại. Những nỗ lực can đảm này đã có được hơn ba thập kỷ vừa qua giúp mở ra đáng kể những sự giới hạn của việc đưa tin “khả dĩ chấp nhận được” một cách chính thức. Thế nhưng thậm chí những nhà báo Trung Quốc này, vẫn là những người học được mưu mẹo để nắm bắt quyền hạn chung để biết những sở thích bất thường của Ban Thông tin Công chúng.

Mặt khác, các thông tín viên ngoại quốc có lý do để hy vọng rằng một số hạn chế nặng nề hơn dưới những gì mà họ đã phải chịu đựng trong công việc suốt mấy thập kỷ qua có thể đang bắt đầu được nới lỏng. Họ đã hoan nghênh thông báo ngày 17 tháng Mười, thế nhưng đang chờ đợi để được thấy liệu chính phủ có tôn trọng những gì mà họ hứa đảm bảo cho việc tự do đưa tin hơn nữa hay không. Xét cho cùng, những quy định nới lỏng tương tự đã được đưa ra từ tháng Một năm 2007 tới tháng Mười năm 2008, thế nhưng thời hạn đó đã bị phá hoại bởi nhiều vụ đụng độ mà trong đó các nhà báo ngoại quốc và các nguồn cung cấp tin của họ tại Trung Quốc đã bị quấy rối, cản trở, đe dọa hoặc hành hạ thân thể trong khi đưa tin. Việc chính phủ Trung Quốc không chịu điều tra những vụ xâm phạm này chỉ khuyến khích thêm các giới chức chính quyền và lực lượng an ninh là những người vẫn coi vấn đề này nằm trong mối quan tâm của họ để cản trở truyền thông nước ngoài. Những quy định mới cũng tiếp tục hạn chế việc tiếp cận của ngoài báo nước ngoài tới những vùng nào đó của đất nước, đáng kể nhất là Tây Tạng. Thay vào đó, các thông tín viên ngoại quốc, những người vẫn mong được tới đó sẽ phải chịu chấp nhận một quy trình áp đặt phiền hà và phải chờ đợi lâu, và việc cấp phép thăm viếng hiếm khi đi tới kết quả.

Mặc dù có những sai sót đó, những điều chỉnh mới cũng tạo nên một tiêu chuẩn ổn định, phải chăng cho điều kiện tự do tác nghiệp của nhà báo nước ngoài, là thứ mà các phóng viên, chính phủ các nước và các tổ chức bênh vực cho nhà báo quốc tế có thể sử dụng như là một điểm quy chiếu để đánh giá việc thực hiện của Trung Quốc. Thế nhưng cho tới khi ông Jian Guangzhou và các nhà báo Trung Quốc khác có những quyền tương tự như các đồng nghiệp nước ngoài của họ, thì quyền tự do báo chí đích thực tại Trung Quốc vẫn còn là một chặng đường khá dài, và những vấn nạn về sức khỏe cộng đồng và những vấn đề khác của trong nước cùng mối quan tâm của quốc tế có lẽ vẫn tiếp tục trở thành nạn nhân từ sự kiểm duyệt của chính phủ.


Phelim Kine là một nhà nghiên cứu làm việc cho Tổ chức Giám sát Nhân quyền tại Á châu.


Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng